Bí ẩn về việc đảng Cộng-sản Việt-Nam
Lănh đạo nhà nước
cắt lănh thổ, lănh hải cho Trung-quốc

Bài nghiên cứu của
Yên-tử cư-sĩ TRẦN ĐẠI-SỸ


Các cơ quan truyền thông muốn phổ biến hay đưa lên Internet,
xin liên lạc với Thư Viện Việt Nam hoặc với tác giả, địa chỉ:

thuvienvietnam@tvvn.org
 

Thông cáo của viện Pháp-á . No 532-11-01

Viện trưởng viện Pháp-á trân trọng thông cáo.

Trích yếu: cung cấp tài liệu.

Kể từ ngày 10-11-2001, Gs Trần Đại-Sỹ , Giám-đốc Trung-quốc sự vụ cuả chúng tôi điều trần tại cơ quan X. (dấu tên) về vấn đề:

" Bí ẩn về việc đảng Cộng-sản Việt-Nam, lănh đạo nhà nước Cộng-ḥa Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam nhượng lănh hải, lănh thổ cho Cộng-ḥa nhân dân Trung-quốc"

Cho đến hôm nay (10-1-2002) chúng tôi đă nhận được:

_ 1723 thư do Bưu-điện chuyển.

_ 2431 E-mail (1124 về Institut.Franco-Asiatique@Wanadoo.fr, 532 về Trandaisy@Yahoo.fr, c̣n lại về TQJV).

Nội dung thư chia ra:

_ Nhiều nhất là xin h́nh, tài liệu bổ túc.

_ Thắt mắc.

_ Công kích.

_ Thảo luận.

_ Xin bản Hiệp-ước: Pháp kư với Thanh-triều 1887, bản Hiệp-định Hoa-Việt(1999 và 2000).

Chúng tôi xin nhắc lại, đây là một bài điều trần mật, cho thính chúng đều là những người có tŕnh độ kiến thức rất cao về chính trị Á-châu Thái-b́nh-dương. Đánh giá về độ chính xác của bản điều trần là các vị cử tọa hôm đó, và viện Pháp-á chịu trách nhiệm trước cơ quan X. Chúng tôi xin thưa:

_ Việc điều trần đă hoàn tất. Chúng tôi không cần tái thảo luận với bất cứ ai, v́ tối vô ích.

_ Cũng không cần nghe-đọc bất cứ mũi công kích nào.

_ Chúng tôi không có bổn phận phải cung cấp tài liệu, h́nh ảnh cho bất cứ đ̣i hỏi nào.

Chúng tôi đă yêu cầu Gs. Trần Đại-Sỹ cũng phải nghiêm chỉnh tuân theo nguyên tắc này.

Chúng tôi nhắc lại, bài viết của Gs. Trần Đại-Sỹ bằng tiếng Pháp. Văn pḥng của chúng tôi dịch sang các tiếng của CE: Anh, Đức, Ư, Na-uy, Thụy-điển, Đan-mạch, Ḥa-lan, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha để chuyển cho tất cả các vị cử tọa. Gs. Trần Đại-Sỹ e rằng những bản dịch không đúng ư của ḿnh, nên đă cẩn thận đính kèm các bản dịch trên bằng một bản tiếng Việt. Ông ghi chú:

"Thưa ngài...
Dưới đây là bản dịch từ tiếng Pháp sang tiếng của Ngài về bài điều trần của tôi. Tôi sợ rằng bản dịch có đôi điều không đúng với ư tôi. V́ vậy tôi xin đính kèm một bản tiếng Việt. Hiện khắp châu Âu, nơi nào cũng có trí thức gốc người Việt định cư. Vậy nếu Ngài có điều ǵ thắc mắc, xin trao bản tiếng Việt và tiếng nước Ngài, cho một người Việt, tại nước Ngài để so sánh. Như vậy sẽ không sợ bị hiểu lầm".

Nhưng khi một vài vị cử tọa, nhờ người Việt so sánh. Các vị (gốc VN) ấy bèn sao lấy một bản, rồi chuồn cho báo chí, cho Internet. Do đó có rất nhiều bản khác nhau, lại bị sai ư, hoặc bị cắt, hoặc bị thêm vào nhiều đoạn.

Sau khi biết rằng bản điều trần mật bị lộ, chúng tôi xin cơ quan X. cho phổ biến toàn văn. Bản phổ biến này Quư-vị có thể t́m đọc:

1. Bằng fonts VNI Tân-kỳ: http://www.Perso.wanadoo.fr/charite
Sau khi vào Charite, Quư-vị vào mục VIỆT-HOA, rồi t́m bài: Cắt lănh thổ, lănh hải cho Trung-quốc".

2. Bằng fonts unicode: http://www.Thuvienvietnam.com
Sau khi vào Thư Viện Việt Nam, Quư-vị vào diễn đàn Đông Phương, phần Lịch Sử Việt Nam, rồi t́m bài: Cắt lănh thổ, lănh hải cho Trung-quốc

Các cơ quan truyền thông muốn đăng lại, xin liên lạc với Thư-viện VN, tại Hoa-kỳ. Hoặc Gs. Trần Đại-Sỹ, địa chỉ dưới.

Bản thông cáo này thay cho thư trả lời riêng từng vị.

Trân trọng.
Giáo-sư Inge Pape VAREILLA.


Tăng Hồng Minh (dịch sang Việt-Ngữ)

Bài điều trần của
Giáo-sư TRẦN ĐẠI-SỸ
Giám đốc Trung-quốc sự vụ (IFA)




Về việc đảng Cộng-sản Việt-Nam Lănh đạo nhà nước cắt lănh thổ, lănh hải cho Trung-quốc


Dr. Trần Đại-Sỹ,
5, place Félix Éboué 75012 PARIS, FRANCE,
Tél. 33.1.43 07 51 46 hay 33.6 63 79 92 16.
E-mail1= Trandaisy@yahoo.fr
E-mail2= TQJV@Aol.fr

Bí ẩn về việc đảng Cộng-sản lănh đạo
nhà nước Việt-Nam nhượng lănh thổ, lănh hải cho Trung-quốc.

Giáo-sư Trần Đại-Sỹ


Lời giới thiệu của IFA, Trong mấy tháng gần đây, nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại đều rúng động v́ tin nhà nước hay nói đúng hơn là đảng Cộng-sản Việt-Nam đă nhượng lănh thổ, lănh hải cho Trung-quốc. Đau đớn nhất cho người Việt là địa danh lịch sử, đi vào tâm tư, là niềm tự hào của họ là cửa Nam-quan, suối Thiên-tuyền (Phi Khanh) nay đă ở trong lănh thổ Trung-quốc. Ngay cả hang Pak-bo, là thánh địa của đảng Cộng-sản, trước kia ở rất xa biên giới Hoa-Việt trên 50 km, nay đứng ở đây gần như nh́n vào lănh thổ Trung-quốc.

Trong suốt 25 năm qua Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, v́ kư khế ước làm việc với Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP) và Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (CMFC), trong đó có điều căn bản là "không được viết, được thuật những ǵ với báo chí về Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại. Không được tham gia các đoàn thể chính trị chống đối Trung-quốc, Việt-Nam"; nên không bao giờ ông tiết lộ bất cứ điều ǵ mắt thấy tai nghe trong những lần công tác tại Trung-quốc hay Việt-Nam. Tuy nhiên ông đă bị một cơ quan X (chúng tôi dấu tên) triệu hồi để điều trần về vụ này. Theo luật lệ hiện hành, mà Bác-sĩ Trần phải tuân theo. Rất mong các vị đứng đầu CEP-CMFC thông cảm với chúng tôi.

Lập trường của chúng tôi: dù theo cổ sử, dù theo khảo cổ, dù theo Quốc-tế công pháp th́ hai quần đảo Hoàng-sa, Tây-sa đều thuộc Việt-Nam. Trung-quốc chỉ mới nhảy vào ṿng tranh chấp khi được Thủ-tướng nước VNDCCH kư văn kiện nhượng cho năm 1958 mà thôi. C̣n Phi-luật-tân, Mă-lai càng không có một chút lư nào để đ̣i chủ quyền tại đây. Vấn đề quá rơ ràng, không cần bàn tới. Trong khi điều trần, Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ đă đứng trên quan điểm này.

Cuộc điều trần khá dài, nên Bác-sĩ Trần ngắt ra thành từng đoạn, để cử tọa đặt câu hỏi. V́ cử tọa là những người có kiến thức rất rộng, rất cao về vùng Á-châu, do thế Bác-sĩ Trần không đi vào chi tiết. Sau cuộc điều trần, chúng tôi đă xin phép phổ biến giới hạn (không phổ biến thắc mắc của cử tọa). Măi tới hôm nay chúng tôi mới được phép phổ biến toàn văn, cũng như những câu hỏi, câu trả lời (trừ câu hỏi hỏi số 1-2-7-11). Bản văn này phủ nhận các bản băn trước. V́ bảo mật, chúng tôi, cũng như Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ không trả lời bằng thư, bằng điện thoại, bằng E-Mail, cũng như không thể thỏa măn tất cả những đ̣i hỏi thêm về chi tiết, nguồn gốc tài liệu, h́nh ảnh của bất cứ ai (IFA)


 




Kính thưa Ngài ...
Kính thưa Quư Ngài...
Kính thưa ông Giám-đốc...
Kính thưa Quư-liệt-vị,


Thực là hân hạnh, khi mới ngày 17-3 vừa qua, chúng tôi được cử đến đây để tŕnh bầy những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á-châu Thái-b́nh dương. Hôm nay chúng tôi lại được gửi tới tŕnh bầy về diễn biến trong vụ việc chính phủ Cộng-ḥa Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN) cắt nhượng lănh thổ, lănh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-ḥa quốc (THNDCHQ), gọi tắt là Trung-quốc. Đây là một việc cực kỳ tế nhị, cực kỳ khó khăn cho tôi, làm thế nào giữ được tính chất vô tư. V́:

_ Thứ nhất, tôi gốc là người Việt, hơn nữa thuộc gịng dơi một vị Vương đứng hàng đầu trong lịch sử Việt, v́ ngài thắng Mông-cổ liên tiếp trong ba lần, vào thế kỷ thứ 13. Mà nay tôi phải nói về những người đem lănh thổ Việt nhượng cho Trung-quốc, khó mà diễn tả lời lẽ vô tư cho được.

_ Thứ nh́, ngoài chức vụ giáo-sư Y-khoa ra, tôi là một tiểu thuyết gia, đă viết trên mười bốn ngh́n trang, thuật huân công của các anh hùng tộc Việt trong việc dựng nước, giữ nước. Mà suốt trong năm ngh́n năm lịch sử, chỉ duy năm 1540, giặc Mạc Dăng-Dung cắt đất dâng cho triều Minh của Trung-quốc; bị tộc Việt đời đời nguyền rủa. Vậy mà nay phải chứng kiến tận mắt lănh thổ Việt bị cắt cho Trung-quốc.

_ Thứ ba, các sinh viên Việt-Nam muốn du học Pháp, thường bị vài tổ chức đ̣i phí khoản 20 ngh́n USD mỗi đầu người. Một vị Đại-sứ của Việt-Nam tại châu Âu, mời tôi về nước, (tất cả chi phí do tiền của IFA) để giúp sinh viên Việt-Nam du học Pháp. Với sự hướng dẫn của tôi, từ nay sinh viên muốn du học Pháp, họ đă biết rất rơ những ǵ phải làm, những ǵ phải chứng minh. Họ không phải tốn một đồng nào cả. Thế nhưng khi trở về Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân-sơn-nhất, tôi bị ba sĩ quan cao cấp của Công-an chờ sẵn, hạch sách, khám xét trong hoảng 98 phút, bằng những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi cho đây là một h́nh thức khủng bố, khủng bố tôi, và khủng bố cả người bạn tôi đang là một Đại-sứ của VN, đă mời tôi. Ông Đại-sứ này được Quư-vị kính trọng về tư cách và về kiến thức . Thưa Quư-vị, hôm đó tôi chỉ cười nhạt, khinh rẻ, v́ tôi biết rất rơ kiến thức, mục đích của họ. Trong khi họ không đủ khả năng bịa ra bất cứ tội ǵ để kết tội tôi. Hơn nữa tôi giữ trong tay một ủy nhiệm thư, theo Công-pháp Quốc-tế, họ không thể công khai vị phạm.(1)

(1), Trong lần về Việt-Nam này, chúng tôi thuê xe đi Lạng-sơn. Khi tới trạm biên giới mới, chúng tôi xin sang lănh thổ Trung-quốc mới (Nam-quan cũ) th́ bị Công-an Việt-Nam từ chối. Chúng tôi đặt vấn đề: Chúng tôi mang thông hành Liên Âu, có visa hợp pháp vào Việt-Nam, th́ chúng tôi có quyền ra khỏi Việt-Nam chứ? Công-an cửa khẩu trả lời rằng: Ông có visa ra vào cửa khẩu Tân-sơn-nhất, Nội-bài, chứ không có quyền rời Việt-Nam bằng cửa Hữu-nghị. Chúng tôi xin chụp h́nh cửa khẩu mơí, th́ họ không cho. Chúng tôi đành trở về, rời Tân-sơn-nhất, đi Quảng-châu. Từ Quảng-châu đi Nam-ninh. Từ Nam-ninh thuê xe tới Bằng-tường là đất Trung-quốc đối diện với Nam-quan. Rồi vào Nam-quan cũ. Đứng trước vùng đất thiêng của tổ tiên, nay vĩnh viễn trở thành đất của người. Tự nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan Công-an Trung-quốc tưởng tôi là người Hoa. Anh ta hỏi:

_ Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp ḿnh dạy bọn Nam-man bài học à?

Tôi lắc đầu, khóc tiếp. Anh an ủi:

_ Thôi, người thân của Tiên-sinh đă hy sinh dưới cờ thực, nhưng nay bọn Nam-man đă dâng đất này tạ tội rồi. Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiều.

Tôi kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh Công-an bỏ mặc tôi. Khóc chán, tôi trở sang Bằng-tường, kiếm một cơ sở mai táng ( xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữ Hán xin phiên âm như sau:

Hận Nam-quan.

1.Thử địa cựu Nam-quan,
2.Biên ải ngă cố hương.
3.Kim thuộc Trung-quốc thổ,
4.Khấp, khốc, kư đoạn trường.

5.Lê Hoàn bại Quang-Nghĩa,
6.Thường Kiệt truy Bắc phương,
7.Hưng Đạo đại sát Đát,
8.Lê Lợi trảm Vương Thông.

9.Nam xâm, Càn-Long nhục,
10.Gươm hồng Bắc-b́nh vương.
11.Ngũ thiên niên dĩ tải,
12.Hoa, Việt lập dịch trường.

13.Mao, Hồ t́nh hữu nghị,
14.Nam, Bắc thần xỉ thương,
15.Huyết lệ vạn dân cốt,
16.Hồng-kỳ thích ô hoang.

Đại-Việt vong quốc nhân Trần Đại-Sỹ
Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001

Tôi đem tảng đá này, gắn vào một vách núi ngay cạnh đường, trên độ cao khoảng 2-3m. Công-an, cán bộ Trung-quốc xúm lại xem. Nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ư trong thơ mà thôi. Xin tạm dịch:

1.(Đất này xưa gọi Nam-quan,)
2.(Vốn là biên địa cố hương của ḿnh.)
3.(Hiện nay là đất Trung-nguyên,)
4. ( Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay?)
5.(Vua Lê thắng Tống chỗ này,)
6.( Thường Kiệt rượt Tiết cả ngày lẫn đêm,)
7.(Thánh Trần sát Đát liên miên,)
8.( Lê Lợi giết bọn Thành-sơn bên đồi,)
9.(Càn-Long chinh tiễu than ôi,)
10.(Quang-Trung truy sát muôn đời khó quên.)

11.(Năm ngh́n năm cũ qua rồi,)
12.(Chợ biên giới lập, đời đời Việt-Hoa.)
13.(Ông Hồ kết bạn ông Mao,)
14.(Sao răng lại cắn, máu trào môi sưng.)
15. ( Vạn dân xương trắng đầy đồng,)
16. ( Để lại trên lá cờ Hồng vết nhơ.)
(Người nước Đại-Việt vong quốc tên Trần Đại-Sỹ,
khóc đề ngày 6 tháng 9 năm 2001)

Câu 5,. Vua Tống Triệu Quang-Nghĩa sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng sang đanh VN, bị vua Lê (Hoàn) đánh bại.

Câu 6, Năm 1076, vua Tống Thần-tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang đánh Đại-Việt, bị Thái-úy Lư Thường Kiệt đánh đuổi.

Câu 8, Tước của Vương Thông là Thánh-sơn hầu.

Câu 10, Vua Quang-Trung c̣n có tước phong là Bắc-b́nh vương.

Câu 14, Hồi 1947-1969 Chủ-tịch Trung-quốc là Mao Trạch Đông, Chủ-tịch Việt-Nam là Hồ Chí Minh kết thân với nhau. Việt-Hoa ví như răng với môi. V́ sợ môi hở răng lạnh nên ông Mao phải giúp ông Hồ. Năm 1978, Đặng Tiểu B́nh đem quân tàn phá các tỉnh biên giới phía Bắc Việt-Nam, nên người ta đổi câu trên thành: Răng cắn môi máu chảy ṛng ṛng.

Hôm ấy (6-9-2001) tôi chợt nhớ một chuyện, mấy năm trước, mỗi khi qua đây tôi đều t́m đến suối Phi-Khanh, múc nước cho vào bầu, v́ sợ nước nhiễm trùng, tôi dùng thuốc Hydroclonasozone sát trùng, rồi uống để tưởng nhớ hiếu tử Nguyễn Trăi, theo tiễn cha tại đây.

Tôi ḷ ṃ đến suối Phi-Khanh. Ngọn suối Phi-Khanh này không xa Nam-quan làm bao, không nổi tiếng bằng Ải Nam-quan, nhưng đối với dân địa phương th́ lại là một vùng đất linh của lịch sử. Nh́n thấy suối Phi-Khanh bây giờ thuộc Trung-quốc, tôi khóc như một gă điên. Anh sĩ quan Công-an nói với nhân viên phụ trách quan thuế:

_ Tội nghiệp cho vị tiên sinh này! Chắc con của ông ấy tử trận trong lần ḿnh dạy tụi Nam-man bài học! Ông ấy thương tâm quá rồi. Cứ để ông ấy khóc cho vơi sầu.

Tôi nghe anh ta nói, lại khóc to hơn. Cái suối Phi-Khanh này ra sao?

Câu chuyện suối Phi-Khanh như thế này:

Nhà Minh lấy cớ giặc Hồ Quư Ly cướp ngôi vua Trần (1400), sai bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh sang đánh (1406). Thăng-long( Đông-đô) thất thủ, rồi Tây-đô (Thanh-hóa) cũng thất thủ. Cha con giặc Hồ chạy đến cửa biển Ky-la. Có một lăo ông ra bái yết nói:

"Chỗ này tên Ky Lê, trên núi có động Thiên-cầm; đều là điềm không tốt, xin đừng lưu ở đây".

Hai cha con họ Hồ giết ông lăo ấy, rồi quả nhiên bị bắt.

Chữ Ky có nghĩa là trói, buộc. Nguyên tổ tiên Hồ Quư Ly là con nuôi ông Lê Huấn, mới đổi ra họ Lê. Nay gặp cửa Ky Lê nghĩa là trói bọn Lê. C̣n hang Thiên-cầm th́ Thiên là trời, cầm là đàn. Cái hang này khi gió thổi vào tạo thành âm thanh như tiếng đàn. Nhưng ông lăo đó khuyên Hồ Quư Ly rời đi v́ cầm tuy viết khác, nhưng cùng âm với cầm là bắt. Hang Thiên-cầm nghĩa là hang trời bắt.

Tháng 6 năm Đinh Hợi, 1407, Trương Phụ sai Hoành-hải tướng quân Lỗ Bân, Đô-đốc thiêm-sự Liễu Thăng bắt giải Quư-Ly, Hán Thương, Nguyên Trừng, Triệt, Uông, cháu là Nhuế, Mỗ, Phạm, em là Quư-Tỳ; con Quư-Tỳ là Vô Cữu, ngụy tướng quân Hồ Đỗ, Đoàn Bồng; ngụy Hành-khiển Nguyễn Nghiện Quang, Lê Cảnh Kỳ, Nguyễn Phi Khanh sang Kim-lăng.

(Thời c̣n niên thiếu, nho sinh Nguyễn Phi Khanh được quan Tư-đồ Trần Nguyên-Đán tuyển làm gia sư cho các con. Trong các con của quan Tư-đồ có cô Trần Thị Thái đang tuổi dậy th́. Lửa Phi-Khanh gần rơm Thái th́ phải bén là lẽ thường. Thế rồi cô Trần Thị Thái mang bầu. Nho sinh Phi-Khanh sợ tội bỏ trốn. Quan Tư-đồ sai người đi bắt về, rồi gả con gái cho. Bà Thái ông Khanh sinh ra Nguyễn Trải. Thời thơ ấu Nguyễn Trăi được ông ngoại yêu thương dạy dỗ tận t́nh hơn tất cả các cháu. Sau khi giặc Hồ Quư-Ly cướp ngôi nhà Trần, Nguyễn Phi Khanh ứng thí, rồi được bổ làm quan).

Nguyễn Trăi thương xót cha, đi theo đoàn tù binh để phụng dưỡng. Lúc tới Nam-quan th́ quan nhà Minh đuổi những người theo tiễn sang Trung-quốc trở lại. Cha con khóc lóc tiễn biệt nhau, Phi-Khanh khuyên con hăy trở về lo phục quốc. Tương truyền, b́nh nước Nguyễn Trăi mang theo để cho cha uống đă hết, tại cửa ải không t́m đâu ra nước, ông lang thang vào băi cỏ bên đường, ngửa mặt nh́n trời, rồi khấn:
" Nếu trời xanh chưa nỡ hại nước Việt tôi, cho tôi đuổi được giặc, phục hồi cố thổ th́ xin cho tôi bầu nước tiễn cha".

Uất khí bốc lên ông dậm chân, th́ dưới chân vọt ra một nguồn nước. Ông uống nước đó, rồi hứng đầy bầu dâng cho cha. Từ đấy dân Nam-quan gọi suối ấy là suối Phi-Khanh. Khi vụ án Lệ-chi viên xẩy ra, Nguyễn Trăi bị tru di tam tộc, th́ suối ấy đổi tên là Thiên-tuyền. Rồi khi vụ án được vua Lê Thánh-tông giải oan, suối ấy lại mang tên Phi-Khanh truyền đến nay. Suối không đẹp, lưu lượng chảy cũng không nhiều. Trong lần đi công tác cho CEP, mục đích t́m các nguồn suối khai thác nước uống, tôi có lấy tại đây ngày 14-8-1993 một b́nh 2 lít vào 15 giờ, đem về phân tích, th́ thành phần như sau:

Tính theo mg/l
Calcium 284
Magnésium 78
Sodium 10,6
Potassium 3,5
Sulfate 1172
Hydrogénocarbonate 410
Chlorure 12
Nitrate 3,2

Không thấy có vi trùng, hay độc chất.

Bất cứ một Bác-sĩ dù ở trong hay ngoài nước, đều thấy rằng đây là thành phần lư tưởng, dùng làm nước uống rất tốt cho sức khỏe. Nhưng v́ luật lệ Việt-Nam quá rắc rối, lại chạm phải bức tường tham nhũng, nên công ty nước khoáng Pháp bỏ không khai thác.

Giờ đây, tôi đứng lặng nh́n suối. Tôi đổ chai nước khoáng 2 lit, c̣n một nửa đi, rồi múc nước suối Phi-Khanh vào chai, sau đó sát trùng bằng thuốc Hydroclonazonne (Tosylchloramide sodique hay chloramine). Lại múc một ly uống sống, quên cả sát trùng! Bấy giờ là mùa Ngâu, nước suối trong, tràn đầy. Sao mà nước ngon thế, hơn cả Evian, Contrex, Volvic của Pháp là những nước khoáng ngon nhất thế giới. Suối vẫn c̣n đây! Phi-Khanh ở đâu? Nguyễn Trăi ở đâu? Trên không mây vẫn bay, sương mờ vẫn giăng trên núi, nước vẫn chảy. Nhưng đất đă đổi chủ. Tôi cảm ứng cầm bút vạch trên tảng đá bài thơ cổ phong (quá buồn tôi làm thơ, để bầy tỏ sự đau đớn, chứ tôi không phải là thi sĩ), rồi lại trở sang Bằng-tường khắc bài thơ lên mảnh granite, và gắn lên tảng đá trong vách núi gần suối. Bài thơ như sau:

Ẩm Phi-Khanh tuyền.

1. Ngụy Hồ thất nhân tâm,
2. Minh xử Trương Phụ xâm.
3. Nhị đô giai thất thủ,
4. Quân, thần nhục Thiên-cầm.

5. Thử địa Ức Trai thệ,
6. Uất khí biệt phụ thân,
7 Nam-quan khốc tống biệt,
8. Thiên tứ nhất linh tuyền.

9. Lục bách niên vân tải,
10. Dân Việt tưởng anh huân,
11. Kim thuộc Trung-quốc thổ,
12. Ẩm thủy thương ngă tâm.

Đại-Việt, vong quốc nhân Trần Đại-Sỹ,
Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001.

Tạm dịch:

Giặc Hồ làm mất dân tâm,
Minh sai Trương Phụ đem quân đánh ḿnh,
Quân thua thất thủ hai kinh,
Vua tôi bị bắt ở quanh Thiên-cầm.

Ức-Trai hiếu tử tiễn cha,
Nam-quan thề quyết không tha giặc trời.
Hay đâu linh khí muôn đời,
Phun ra ngọn suối, tuôn hoài nước thiêng.

Sáu trăm năm cũ ai quên,
Đại công quét sạch giặc Minh chỗ này.
Bây giờ, suối vẫn c̣n đây,
Đau ḷng v́ suối đă thay chủ rồi.

(Người nước Đại-Việt vong quốc tên Trần Đại-Sỹ,
khóc đề ngày 6 tháng 9 năm 2001)

_ Tháng 9 vừa qua, Đảng Cộng-sản Việt-Nam liệt tôi vào danh sách 80 người phản động nhất, v́ năm 1997 tôi đă viết một bài tiết lộ những chi tiết tuyệt mật về cuộc viếng thăm Trung-quốc của Tổng Bí-thư Đỗ Mười, Thủ-tướng Vơ Văn-Kiệt. Nhất là cuộc họp mật của hai nhân vật này với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân. Tôi viết dưới h́nh thức hai hước cho tờ báo Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, USA , số Xuân 1998. Nội dung của bài đó là một phần bài thuyết tŕnh của tôi với Quư-vị cuối năm 1997. Như Quư-vị biết về Cộng-sản, khi họ kết tội ai phản động, có nghĩa là toàn đảng phải dùng hết khả năng tiêu trừ người ấy.(2)

(2), Tôi không tin chỉ với bài này mà họ kết tội tôi nặng như vậy. Tôi biết rất rơ ai chủ trương, ai kết tội tôi. Nhưng tôi chưa muốn nói ra. Trong bài viết trên, tôi đă tiết lộ những điều tuyệt mật về cuộc hội đàm, khiến họ sợ hăi mà thôi. Điều tuyệt mật đó là vụ: ông Lê Đức-Anh bị Trung-quốc đánh thuốc độc, bị bán thân bất toại. Rồi cũng do Trung-quốc trị cho. Nay tôi tiết lộ thêm, những vụ đầu độc cùng một phương pháp:

_ Một kư giả Việt tên Tô Văn, thuộc loại nghiện hút, vô tư cách, thường được gọi là Cậu-chó. Ông ta từ Hoa-kỳ sang Pháp, theo tên Trương Như Tảng, cùng kéo nhau sang Bắc-kinh, định dâng Việt-Nam cho Trung-quốc (Nhưng Tảng không cho ông đi). Trung-quốc biết là bọn lưu manh không nhận, bọn họ trở về nói láo được Trung-quốc chi 4 tỷ đô la để đánh VC! Ít lâu sauTô Văn được bán thân bất toại để bảo mật.

_ Ông Lê QT, một lănh tụ kháng chiến có thực lực. Lực lượng kháng chiến này do Trung-quốc yểm trợ. Sau ông có ư ly khai Trung-quốc. Ông đang ở tuổi trẻ, không bệnh tật, (ông không hề bị huyết áp cao, đái đường cũng như mỡ cao trong máu), ông cũng bị đột quỵ, tai biến mạch máu năo, rồi được Trung-quốc trị khỏi. Sau đo ít lâu, ông từ trần đột ngột khi ăn cơm tại một nhà hàng nhỏ ở ngoại ô Paris.

_ Trong kỳ đại hội 8, giữa đại hội, ông Lê Mai, Bộ-trưởng Ngoại-giao, ông Đào Duy-Tùng ứng viên Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản cũng bị hạ độc bằng cùng một phương thức. Nhưng tôi không biết ai đă làm công việc đó.

_ Gần đây nhất một Bác-sĩ Việt-Nam, tỵ nạn tại Pháp, từng dính dáng với nhóm Trương Như Tảng. Sau đó đă tỵ nạn lần thứ nh́ sang Canada, năm trước đây (2000), nghe tin Bác-sĩ Dương Quỳnh-Hoa từ Việt-Nam qua Pháp. Ông lén từ Canada sang Paris gặp bà này, mưu kiếm ít xôi thịt từ Bắc-kinh. Khi trở về Canada, ông cũng bị đột quỵ và tiêu dao miền Cực-lạc.

Tôi chỉ cử mấy tỷ dụ, nếu tính tất cả những người Việt bị giết bằng phương pháp này, lên tới con số 37!

Ngắt đoạn 1,

Có 2 câu đánh số 1-2, hỏi về những nhân vật bị đầu độc, loại thuốc đầu độc. Không phổ biến.

Kính thưa Quư-vị:

Tuy tôi đă tuyên thệ tại đây hồi tháng ba vừa qua. Nhưng hôm nay tôi xin tuyên thệ một lần nữa:

" Tôi xin tuyên thệ với tất cả danh dự của tôi rằng: Tôi không thù, không ghét những người tại Việt-Nam họ đă nộp lănh hải, lănh thổ cho Trung-quốc. Tôi cũng không v́ ḷng yêu nước Việt mà oán ghét họ. Tôi không hận những người Việt chủ trương khủng bố tôi khi họ mời tôi về Việt-Nam giúp đỡ họ. Những lời tôi tŕnh bày hôm nay hoàn toàn vô tư".

1. Những tranh chấp biến giới trong quá khứ,

Trước hết tôi xin tŕnh bày một vài nét về tranh chấp lănh thổ Việt-Hoa trong quá khứ gần đây nhất:

_ Trong thời gian từ 1010 đến 1225, dưới triều Lư, bên Trung-quốc là triều Tống. Đại-Việt là nước nhỏ, hằng năm phải tiến cống Trung-quốc một số sản vật tượng trưng: Voi, ngà voi, hương liệu, đôi khi một vài vật dụng bằng vàng, bạc. Trong thời gian trên, trước sau có 18 lần đụng độ, tranh chấp biên giới. Trong 18 lần đó, có sáu lần quân Việt vượt biên đánh sang Trung-quốc. Quan trọng nhất là cuộc tiến quân năm 1075-1076, quân Việt tiến tới vùng thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quư-châu, Hồ-Nam hiện thời. Sau đó Trung-quốc mang 40 vạn quân và 50 vạn dân phu sang trả thù. Quân Trung-quốc đă tiến chiếm lănh thổ Đại-Việt tới cách thủ đô Thăng-long (Hà-nội) có 25 cây số, rồi bị đánh bật về biên giới.

Về việc đánh Tống có sáu lần, th́ trong đó có năm lần đánh sang lănh thổ Trung-quốc và một lần kháng chiến chống quân Tống xâm-lăng.

1.1, Lần thứ nhất,

Năm 1022, do vua Lư Thái-tổ ban chỉ, Khai-Thiên vương tổng chỉ huy, đánh sang trại Như-hồng của Tống đốt kho đụn rồi rút về. Cuộc xuất chinh để trừng phạt quân Tống tại đây thường vượt biên sang trấn Triều-dương của Đại-Việt cướp bóc. Trấn Triều-dương nay thuộc tỉnh Hạ-long. Trại Như-hồng thuộc Quảng-Tây Nam-lộ. Đại-Việt toàn thắng. Cuộc chiến tranh có tính cách trừng phạt một khê-động. Tống triều im lặng.

1.2, Lần thứ nh́,

Năm 1028, tướng Tống là Lư Tự đem quân vượt biên, cướp phá trên lănh thổ Việt. Việt ra quân đánh tràn sang châu Thất-nguyên của Tống. Cuộc ra quân do Khai-Quốc vương lănh đạo, tổng chỉ huy là công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Ḥa và pḥ-mă Thân Thừa-Quư. Mục đích chiếm lại mấy châu động đă mất về Tống, do các biên thần Tống chủ trương. Giết chết Lư Tự. Toàn thắng. Cuộc chiến có tính cách tự vệ, dằn mặt các biên thần Quảng-Tây. Tống triều không chủ trương.

1.3, Lần thứ ba,

Dưới thời vua Thái-tông, do Khai-Quốc vương lănh đạo (1053), mục đích chiếm lại lănh thổ thời vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng, bị người Hán chiếm mất (Nay thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam, Quư-châu, Hồ-Nam), rồi đẩy dân Việt về sống ở vùng Bắc-cương thành 207 trang-động. Cuộc khởi binh thành công, đưa Nùng Trí-Cao lên làm vua, lấy lănh thổ vùng Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quư-châu lập thành nước Đại-Nam. Cuộc ra quân này, đă tôi đă thuật chi tiết trong bộ Anh-linh thần vơ tộc Việt. Nhưng khi Nùng Trí-Cao thành công, y lại trở mặt với Đại-Việt. Nên khi quân Tống đánh Cao, Đại-Việt không tiếp cứu, Cao bị bại. Cuộc chiến tranh có tính cách toàn diện. Đại-Việt không ra mặt khai chiến với Tống. Tống biết, nhưng không dám trả thù.

1.4, Lần thứ tư,

Cũng do Khai-Quốc vương lănh đạo, diễn ra dưới thời vua Thánh-tông. Vùng tấn công là Khâm-châu. Người tổng chỉ huy là công-chúa B́nh-Dương với pḥ mă Thân Thiệu-Thái (1059-1060). Mục đích cuộc Bắc phạt này là chiếm lại một số trang động do các bộ tộc thiểu số tự trị; bị Tống lấn chiếm, hoặc chiêu dụ các động chủ phản Việt, đem cả đất lẫn dân theo Tống. Sau khi chiếm lại các trang đă mất, trả đất cho các tộc bị mất, quân Việt tiến sâu vào vùng Tả-giang, Hữu-giang, chiếm hơn mười ải, giết nhiều tướng Tống. Tống cực kỳ phẫn uất, nhiều đại thần khuyên vua Tống Nhân-tông đem quân sang đánh Đại-Việt để trừng phạt; nhân đó chiếm nước đặt làm quận huyện. Ngặt v́ bấy giờ phía Tây, Tống đang mắc họa với Hạ, phía Bắc th́ Liêu chiếm đất, đ̣i cống vàng lụa; vả vua Tống cũng sợ binh hùng tướng mạnh của Đại-Việt, nên bàn ḥa. Công-chúa B́nh-Dương đ̣i nhiều điều kiện khắt khe mới chịu rút quân. Tống cũng phải nhượng. Thắng toàn diện. Chiến công oanh liệt trên thuật trong bộ Nam-quốc sơn-hà. Đến đây chiến cuộc leo thang. Đại-Việt ra mặt khai chiến với Tống, nhưng để cho công chúa B́nh-Dương, pḥ-mă Thân Thiệu-Thái làm.

1.5, Lần thứ năm,

Diễn ra dưới thời vua Nhân-tông vào năm 1075, bấy giờ vua mới chín tuổi, Linh-Nhân hoàng thái hậu phụ chính. Vua c̣n thơ, chư sự lớn nhỏ đều do Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định. Nguyên do: Vua Tống Thần-tông dùng những cải cách về kinh-tế, nông-nghiệp, binh-bị, tài-chánh của Vương An-Thạch từ năm 1066, đă được chín năm, khiến binh lực trở thành hùng hậu, quốc-sản sung túc. Nhà vua muốn nhân đó tiến quân lên Bắc đánh Liêu, chiếm lại đất cũ, để rửa nhục. Nhưng Vương An-Thạch lại khuyên nên đánh Đại-Việt trước. Sau khi bại Đại-Việt, th́ Chiêm-thành, Chân-lạp, Ai-lao, Xiêm-la, Đại-lư phải quy hàng. Bấy giờ dùng nhân lực, tài lực sáu nước, đem lên Bắc, th́ thắng Liêu dễ dàng. Vua nghe theo, bí mật cho các châu Nam biên luyện binh, tích trữ lương thảo. Cuộc chuẩn bị được ba năm, th́ bị Đại-Việt biết được. Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định: Ngồi yên đợi giặc, sao bằng ḿnh ra tay trước. Mục đích cuộc hành quân là phá hết các kho lương thảo, vũ khí, thành tŕ, cầu cống, diệt các đạo quân mới huấn luyện của Nam thùy Tống. Thế là cuộc Bắc phạt nổ ra vào cuối năm 1075. Quân Việt tiến đánh 18 ải dọc biên thùy Tống, rồi công phá các châu Khâm, Liêm, Ung, Dung, Nghi, Bạch, cùng diệt viện quân ở núi Đại-giáp (Nay thuộc lănh thổ Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quư-châu, Hồ-Nam). Nhiệm vụ chu toàn rồi, quân Việt rút về. Thắng toàn diện. Đến đây Đại-Việt ra mặt khai chiến với Tống. Cả hai bên cùng đem toàn lực ra đối phó với nhau.

Cuộc ra quân của Việt lần này quá lớn lao, phá nát kế hoạch cải cách của Tống ở Giang-Nam. Quá uất hận, Tống chịu nhục; nhường Hạ ở phía Tây, cắt đất dâng cho Liêu ở phương Bắc... để cho rảnh tay, rồi họ mang quân nghiêng nước sang định chiếm Đại-Việt đặt làm quận huyện (1076-1077). Nhưng Tống lại bị thất bại phải rút quân về, và chịu ḥa. Người có hùng tâm, tráng-chí, lănh đạo là một thiếu phụ ở tuổi ba mươi, đó là Linh-Nhân hoàng thái hậu (Ỷ-Lan). C̣n người Tổng chỉ huy cuộc vượt biên Bắc phạt là Lư Thường-Kiệt, Tôn Đản, Lư Hoằng-Chân, Lư Chiêu-Văn, Lư Kế-Nguyên. Tôi đă thuật trong bộ Nam-quốc sơn hà.

1.6, Lần thứ sáu,

Sau cuộc Bắc phạt, và giữa lúc cuộc kháng Tống của Đại-Việt, chiến cuộc đang diễn ra cực kỳ khốc liệt (1076), Vương An-Thạch bị cách chức Tể-tướng, giáng xuống tri Giang-ninh phủ, lĩnh Trấn-Nam quân tiết độ sứ, Đồng-b́nh chương-sự. Lúc Vương độ giang, bị một nhân sĩ bắt con sâu bỏ lên xe rồi làm bài thơ mỉa mai như sau:

Thanh-miêu, trợ-dịch lưỡng phương nông,
Thiên hạ ngao ngao oán tướng công.
Độc hữu hoàng trùng thiên cảm đức,
Hữu tùy xa giá, quá Giang-Đông.

Dịch :

Thanh-miêu trợ dịch hại canh nông,
Thiên hạ nhao nhao oán tướng công.
Chỉ có sâu vàng theo tiễn biệt,
Cùng trên xa giá, quá Giang-Đông.

Có người ví cái thất bại của Vương An-Thạch cũng đau đớn như cái thất bại của Hạng Vơ xưa, khuyên Thạch nên tự tử:

Khi Hạng-Vương mưu đuổi hươu ở Trung-nguyên, bị thất bại, lui về Nam; lúc qua sông này tự cảm thấy xấu hổ, đă tự tử, mà hậu thế kính phục. Tôi khuyên ông cũng nên tự tử để lưu danh muôn thủa.

Nhưng Thạch không đủ can đảm.

Tiếc thay, một cuộc cải cách về kinh-tế, binh-bị, tài-chánh, xă-hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ; bị tan vỡ, bị hủy bỏ chỉ v́ tham vọng đánh Đại-Việt của Vương An-Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xă hội Trung-quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, th́ Trung-quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng muôn đời mặt trời vẫn ở phương Đông, chứ không ngả về Tây như hồi thế kỷ thứ 18 cho đến nay và bao giờ..???...???

Sau cuộc ra quân của Đại-Việt, trên từ vua Tống Thần-tông cho tới các quan đều uất hận. Tống xuất quân nghiêng nước, 40 vạn binh, 50 vạn dân phu (phụ lực quân) sang đánh trả thù (1066-1067). Nhưng khi quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ tiến đến cách Thăng-long 50 dặm (25 cây số) th́ bị đánh bật về Bắc. Sau đó Tống rút quân chịu ḥa.

Tuy Tống chịu ḥa, nhưng c̣n giữ của Đại-Việt các châu Quảng-nguyên, Tô-mậu mà bọn động trưởng Lưu Kỷ, Vi Thủ-An đem cả dân lẫn đất theo Tống. Quan trọng nhất là châu Quảng-nguyên có mỏ vàng. Năm 1078, Việt sai sứ sang Tống đ̣i đất. Tống không trả. Măi năm 1081, Việt trả tù binh trong trận 1075-1077, Tống mới trả châu Quảng-nguyên. Năm 1084, Việt sai Binh-bộ thị-lang Lê Văn Thịnh (Thị lang tương đương với ngày nay là một giám-đốc) nghị ḥa với các đại thần Tống, Tống chịu trả cho Việt thêm 6 huyện, 3 động. Việt tặng Tống con voi lớn. Danh sĩ Trung-quốc nhân chuyện này làm thơ than:

Nhân tham Giao-chỉ tượng,
Khước thất Quảng-nguyên kim.
(V́ tham voi Giao-chỉ,
Chịu mất vàng Quảng-nguyên).

2. Vụ nhượng đất duy nhất trong lịch sử

_ Trong suốt thời gian từ 1010 đến 1539, ngoại giao Việt-Hoa khi đẹp, khi xấu. Hai bên xẩy ra nhiều cuộc chiến, chính sự Đại-Việt khi thịnh, khi suy, nhưng phía Việt chỉ chịu cống Trung-quốc một số sản phẩm tượng trưng, chứ không bao giờ nhượng đất, nhượng dân.

_ Cho đến năm 1540, giặc Mạc Đăng-Dung cướp ngôi nhà Lê, nhà Minh sai tướng Mao Bá Ôn, Cừu Loan đem 22 vạn quân tới biên giới lấy lư do Hưng diệt kế tuyệt (trung hưng triều Lê bị diệt, dựng lại ḍng họ Lê bị tuyệt). Mạc Đăng-Dung đem một số tùy tùng lên ải Nam-quan, tự trói ḿnh sang Trung-quốc, quỳ lạy các tướng Minh, xin đầu hàng, chịu lệ thuộc Minh, dâng nộp sổ sách về đất đai, quân dân, quan chức. Lại cũng dâng các động Tê-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát, An-lương, La-phù. Đây là lần duy nhất trong lịch sử Việt, mà bọn Mạc cắt đất cho Trung-quốc. Suốt từ năm 1540 cho đến nay, sử sách, cùng tất cả người Việt đều nguyền rủa Mạc Đăng-Dung bằng tất cả những lời lẽ nặng nề nhất. Tuy Mạc dâng đất cho Trung-quốc, nhưng vẫn giữ lại cửa ải Nam-quan, làm ranh giới giữa Hoa-Việt.

Về vụ việc này sách Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục (KĐVSTGCM), phần Chính-biên, quyển 27 chép:

Canh Tư, năm thứ 8 (1540). (Mạc, năm Đại-Chính thứ... Minh, năm Gia-Tĩnh thứ 19)
...
Tháng 11, mùa đông, Mao Bá Ôn nhà Minh đóng quân ở ngoài cửa ải. Mạc Đăng-Dung đến cửa quân tướng Minh, xin hàng và đem đất 5 động hối lộ nhà Minh.

Trước kia, tướng Minh là bọn Cừu Loan và Mao Bá-Ôn đă đến Quảng-tây, trưng tập các lang binh của thổ quan ở các tỉnh Lưỡng-Quảng, Phúc-kiến và Hồ-quảng. Lại truyền hịch đi Vân-nam sai tập họp binh lính, để chờ đợi nhật kỳ xuất quân.

Bọn Cừu Loan lại bàn:

"Chia chính binh làm ba đội tiểu binh, từ Quảng-tây đi các xứ Bằng-tường, Long-châu và Tư-minh.

Chia kỳ-binh làm hai toán tiểu binh: Toán xuất phát từ châu Quy-thuận gọi là Sơn-tiểu, toán xuất phát từ núi Ô-lôi gọi là Hải-tiểu.

Kể cả chính binh và kỳ binh trên đây cộng 22 (ChbXXVII, 32) vạn người.

Lại chia quân Vân-nam ở ghềnh Liên-hoa làm ba toán Tiểu binh, mỗi toán gồm 21.000 người. Tất cả đều lên đường đồng thời xuất phát".

Lại truyền hịch sang ta dụ bảo về nghĩa phục hưng nước đă mất, nối lại ḍng họ đă tuyệt, sự đánh dẹp chỉ nhằm một ḿnh cha con Đăng Dung là kẻ có tội; c̣n ai biết đem quận huyện nào ra hàng, th́ liền được trao cho chức quan ở quận huyện ấy để cai quản. Ai bắt hay chém cha con Đăng Dung mà ra hàng, th́ cứ tính theo từng tên tội nhân một, mỗi tên là được thưởng 2 vạn nén vàng và được cho làm quan đến phẩm trật cao sang.

Tướng Minh lại dụ bảo cha con Đăng Dung nếu tự trói nộp ḿnh đợi tội, thành khẩn dâng hết các sổ sách về đất đai và nhân dân th́ được tha cho tội chết.
Bọn Bá-Ôn đóng quân dựng đồn ở gần nơi biên giới.

Bấy giờ Đăng Doanh chết rồi, Đăng Dung được tin, cả sợ, sai sứ giả đến cửa quân tướng Minh, trần t́nh, nguyện xin ra khỏi bờ cơi, đầu hàng, và kính cẩn vâng theo lịnh trên phân xử.

Lời lẽ của Đăng Dung rất là khiêm nhún, thiết tha. Bọn Bá-Ôn vâng theo lời chiếu của vua Minh, ưng thuận, hẹn đến mồng 3 tháng 11 cho Đăng Dung sang làm lễ đầu hàng.

Bọn Bá-Ôn thiết lập Mac-phủ và tướng-đài ở Nam-quan chờ đợi. Đến kỳ đă định, Đăng Dung để Phúc-Hải ở lại coi giữ việc nước, c̣n ḿnh cùng với người cháu là Văn Minh cùng bè đảng là bọn Vũ Như-Quế hơn 40 người do đường Nam-quan đi sang: ai nấy buộc dây thao vào cổ , đi chân không, gieo ḿnh vào nơi Mạc-phủ tướng Minh, khúm núm, phủ phục, khấu đầu lạy, dâng tờ biểu xin hàng, nộp tŕnh sổ sách, đất đai và nhân dân do ḿnh cai quản.

Đăng-Dung lại xin dâng đất các động Tỳ-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát, La-phù, An-lương thuộc châu (ChbXXVII, 33) Vĩnh-an ở Yên-quảng để lệ thuộc vào Khâm-châu nhà Minh. Lại xin nhà Minh ban cho chính sóc và ấn chương đă ban từ trước để Đăng Dung coi giữ việc nước trong khi chờ đợi mệnh lệnh có thay đổi hoặc quyết định ra sao.

Bọn Bá-Ôn vâng theo lời chiếu của vua Minh dụ bảo Đăng Dung hăy cho đái tội, về nước, chờ đợi mệnh lệnh phân xử sau.

Đăng-Dung lại sai Văn Minh và Nguyễn Văn Thái đem tờ hàng biểu sang Yên-kinh.

Lời cẩn án - Sử cũ chép đầu hàng nhà Minh, xin nộp các động Ty-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát, La-phù và An-lương thuộc châu Vĩnh-an ở (ChbXXVII, 34) Yên-quảng cho lệ thuộc vào Khâm-châu. Nay xét Khâm-châu chí của nhà Thanh, chỉ thấy chép đời Gia-Tĩnh (1522-1566), Đăng Dung nộp trả năm động Ty-phù, La-phù, Cổ-sâm, Liễu-cát và Kim-lặc mà thôi, chứ không thấy nói đến động An-lương. Lại tra cứu đến Quảng-yên sách th́ thấy động An-lương hiện nay là phố An-lương thuộc châu Vạn-ninh nước ta. Có lẽ về động An-lương, Đăng Dung chưa từng dâng nộp, mà chỉ là do sử cũ chép sai sự thật đó chăng?

Lại xét- Trong năm Mạc Minh-Đức thứ 2, tức là năm Minh Gia-Tĩnh thứ 7 (1528), sử cũ chép Đăng Dung sợ nhà Minh hỏi tội, bèn tính chuyện cắt đất đem dâng hai châu Quy, Thuận: vua Minh nhận. Từ đó, Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông hiếu. Nhưng, nay tra cứu bản đồ nước ta th́ có Quy-hóa châu và Thuận-châu. Hai châu này hiện nay thuộc tỉnh Hưng-hóa. Trong Đại-Thanh nhất thống chí tuy có chép châu Quy-thuận nguyên thuộc phủ Trấn-an tỉnh Quảng-tây nhà Thanh đấy thật, nhưng hai châu mà sử cũ gọi là Quy, Thuận có lẽ tức là Quy-hóa và Thuận-châu đó thôi.

Lại xét- Minh sử thông giám kỷ sự: hồi năm Mạc Đại-Chính thứ 9 (1538), Mạc Đăng-Dung được tin quân Minh sang đánh, cả sợ, sai sứ xin hàng, nói dối là họ Lê không có người kế tự, cha con Đăng-Dung có công với nước, được mọi người suy tôn. C̣n Đăng-Dung sở dĩ không dâng được biểu chương, cho sứ sang tiến cống, là chỉ v́ trước kia bị Trần Cung chiếm cứ Lạng-sơn làm nghẽn đường, đến sau lại bị quan giữ biên cương đóng cửa ải, không tiếp nhận.

Nay, từ năm Gia-Tĩnh thứ 7 (1528) đến năm thứ 17 (1538) trải hàng 10 năm chưa từng có sứ đi thông hiếu, thế mà sử cũ ở năm Gia-tĩnh thứ 7, đă vội chép rằng: "Đăng-Dung tính chuyện cắt đất dâng nộp hai châu Quy, Thuận, từ đó Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông hiếu". Về việc này, những điểm sử cũ chép đó đều xa sự thực, nên nay rút bới đi mà chép phụ vào đây để tham khảo.

(KHĐVSTGCM, bản dịch của viện Sử-học Việt-Nam, NXB Giáo-dục, 1998, trg. 113-117)



H́nh chụp tháng 8-2001, trên núi Tô-thị, thành nhà Mạc con lưu di tích
Nhờ dâng đất, được Minh triều bao che, con cháu Mạc Đăng-Dung c̣n cát cứ vùng biên giới Cao-bằng, Lạng-sơn một th

Tượng nàng Tô-thị tại quận Đồng-đăng, tỉnh Lạng-sơn, ghi lại di tích người chinh phụ bế con chờ chồng, rồi hóa đá. Hồi Tổng bí-thư Lê Duẩn cầm quyền, để xóa bỏ văn hóa tộc Việt, phát huy văn hóa Mác-xít, tượng bị đem nung làm vôi.

H́nh chụp tượng mới tạc lại. Ca dao có bài hát:

Con c̣ bay lả bay la,
Bay ra ruộng lúa, bay vào Đồng-đăng,
Đồng-đăn g có phố Kỳ-lừa,
Có nàng Tô-thị, có chùa Tam-thanh,
Ai lên xứ Lạng cùng anh,
Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em.

Không phải chùa Tam-thanh mà là động Tam-thanh. Hồi 1978, Hồng-quân sang "dạy" Việt-Nam bài học, đă san bằng Lạng-sơn. Chưa hả giận, họ c̣n dùng đại pháo bắn phá động Tam-thanh. Cửa động trước ở chỗ cột cờ, với hàng trăm bài thơ lưu niệm của danh sĩ Việt. Nay cửa động bị phá, cửa động mới tụt lùi vào trong.

Ngắt đoạn 2, không có câu hỏi nào.

Kính thưa Quư-vị,

Tôi vừa lướt qua vài nét đơn sơ về biên giới Hoa-Việt, về ngoại giao Hoa-Việt trong thời gian 989 năm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào đầu đề hôm nay, về việc:

_ Đảng Lao-động Việt-Nam lănh đạo nhà nước Việt-Nam Dân-chủ Cộng-ḥa (VNDCCH, 1945-1975).

_ Đảng Cộng-sản Việt-Nam lănh đạo nhà nước Cộng-ḥa Xă-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN, 1975-2001)
Nhượng lănh thổ, lănh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-ḥa quốc gọi tắt là Trung-quốc.

3. Vụ Việt-Nam dân chủ Cộng-ḥa nhượng lănh hải cho Trung-quốc,

3.1, Kết quả của văn kiện 14-9-1958

Ngày 4-9-1958, chính phủ Trung-quốc tuyên cáo về lănh hải 12 hải lư kể từ đất liền của họ, có đính kèm bản đồ rất rơ ràng. Bản tuyên cáo này chỉ có hai nước công nhận đó là VNDCCH và Bắc Cao (Cộng-ḥa Nhân-dân Triều-tiên). Việc VNDCCH công nhận như sau: Ngay khi nhận được bản tuyên cáo do sứ quán Trung-quốc tại Hà-nội trao, Chủ-tịch Hồ Chí Minh triệu tập Bộ Chính-trị đảng Lao-động Việt-Nam (tức đảng Cộng-sản Việt-Nam ẩn danh). Trong buổi họp này toàn thể các thành viên nhất trí chấp nhận bản tuyên bố của Trung-quốc. Ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng tuân lệnh Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, gửi văn thư cho Tổng-lư Quốc-vụ viện Trung-quốc (Thủ-tướng) là Chu Ân-Lai, trong đó có đoạn (Văn thư đính kèm 1):

" Chính-phủ nước Việt-Nam Dân-chủ Cộng-ḥa tôn trọng quyết định ấy, và sẽ chỉ thị cho các cơ quan có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng-ḥa Nhân-dân Trung-hoa trên mặt biển".

Ngắt đoạn 3,

Cử tọa thắc mắc, câu hỏi 3,

Ngoài bản văn này, liệu chúng ta có thể t́m lại một vài chi tiết khác không?

Gs. TĐS,

Thưa Ngài nhiều lắm, nhưng tôi chỉ xin cử vài tài liệu mà thôi:

1, Bản tin UPI-AFP ngày 23-9-1958 .

2, Vụ việc này báo chí Việt-Hoa đều có đăng tải ngày 23-9-1958, Quư-vị có thể t́m tại thư viện Paris, London và cả một số thư viện Trung-quốc (Bắc-kinh), Việt-Nam (Hà-nội). Nội dung UPI- AFP đều đánh đi đại lược:

"Ngày 22 tháng 9 năm 1958, Đại-sứ của VNDCCH tại Trung-quốc là ông Nguyễn Khang, đă trao công hàm cho ông Cơ Bằng Phi, Thứ-trưởng Bộ Ngoại-giao Trung-quốc. Nội dung như sau:

Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận Trung-quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt biển".

3, Tháng 5 năm 1976 (chúng tôi quên ghi ngày), nhật báo Sài-g̣n Giải-phóng, cơ quan ngôn luận của Thành-ủy Thành phố Hồ Chí Minh viết một bài xác nhận quần đảo Hoàng-sa, thuộc Trung-quốc. Nguyên văn có câu:

"Trung-quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà c̣n là ông thầy tin cẩn, đă cưu mang chúng ta nhiệt t́nh để chúng ta có được ngày hôm nay, th́ chủ quyền Hoàng-sa thuộc Trung-quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi. Trung-quốc với là hai nước sông liền sông, núi liền núi. Khi nào chúng ta muốn nhận lại quần đảo này, Trung-quốc sẽ sẵn sàng giao lại".

4, Sau trận hải chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988 với Trung-quốc, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Cộng-sản Việt-Nam, tờ Nhân-dân, số ra ngày 26 tháng 4 năm 1988, tự biện hộ về việc nộp lănh hải của Bộ Chính-trị thời Hồ Chí Minh như sau:

"Đúng là có những lời tuyên bố đó. Cần phải đặt lại những lời tuyên bố này trong bối cảnh lịch sử của nó...Trong cuộc chiến đấu một mất một c̣n, chống một kẻ thù xâm lược có sức mạnh quân sự lớn hơn ḿnh nhiều, Việt-Nam tranh thủ được Trung-quốc gắn chặt với cuộc chiến đấu của Việt Nam càng nhiều bao nhiêu và ngăn chận Mỹ sử dụng hai quần đảo cũng như vùng biển Đông chống lại Việt-Nam, th́ càng tốt bấy nhiêu".

Kính thưa Quư-vị, tôi xin tiếp tục,

Theo bản tuyên bố này th́ những nước liên hệ là :

_ Trung-hoa Dân-quốc (Đài-loan),
_ Nhật-bản,
_ Hoa-kỳ (hạm đội 7)),
_ Phi-luật-tân,
_ Mă-lai,
_ Brunei,
_ Indonésia,
_ VNDCCH và Việt-Nam Cộng-ḥa (VNCH).

Thế nhưng từ hồi đó đến nay các nhà nghiên cứu Âu-Mỹ cho đến các nước Á-châu Thái-b́nh-dương (ACTBD) không hề để ư đến văn thư trên. Ngay VNCH, bấy giờ cơ quan t́nh báo được gọi là Sở Nghiên-cứu Chính-trị và Xă-hội, được chỉ đạo bới một trí thức siêu việt, đào tạo tại Pháp là ông Ngô Đ́nh Nhu, mà cũng không để ư tới. V́ đọc bản tuyên bố lănh hải kể từ đất liền, là 12 hải lư, đúng theo công ước Liên-hiệp quốc họp tại San Francisco năm 1951, th́ có chi bận tâm?
V́ sao một người tinh minh, mẫn cán như ông Ngô Đ́nh Nhu mà cũng bị sơ sót?

Bản tuyên bố chỉ đọc trên hệ thống truyền thanh của Trung-quốc, rồi cũng được các báo Trung-quốc đăng lại, mà không có bản đồ đính kèm. Cả thế giới (kể cả Hoa-kỳ, Trung Hoa Dân Quốc, VNCH) cứ nh́n trên bản đồ Trung-quốc cũng như vùng Nam-hải phân định lănh hải từ 1887 mà cho rằng: theo Quốc-tế công pháp th́ lănh hải hầu hết các nước đều gồm 12 hải lư, kể từ thềm lục địa. Vụ Trung-quốc tuyên bố lănh hải 12 hải lư của họ là một sự b́nh thường. Cái tưởng lầm tai hại đó cho đến nay (11-2001), những người chống đối vụ nhường đất cho Trung-quốc ở trong nội địa Việt-Nam, cũng như hải ngoại chỉ kết tội vu vơ, không rơ ràng, không chứng cớ v́ nguyên do không bản đồ này.

Do kết quả không có bản đồ đính kèm của Trung-quốc tuyên bố lănh hải của họ (gần như trọn vẹn vùng biển Nam-hải, đính kèm), Hoa-kỳ cũng như thế giới không biết (hay không công nhận), nên suốt thời gian 1958-2001:

_ Hạm đội 7 của Hoa-kỳ tuần hành trong vùng lănh hải tuyên bố này, đầy đe dọa Trung-quốc, mà Trung-quốc vẫn ngậm bồ ḥn.

_ Chiến hạm của Pháp, Đức, Ư cũng như một số nước Úc, Âu trong thời gian 1975-1980 vẫn tuần hành, hộ tống những con tầu vớt người Việt trốn chạy trong vùng, mà Trung-quốc đành im lặng.

Hôm nay tôi cần phải tŕnh bày trước các vị và làm sáng tỏ nội vụ.

Kính thưa Quư-vị,

3.2. Những bí ẩn

Cái bí ẩn đó không có ǵ lạ cả, rất rơ ràng, rất chi tiết.

_ Về phía các nhà nghiên-cứu Âu-Mỹ, ACTBD không có bản đồ đính kèm bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung-quốc, họ cứ nh́n vào bản đồ đă phân định từ 1887, giữa Pháp và triều Thanh. Họ cũng cứ nh́n bản đồ của các nước vùng Nam-hải, của Trung-quốc, của Trung-hoa Dân-quốc cũ, rồi cho rằng lănh hải 12 hải lư th́ đúng công ước quốc tế.

Nhưng nếu họ có bản đồ về lănh thổ đính kèm bản tuyên bố th́ họ sẽ toát mồ hôi ra. V́ bản đồ này bao gồm toàn bộ các đảo trong vịnh Bắc-Việt, toàn bộ các đảo ở biển Nam-hải như Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa). Như vậy nếu tính lănh hải 12 hải lư, tính từ các đảo này th́:

_ Lănh hải Trung-quốc ở biển Nam-hải, phía Tây sẽ sát tới bờ biển suốt miền Trung, Bắc Việt-Nam.

_ Phía Đông sát tới lục địa Phi-luật-tân, Brunei,

_ Phía Nam sát tới Indonésia, Mă-lai.

Trở lại với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, bộ Chính-trị đảng Lao-động (Cộng-sản) Việt-Nam và chính phủ VNDCCH hồi 1958, khi các vị ấy có bản tuyên bố lănh hải của Trung-quốc, th́ï cũng có bản đồ chi tiết. Nhưng các vị ấy gửi thư chấp nhận bản tuyên bố đó th́ có nghĩa rằng:

Họ đồng ư nhường cho Trung-quốc toàn bộ:

_ Các đảo của Việt-Nam trên biển Nam-hải.

_ Toàn bộ lănh hải Việt-Nam cách các đảo đó 12 hải lư, nghĩa là toàn bộ biển Nam-hải.

Bản đồ tuyên bố lănh hải 12 hải lư của Trung-quốc ngày 4-9-1958. Theo bản đồ này th́ lănh hải của họ chiếm hết biển Nam-hải, cách Phan-thiết, Quảng-Nam Mă-lai, Phi-luật-tân có 50 hải lư. Quyết định này được đảng Cộng-sản VN tán thành.

Kính thưa Quư-vị,

3.3, Bí ẩn vụ Trung-quốc chiếm Hoàng-sa (Tây-sa)

Từ trước đến giờ, có nhiều vị hiện diện hôm nay từng đặt câu hỏi với tôi rằng:

_ Tại sao năm 1974, th́nh ĺnh Trung-quốc đem quân đánh quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) từ VNCH. Trận chiến diễn ra ngắn ngủi, phía Trung-quốc bị thiệt hại gấp ba VNCH (về nhân mạng, về chiến hạm, tài liệu này tôi có từ phía Trung-quốc). Nhưng VNCH v́ quân ít, vũ khí chỉ có đại bác, chiến hạm nhỏ. Trong khi Trung-quốc có hỏa tiễn địa-địa, chiến hạm lớn đông gấp bội VNCH. VNCH lại đang có nội chiến, phải đương đầu với quân đội VNDCCH, v́ vậy VNCH phải bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng-sa. Bấy giờ Hoa-kỳ với VNCH có hiệp ước hỗ tương an ninh, Hoa-kỳ đang tham chiến tại Việt-Nam, hạm đội 7 hùng hậu đang tuần hành gần vùng giao chiến. Tại sao Hoa-kỳ không can thiệp, không lên tiếng bênh vực VNCH? Ngay việc thủy thủ VN, tầu bị ch́m, mà hạm đội 7 cũng không vớt theo luật hàng hải Quốc-tế.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 4,

_ Xin Gs cho biết trong trận hải chiến này, phía Trung-quốc, VNCH, bên nào nổ súng trước?

Gs TĐS,

_ Thưa VNCH. Hải-quân VNCH rất thiện chiến, tác xạ rất chính xác, các sĩ quan đều được huấn luyện theo tiêu chuẩn Âu-Mỹ, thêm kinh nghiệm VN. Ngay loạt đạn đầu tiên khiến 4 hạm trưởng Trung-quốc tử trận.

Tôi xin trở lại đầu đề:

V́:

Trong-cuộc mật đàm giữa Hoa-kỳ (Kissinger) và Trung-quốc (Mao Trạch Đông). Phía Trung-quốc trao cho ông Kissinger bản tuyên bố lănh hải 4-9-1958 cùng bản đồ. Ông Kissinger đă công nhận bản tuyên bố đó. Cho nên ông Kissinger vừa rời Trung-quốc hai ngày, th́ ngày 11 tháng 1 năm 1974, Trung-quốc tuyên bố hai quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa) là của Trung-quốc, rồi Trung-quốc đem hạm đội xuống Hoàng-sa. Bấy giờ Hoàng-sa do VNCH trấn đóng.

V́:

Văn thư của ông Phạm Văn-Đồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Trung-quốc chiếm Hoàng-sa chỉ là việc chiếm lại lănh thổ được văn thư 14-9-1958 công nhận. Nghĩa là Trung-quốc chiếm lại lănh thổ đă bị VNCH xâm lăng 16 năm.

Ngắt đoạn 4,

Cử tọa hỏi, câu hỏi 5, cấm phổ biến

Về nguồn gốc tài liệu cuộc mật đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Đông và Cố-vấn Kissinger. Gs Trần tŕnh bày chi tiết. Toàn bộ cử tọa chấp nhận; nhưng chúng tôi bị cấm không được phổ biến.

Sau khi Gs Trần tŕnh bầy, một trong ba vị chủ toa phát biểu:

Tôi xin bổ túc những ǵ Gs Trần lướt qua. Bấy giờ (1974) là thời điểm chiến tranh Đông-dương đang diễn ra cực kỳ sôi động, mà t́nh h́nh giữa Liên-sô với Trung-quốc cũng căng thẳng cực kỳ. Qua những cuộc mật đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Đông với Cố-vấn Kissinger; Trung-quốc, Hoa-kỳ đă đi đến những thỏa thuận quan trọng. Rồi Tổng-thống Richard Nixon thăm Trung-quốc.

Chúng ta đều biết sự hiện diện, của Hoa-kỳ tại Đông-dương là ngăn chặn hai mũi dùi Cộng-sản từ Afghatistan, Đông-dương nối với nhau. Bây giờ Hoa-kỳ biết chắc Trung-quốc, Liên-sô không thể hàn gắn lại, khối Cộng bị vỡ làm nhiều mảnh. V́ vậy sự hiện diện của Hoa-kỳ trở thành vô ích, vừa tốn tiền, vừa tốn máu. Cho nên họ muốn rút ra khỏi Đông-dương, dùng Đông-dương làm b́nh xăng tưới vào ngọn lửa đang thiêu đốt căn nhà ngoại giao Trung-Sô.

Ch́a khóa của Đông-dương là Việt-Nam. Mà tại Việt-Nam, mọi quyết định do Bộ Chính-trị. Chủ-tịch Hồ Chí Minh chết 5 năm rồi, vấn đề tranh quyền đă ngă ngũ, phe chạy theo Liên-sô Lê Duẩn, Lê Đức Thọ thắng thế. Trung-quốc biết rất rơ. Suốt bao năm Trung-quốc cưu mang cho Bắc VN, nay bỗng dưng Trung-quốc mất hết, chỉ c̣n tay trắng ư? Trung-quốc phải kiềm chế Bắc VN. Thế nhưng Trung-quốc muốn kiềm chế mà không được. Mao t́m cách nắm Cambodge mà bấy giờ Cambodge c̣n nằm trong tay Bắc VN. V́ vậy Trung-quốc muốn t́m cách dùng Nam VN (VNCH) làm bức tường cản Bắc Việt-Nam (VNDCCH). Trung-quốc t́m cách gần Nam VN bằng hai ngả:

Ngả thứ nhất: Mật sứ của Trung-quốc tại Londre gặp Đại-sứ Nam VN (VNCH) ngỏ ư cho biết Hoa-kỳ đang muốn trao VNCH cho Bắc VN. Nếu VNCH muốn, Trung-quốc sẽ giúp như sau: Mặt Bắc, chặn con đường tiếp tế từ đường bộ Liên-sô qua lănh thổ Trung-quốc. Trung-quốc đem đại quân ép Bắc biên. Mặt Nam tiếp tế vũ khí cho VNCH. Như vậy bắt buộc Bắc VN phải rút quân về.

Ngả thứ nh́, Trung-quốc qua mấy nhân vật trí thức VN trong Phong Trào Liên Bang Đông Nam Á (hội tư luật 1901) tại Paris, trực tiếp nói cho Tổng-thống, và Bộ Ngoại-giao VNCH biết rằng: Việc Hồng-quân tiến xuống Trường-sa chỉ là cái cớ để Trung-quốc với VNCH ngồi vào bàn hội nghị. Nhưng không rơ VNCH có biết hay không, mà lại khai hỏa trước.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 6,

_ Hồi đầu năm 1974, tôi có đọc trên một tờ báo Anh-ngữ xuất bản tại Hương-cảng tường thuật về trận đánh giữa VN (VNCH) và Trung-quốc ngày 19-1-1974 trong vùng quần đảo Hoàng-sa. Giáo-sư có thể cho biết: Lực lượng tham chiến của hai bên ra sao? (Người đặt câu hỏi nguyên là Đô-đốc)

Gs TĐS,

_ Thưa Ngài tôi xin chiếu lên màn ảnh để Ngài thấy.

Về phía VNCH,

1, Lực lượng tham chiến,

_ Khu trục hạm Trần Khánh Dư, kư số HQ4, hạm trưởng là Trung-tá Vũ Hữu San.

_ Tuần dương hạm Trần B́nh Trọng, kư số HQ5, hạm trưởng là Trung-tá Phạm Trọng Quỳnh.

_ Hộ tống hạm Nhật-tảo, kư số 10, hạm trưởng là Thiếu-tá Ngụy Văn Thà. Khi chiến hạm hỏng máy, bị ch́m, trong khi tất cả thủy thủ đoàn xuống xuồng chạy, th́ ông cương quyết ở lại, chết với tầu của ḿnh. Tuẫn quốc.

_ Tuần dương hạm Lư Thường Kiệt, kư số HQ16, hạm trưởng là Trung-tá Lê Văn Thự.

2, Lực lượng trừ bị,

_ Tuần dương hạm Trần Quốc Toản, kư số HQ6,

_ Hộ tống hạm Chí-linh, kư số HQ11

_ Không quân: Phi -đoàn F5-A37.

Nhưng lực lượng trừ bị Hải-quân ở quá xa chưa kịp can thiệp th́ trận chiến đă kết thúc. Không quân thuộc Quân-khu I, không can thiệp. V́ vậy sau trận đánh, Tư-lệnh Hải-quân ra lệnh cho các sĩ quan tham dự, không thuyết tŕnh cho Tư lệnh quân khu I.

Về phía Trung-quốc,

1, Lực lượng tham chiến

_ Hộ tống hạm Kronstadt, kư số 271, hạm trưởng là Đại-tá Vương Kỳ Uy, tử thương.

_ Hộ tống hạm Kronstadt, kư số 274, hạm trưởng là Đại-tá Quan Đức. Đây là soái hạm của chiến dịch. Tư lệnh mặt trận là Đô-đốc Phương Quang Kinh, Tư-lệnh phó hạm đội Nam-hải của Trung-quốc với bộ tham mưu đi trên chiến hạm này. Khoảng giữa trận chiến, ông cùng bộ tham mưu tử thương (1 Đô-đốc, 4 Đại-tá, 6 Trung-tá, 2 Thiếu-tá, và 7 sĩ quan cấp úy).

_ Trục lôi hạm, kư số 389, hạm trưởng là Trung-tá Triệu Quát, tử thương.

_ Trục lôi hạm, kư số 396, hạm trưởng là Đại-tá Diệp Mạnh Hải, tử thương.

_ Phi tiễn đỉnh Komar 133, trang bị hỏa tiễn địa-địa Styx hạm trưởng là Thiếu-tá Tôn Quân Anh,

_ Phi tiễn đỉnh Komar 137, trang bị hỏa tiễn đĩa địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Mạc Quang Đại,

_ Phi tiễn đỉnh Komar 139, trang bị hỏa tiễn địa địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Tạ Quỳ,

_ Phi tiễn đỉnh Komar 145, trang bị hỏa tiễn địa-địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Ngụy Như.

_ 6 Hải vận hạm chở quân.

2, Lực lượng trừ bị,

_ 2 Tuần dương hạm,

_ 4 Pháo-hạm,

_ 4 Khu trục hạm trang bị hỏa tiễn Kianjiang.

_ 2 Phi đội MIG 19,

_ 2 phi đội MIG 21,

Do chính Đô-đốc Tư-lệnh hạm đội Nam-hải chỉ huy. Chúng tôi không biết tên ông.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 7,

_ Tổn thất 2 bên ra sao? (Vẫn vị cựu Đô-đốc trên)

Gs. TĐS

_ Xin mời ngài xem bảng so sánh, tôi chiếu lên.

Về phía VNCH,

_ HQ 4-5-16 bị thương, rút về Đà-nẵng, sau khi sửa chữa, lại hoạt động như cũ.

_ HQ10 bị ch́m.

_ Một hạm trưởng tử thương.

Về phía Trung-quốc,

_ Tư lệnh mặt trận, bộ tham mưu và 4 hạm trưởng tử thương,

_ Hộ tống hạm 274 bị ch́m.

_ Hộ tống hạm 271 và hai trục lôi hạm 389-396 bị hư hại nặng phải ủi băi, sau đó phải phá hủy.

_ 4 ngư thuyền chở quân bị ch́m.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 8,

Cấm phổ biến.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 9,

_ Tôi nghe Hoa-kỳ trang bị cho VN (VNCH) những vũ khí, cũng như chiến hạm tối tân nhất. Trong khi Giáo-sư chiếu h́nh 4 chiến hạm tham chiến đều thuộc loại hạ thủy vào thập niên 1940, quá cũ kỹ. Vũ khí cũng vậy. Tại sao VN (VNCH) không đem những chiến hạm, vũ khí tối tân ra tham chiến? (Người đặt câu hỏi nguyên là kỹ sư hàng hải).

Gs TĐS,

_ Thưa quả đúng như Ngài nhận xét. Tất cả chiến hạm Hoa-kỳ viện trợ cho VNCH đều thuộc loại phế thải. Thay v́ Hoa-kỳ phá hủy, họ tân trang lại rồi trao cho VN. Bốn chiến hạm tham dự trận đánh đều là những chiến hạm tốt nhất mà VN nhận được. HQ4 hạ thủy năm 1943. (Cử tọa bật cười). HQ5 hạ thủy năm 1944. HQ10 hạ thủy năm 1942. HQ 16 hạ thủy năm 1942. C̣n vũ khí, cũng có chiến hạm trang bị loại đại bác bắn liên thanh. Nhưng khi trao cho VN th́ Hoa-kỳ tháo đi. Dường như Hoa-kỳ đoán trước có cuộc hải chiến này, nên một chiến hạm trang bị loại đại bác trên, tuy đă trao cho VNCH, nhưng bị tháo đi trước đó mấy tháng. Bằng không phía Trung-quốc bị thiệt hại c̣n nặng hơn nhiều.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 10,

_ Trong quá khứ, giữa VN với Trung-quốc đă xẩy ra những trận thủy chiến nào? Kết quả ra sao? (Người hỏi nguyên là giáo sư sử Đông-Á)

Gs TĐS,

_ Thưa Ngài trong lịch sử 5000 năm của Hoa-Việt, chiến tranh liên miên. Về bộ chiến, kị chiến th́ cả hai bên khi khi thắng khi bại. Duy thủy chiến, bao giờ Việt cũng thắng.

Cử tọa hỏi câu hỏi 11,

_ Xin cho biết những trận nào?

Gs TĐS,

_ Trận cổ nhất vào năm 42 sau Tây-lịch. Chiến địa xẩy ra ngoài biển Đông. Đô-đốc Trung-quốc là Đoàn Chí. Đô-đốc Việt là Trần Quốc, một nữ tướng. (Cử tọa ồ lên). Kết quả hạm đội Trung-quốc bị đánh ch́m hết. Đoàn Chí bị giết.

_ Hồi đó người Việt theo chế độ mẫu hệ ư?

_ Thưa không. Nhưng vị Hoàng-đế cai trị là một phụ nữ. Trong suốt năm ngh́n năm lịch sử, đời nào VN cũng có những nữ tướng kiệt hiệt.

_ Hiện có c̣n chứng tích nào về vị nữ Đô-đốc này không?

_ Nếu Ngài du lịch VN, xin tới Hà-nội, thuê xe, bảo tài xế đưa đến làng Hoàng-xá, xă Kiêu-kỵ, huyện Gia-lâm là nơi có đền thờ bà. Tôi xin chiếu vidéo về đền thờ này. (chiếu vidéo 5 phút).

_ Thưa Ngài trận thứ nh́ do Vua Ngô (938), trận thứ ba do vua Lê (981), trận thứ tư do Hưng Đạo vương (1288). Cả ba trận sau đều diễn ra trên sông Bạch-đằng, Trung-quốc đều bị bại. Trận 1288 là trận khủng khiếp nhất, bên Trung-quốc do vua Mông-cổ là Hốt Tất Liệt ở ngôi. Kể từ đó cho đến năm 1974, mới có trận Hoàng-sa.

Đền thờ công chúa Gia-hưng Trần Quốc, đại đô đốc thời Lĩnh-Nam (vua Trưng), tại làng Hoàng-xá, xă Kiêu-kỵ, huyện Gia-lâm, Hà-nội. Bốn chữ đại tự trên là VẠN CỔ ANH PHONG. Có 3 câu đối ở mặt tiền, câu thứ 2 nói lên huân nghiệp của ngài:

Tô khấu tước b́nh trực bả quần thoa đương kiếm kích,
Trưng vương dực tải hảo tương cân quắc hộ sơn hà.

( B́nh giặc Tô Định, đem quần thoa, chống với kiếm kích. Pḥ Trưng vương, đem khăn yếm giữ non sông)

Đền Kiếp-bạc, thờ Hưng Đạo vương. Bốn chữ đại tự trên là: DỮ THIÊN VÔ CỰC . Bốn chữ dưới là TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG TỪ.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 12

_ Xin cho biết lực lưỡng hải quân Trung-quốc và Việt-Nam hiện giờ?

Gs TĐS,

_ Tŕnh bày chi tiết, cử tọa chấp nhận. Nhưng chúng tôi bị cấm không được phổ biến.

Tôi xin trở lại với bài điều trần:

_ Cũng có vị hỏi tôi rằng: Tại quần đảo Trường-sa (Nam-sa) hiện có quân của Trung-hoa Dân-qước (Đài-loan), Phi-luật-tân, Mă-lai, Việt-Nam. Thế sao hải quân Trung-quốc luôn khai hỏa vào hải quân Việt-Nam. Quan trọng nhất là trận chiến 14 tháng 3 năm 1988. Việt-Nam chỉ phản đối lấy lệ?

Nay tôi xin thưa:

Do văn thư của ông Phạm Văn-Đồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc.

Lập luận phía Trung-quốc là: Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng đă công nhận vùng này là lănh hải Trung-quốc, tại sao quân đội Việt-Nam c̣n hiện diện tại đây? Như thế là Việt-Nam xâm phạm lănh thổ Trung-quốc. Quân đội Trung-quốc phải đánh đuổi quân xâm lăng, bảo vệ đất nước là lẽ thường. Quân đội Đài-loan đóng tại đây, mà Trung-quốc không tấn công v́ quân Đài-loan th́ cũng là quân đội Trung-quốc đóng trên lănh thổ Trung-quốc. C̣n Phi, Mă-lai với Trung-quốc đang tranh chấp trên quần đảo này chưa ngă ngũ; th́ quân đội của họ hiện diện là lẽ thường. Trung-quốc không thể tấn công họ, v́ như vậy là Trung-quốc ỷ lớn hiếp nhỏ.

Đối với vụ việc tranh chấp Trung-quốc, Việt-Nam trên đảo Trường-sa (Nam-sa) đă giải quyết bằng văn thư của Việt-Nam ngày 14-9-1958. Chính v́ lư do này mà Trung-quốc chỉ chấp nhận đàm phán về vùng đảo với từng nước, mà không chịu đàm phán chung với tất cả các bên liên hệ. Có nghĩa họ gạt Việt-Nam ra ngoài, v́ Việt-Nam đă công nhận các đảo này là của Trung-quốc.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 13

_ Giáo-sư có thể cho biết chi tiết về trận đánh ngày 14-3-1988 không? Tổn thất hai bên như thế nào?

Gs TĐS,

_ Về phía Trung-quốc dường như không có ai tử thương. Cũng không có chiến hạm nào bị ch́m. Về phía VN, th́:

_ 1 Chiến hạm Thượng-hải do Trung-quốc viện trợ cho trước đây, bị ch́m.

_ 1 Tuần dương hạm của VNCH để lại, bị ch́m.

_ 1 Một hải vận hạm do Nga-sô viện trợ bị ch́m.

_ Nhân mạng khoảng trên 300 chết.

Kính thưa Quư-vị,

tôi xin trở lại phần điều trần.

3.4, Về hoàn cảnh Mạc Đăng-Dung năm 1540

Ta có thể hiểu tại sao giặc Mạc lại làm công việc táng tận lương tâm, ô danh bậc nhất cổ kim trong lịch sử tộc Việt ấy. V́:

_ Bấy giờ tuy Dung và con cháu đang cai trị Đại-Việt. Nhưng tại Thanh-hóa con cháu nhà Lê đă thiết lập triều đ́nh mới, đang tiến quân về Thăng-long.

_ Phía Bắc bị 22 vạn quân Minh dàn ra định tràn xuống đánh. V́ tính mạng bản thân và gia đ́nh, họ hàng bị đe dọa, nên Mạc Đăng-Dung phải đầu hàng Minh triều, rồi cắt đất dâng cho Minh.

3.5, Về hoàn cảnh đảng Cộng-sản Việt-Nam năm 1958, và chính phủ VNDCCH

Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản, trong Chính-phủ đều biết rằng:

_ Kể từ năm 1540, sau khi dâng đất cho Trung-quốc, giặc Mạc Đăng-Dung bị lịch sử Việt-Nam kết tội, bị toàn dân nguyền rủa, đến bấy giờ trải 418 năm, chính họ cũng nguyền rủa bọn Mạc.

_ Giữa VNDCCH và Việt-Nam Cộng-ḥa (VNCH), cả hai bên đều đang lo củng cố xây dựng lại vùng đất của ḿnh sau chiến tranh (1945-1954). Cả hai bên cùng chưa chính thức gây hấn với nhau. VNDCCH không có ngoại thù.

_ Trung-quốc không có chiến tranh với VNCDCH. Không có áp lực ngoại xâm.

_ Năm 1958, là lúc thịnh thời nhất của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, của Đại-tướng Vơ Nguyên Giáp. Thời kỳ này, miền Bắc Việt-Nam vừa trải qua cuộc Cải cách ruộng đất, 246.578 người hầu hết là phú nông, địa chủ, trung nông, các cựu đảng viên không phải của đảng Lao-động (Cộng-sản), dân chúng... bị giết. Nghĩa là toàn miền Bắc dân chúng kinh hoàng, cúi đầu răm rắp tuân lệnh đảng. Không c̣n kẻ nội thù,

_ Nhất là lúc ấy VNDCCH đang kéo cao cờ nghĩa đánh Pháp, chống Mỹ cứu nước. Họ kết tội VNCH là Việt-gian, là Ngụy. Họ phải hết sức giữ ǵn để khỏi mất chính nghĩa.

_ Thế sao đảng Cộng-sản lại làm cái việc thân bại danh liệt, trở thành tội đồ muôn năm của tộc Việt?

_ Bàn về việc kư thỏa ước với nước ngoài, việc nhận đất, nhượng đất phải thông qua Quốc-hội. Bấy giờ VNDCCH cũng có Quốc-hội. Nhưng Quốc-hội không được hỏi đến, không được bàn đến và nhất là không được thông tri. Quốc dân cũng thế. Tất cả thắc mắc này, tôi xin để Qúy-vị suy đoán và trả lời.

3.6, Một câu hỏi được đặt ra:

Vậy th́ v́ lư do ǵ mà đảng Cộng-sản Việt-Nam lănh đạo Chính-phủ VNDCCH lại nhượng lănh hải cho Trung-quốc quá dễ dàng?

Cho đến nay, tôi cũng không t́m ra lư do thỏa đáng.

Tôi không t́m ra v́:

_ Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam dự buổi hội quyết định nhượng lănh hải, đều đă từ trần. Các vị trong nội các Phạm Văn-Đồng hồi ấy, không biết nay có ai c̣n sống hay không? Tôi chỉ biết chắc rằng Đại-tướng Vơ Nguyên-Giáp, vừa là Bộ-trưởng bộ Quốc-pḥng, vừa là ủy viên Bộ Chính-trị là c̣n tại thế. Đại-tướng là người có học thức cao nhất bộ Chính-trị, từng là giáo sư Sử-học. Bấy giờ lại là lúc uy tín, quyền hành của Đại-tướng lên tột đỉnh. Vụ ông Phạm Văn-Đồng kư văn kiện này Đại-tướng phải biết. Nay Đại-tướng đang đi vào những ngày cuối cùng của đời người. Nếu sĩ khí, dũng khí của Đại-tướng c̣n, xin Đại-tướng cho quốc dân biết không? (4)

(4) , Sau cuộc cải cách ruộng đất. Thấy dân chúng, cán bộ quá bất măn. Chủ-tịch Hồ Chí-Minh sợ có biến, vội đưa vụ sửa sai. Nhận thấy bấy giờ duy có Đại-tướng Vơ Nguyên Giáp là có uy tín nhất, Bộ Chính-trị tập hợp dân chúng, cán bộ, rồi mời ông ra thay Đảng... xin lỗi.

_ Nếu nói rằng khi kư văn kiện trên, là tự ư Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng th́ không thể nào tin được. V́ chính ông Phạm Văn-Đồng từng than rằng: Ông là một Thủ-tướng lâu năm, nhưng không có quyền hành ǵ, ngay cả việc muốn thay một Bộ-trưởng cũng không được. Vậy th́ đời nào ông dám kư văn kiện dâng đất cho Trung-quốc!

_ Ví thử ông Phạm Văn-Đồng tự ư kư văn kiện trên, th́ năm 1977 văn kiện ấy lộ ra ngoài. Người Việt hải ngoại từng đem đăng báo, ông Phạm Văn-Đồng hăy c̣n sống, sao Bộ Chính-trị, Quốc-hội và Chính-phủ không truy tố ông ra ṭa về tội phản quốc? Tội này trong h́nh luật Việt-Nam phải xử tử h́nh. Thế mà ông ấy vẫn ung dung sống thêm bốn chục năm nữa, đầy quyền hành?

_ Liệu những tài liệu, biên bản về buổi họp này có nằm tại văn pḥng Bộ Chính-trị, văn pḥng bộ Ngoại-giao CHXHCNVN không? Các vị trong Bộ Chính-trị hiện thời có thể công bố cho quốc dân biết không? Nếu quư vị im lặng, th́ muôn ngh́n năm sau, lịch sử c̣n ghi: Đảng Cộng-sản bán nước, mà không cầu vinh, cũng chẳng cầu tài; chứ không phân biệt rằng Bộ Chính-trị 1958 bán nước, chứ Bộ Chính-trị 2001 không hề làm việc này.

Chúng tôi xin ngừng lời để Quư-vị thacé mắc, trước khi điều trần sang phần thứ nh́.

Không có câu hỏi nào.

Kính thưa Quư-vị,

Bây giờ tôi xin điều trần sang phần thứ nh́, đó là:

4. Vụ nhượng lănh thổ mới đây

* Hiệp định về biên giới trên đất liền Việt-Nam, Trung-quốc ngày 30-12-1999.

*. Hiệp định phân định lănh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.

4.1, Ai chịu trách nhiệm về hai hiệp định

Hai hiệp định này đều kư trong thời gian 1999-2000. Vào thời kỳ này tại Việt-Nam th́:

_ Ông Lê Khả-Phiêu làm Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản ViệtNam,

_ Ông Trần Đức-Lương làm Chủ-tịch nhà nước,

_ Ông Nông Đức-Mạnh làm Chủ-tịch Quốc-hội,

_ Ông Phan Văn-Khải làm Thủ-tướng.

_ Ông Nguyễn Mạnh Cầm làm Bộ trưởng Ngoại-giao.

Ai chịu trách nhiệm khi kư hai hiệp định trên? Cá nhân th́ tôi không biết, nhưng có một điều tập thể th́ ai cũng khẳng định là Bộ Chính-trị của đảng Cộng-sản Việt-Nam.

Không cần biết người kư là Chủ-tịch Trần Đức-Lương, Thủ-tướng Phan Văn-Khải hay Bộ-trưởng Ngoại-giao Nguyễn Mạnh-Cầm. Tôi xin khẳng định: Ai kư cũng chỉ là người tuân lệnh Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam.

Nhưng người quyết định là ai?

Ông Phan Văn-Khải, Nguyễn Mạnh-Cầm ư? Hai ông này không có quyền, dù có quyền các ông ấy cũng không dám quyết định. Ông Lê Khả-Phiêu quá yếu, không thể quyết định một ḿnh. Ông Trần Đức-Lương, Nông Đức-Mạnh càng không có quyền ǵ.

V́ vậy tôi mới quyết đoán rằng vụ này do Bộ Chính-tri đảng Cộng-sản chủ trương. Hiện tất cả các ông trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu vẫn c̣n sống, rất khỏe mạnh. Khi quyết định nhượng đất, biển cho Trung-quốc các ông ấy đều biết rất rơ rằng:

_ Tinh thần dân chúng bây giờ không phải như dân chúng hồi 1540. Tŕnh độ dân chủ, phương tiện thông tin của đảng viên, của dân chúng vượt xa hồi 1958. Uy tín của Tổng Bí-thư Lê Khả-Phiêu không thể so sánh với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh năm 1958. Mỗi vị trong Bộ Chính-trị bây giờ là một mảng, chứ không thể là một khối như Bộ Chính-trị hồi 1958. Các vị trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu điều biết trước rằng: Kư hiệp ước nhượng lănh thổ trong lúc này không thể bịt miệng, dấu diếm đảng viên cũng như dân chúng. Thế nhưng các ông ấy vẫn làm! V́ vậy phải có nguyên do ǵ trọng đại lắm. Liệu các ông có thể công bố cho quốc dân biết không?

Đến đây một cử tọa nói bâng quơ, câu hỏi 14

_ Không lẽ trong Bộ Chính-trị, mà t́m chẳng ra một người yêu nước ư?

Gs TĐS đáp:

Tôi tin rằng có rất nhiều người đầy tâm huyết. Song họ không thể bơi ngược ḍng thác đổ. Nếu như ở Tây-phương, người nào không đồng ư, có thể từ chức. Nhưng ở các nước Cộng-sản thái độ này bị coi là phản động, tính mệnh khó toàn.

Kể từ khi kư, dân chúng, đảng viên không được biết nội dung Hiệp-ước nói ǵ.

Măi tới tháng 2-2001, Thứ-trưởng Ngoại-giao Lê Công-Phụng mới công bố trên Tạp chí Cộng-sản, Quư-vị có thể t́m thấy bài này trên Internet.
(http://www.cpv.org.vn/tccs/022001/6-lecongphung.h tm) (Phụ bản 1)

Tạp-chí Tư-tưởng Văn-hóa số 3-2001 cũng tóm lược sự kiện. Quư vị có thể t́m trên Internet.
(http://www.cpv.org.vn/anpham/tutuong/032001/13-kyhiepdinh.htm ) (Phụ-bản 2)

_ Thời gian ấy (1999-2000) đảng Cộng-sản lấn át Chủ-tịch Nhà-nước, cũng như Thủ-tướng nhất. Đến nỗi Chánh-văn pḥng Thủ-tướng chỉ v́ nói một câu không mấy lịch sự với người đàn bà có thế lực trong đảng, mà bị bắt giam không lư do, Thủ-tướng không thể can thiệp cho ông ta tại ngoại.

_ Quyền gần như nằm trong tay ba ông Cố-vấn là cựu Tổng Bí-thư Đỗ Mười, cựu Chủ-tịch nhà nước Lê Đức-Anh và cựu Thủ-tướng Vơ Văn-Kiệt. Ba ông này như ba Thái-thượng hoàng thời Trần. Tuy mang danh Cố-vấn, nhưng ba ông vẫn c̣n uy quyền tuyệt đối. Chắc Quư-vị c̣n nhớ bản điều trần của tôi vào tháng 9-1997, về vụ Tổng-bí thư Đỗ Mười và Thủ-tướng Vơ Văn Kiệt mật đàm với Chủ-tịch Giang Trạch Dân.

_ Cũng trong thời gian ấy, cả thế giới (trừ Trung-quốc) đều có chính sách ngoại giao rất đẹp với Việt-Nam: Hoa-kỳ (Tổng-thống Bill Clinton), Liên-Âu, các nước ASEAN đang theo đuổi chính sách ngoại giao rất mềm dẻo với Việt-Nam. Nhất là Tổng-thống Clinton kư sắc lệnh bỏ cấm vận Việt-Nam, mở cửa cho sinh viên Việt-Nam sang du học Hoa-kỳ, mở cửa cho hàng Việt-Nam được nhập vào Hoa-kỳ. Nói tóm lại thời gian từ nửa năm 1999 cho đến cuối năm 2000, Việt-Nam không bị một áp lực quốc tế nguy hiểm nào, đến độ phải nhượng đất, nhượng biển cho Trung-quốc để được viện trợ vũ khí, để được che chở.

_ Cũng thời gian trên, Trung-quốc, Việt-Nam không có tranh chấp lănh thổ, không có đụng chạm biên giới, không có căng thẳng chính trị, không có chiến tranh.

Vậy v́ lư do nào mà các ông ấy cắt đất, cắt biển cho Trung-quốc?

4.2, Chi tiết vụ cắt đất,

Vụ cắt đất kư ngày 30-12-1999, th́ tôi được biết tin chi tiết, do hai kư giả Trung-quốc là bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000. Nghĩa là 10 ngày sau. Hai anh thuật, theo tinh thần bản hiệp định th́:

_ Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nươc), thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn.

_ Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm về việc thi hành. Quan trọng nhất là :

_ Nhượng vùng Cao-bằng, sát tới hang Pak-bó, nơi Chủ-tịch Hồ Chí Minh ẩn thân lănh đạo cuộc kháng chiến. Hang này trở thánh địa của đảng Cộng-sản Việt-Nam. Trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50 km), nay nằm sát biên giới.

_ Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc tỉnh Lạng-sơn nơi có cửa ải Nam-quan.

Thưa Qúy-vị

4.3, Ảnh hưởng vụ cắt đất,

4.3.1, Mất biểu tượng năm ngh́n năm của tộc Việt,

Khu Ải Nam-quan này là vùng đất thiêng, là Thánh-địa trong mấy ngh́n năm của người Việt. Bất cứ người Việt nào từ 6 tuổi trở lên đều biết rằng Ải Nam-quan là vùng đất tượng trưng biên giới phía Bắc, tượng trưng cho lănh thổ, cho tinh thần tự chủ, cho niềm niềm tự hào của họ. Đây là vùng đất đi sâu vào lịch-sử, văn-học và tâm tư toàn thể người Việt.

Trở về quá khứ, trong lần mạn đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch-Đông và Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Chủ-tịch Mao Trạch-Đông đă nói:

" Cái tên Ải Nam-quan, nhắc nhở đến cuộc chiến do bọn phong kiến Hoa, Việt làm xấu t́nh hữu nghị nhân dân. Tôi xin đổi thành Muc Nam-quan. Mục là mắt, coi như nhân dân Trung-quốc luôn hướng mắt nh́n về nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại coi như mắt của nhân dân Việt luôn nh́n về Bắc với t́nh hữu nghị".

Chủ-tịch Hồ Chí-Minh vui vẻ chấp thuận. Nhưng trên thực tế, chỉ có phía Trung-quốc in trên bản đồ địa danh Mục Nam-quan mà thôi. C̣n phía Việt-Nam trên bản đồ hành chính, trên báo chí, văn học, vẫn dùng từ Ải Nam-quan hay cửa Hữu-nghị.

Cửa Nam-quan (Hữu-nghị) cũ nay thuộc lănh thổ Trung-quốc. Ảnh chụp tháng 8-2001, cửa Nam-quan cũ lùi lại sau: Cửa Hữu-nghị mới!!!

4.3.2, Mất cửa ngơ giao thông lịch sử giữa tộc Hoa, tộc Việt,

Tôi đă nhiều lần từ Việt-Nam sang Trung-quốc bằng cửa ải này và ngược lại. Lănh thổ Hoa-Việt được phân chia bởi một con sông nhỏ. Đây là cửa họng giao thông của Trung-quốc, Việt-Nam bằng đường bộ. Suốt hơn mấy ngh́n năm qua, dân Hoa-Việt giao thương đều qua đây. Chính v́ vậy mà con đường quốc lộ xuyên Việt mang tên Quốc-lộ 1, được đánh số cây số Zéro từ đầu cây cầu Nam-quan. Tất cả thư tịch Việt-Nam đều chép rằng:

" Con đường Bắc-Nam khởi từ ải Nam-quan".

Hoặc :

"Lănh thổ Việt-Nam Bắc giáp Trung-hoa, khởi từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu, theo h́nh chữ S".

Bây giờ nếu Quư-vị vào Website của Bộ Ngoại-giao Việt-Nam, Quư-vị sẽ không thấy hàng chữ trên, mà chỉ thấy câu:

"Lănh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc".

Thưa Quư-vị

Cái cây số không đó là cây số 1,5 cũ đấy. Cột cây số Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 1,5 cây số. Từ cây số Zéro đến cây số 1, 5 nay thuộc Trung-quốc.

Sát cây cầu Nam-quan, phía bên Trung-quốc cũng như Việt-Nam, đều có nhiều cơ sở:

_ Cơ sở Hải-quan,
_ Băi đậu cho hằng trăm xe tải, để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế.
_ Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát Passeport,
_ Đồn của quân đội để tuần pḥng, bảo vệ lănh thổ,
_ Hằng chục cơ quan, khác như Bưu-điện, Ngân-hàng, công ty điện, nước.
_ Về phía dân chúng, hằng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn.

Các cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiến tranh Hoa-Việt 1978, quân đội Trung-quốc đă san bằng hết. Kể cả cây cột biên giới.

Tuy vậy sau chiến tranh, đă xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân chúng cả hai bên đă xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ, và hiện đại hơn cũ. Nhưng từ khi hiệp định 30-12-1999 kư th́ toàn bộ khu này thuộc Trung-quốc. Những cơ sở đó bây giờ được thay bằng một ṭa nhà duy nhất.(H́nh đính kèm)

4.3.3, Mất dân, mất di tích lịch sử,

Đi sâu vào khu vực phía Nam của Nam-quan ít cây số nữa là quận lỵ Đồng-đăng, rồi tới tỉnh lỵ Lạng-sơn. Đây cũng là đất thiêng, khu có di tích văn hóa lịch sử của tộc Việt: Động Tam-thanh, tượng núi Tô-thị, thành của bọn giặc Mạc trên núi. Vùng Lạng-sơn xưa là Thủ-đô của con cháu giặc Mạc Đăng-Dung, mà năm 1540 đă dâng đất cho Trung-quốc, để được bao che cát cứ quân phiệt một thời gian. Trong chiến tranh Hoa-Việt 1978, hầu như toàn bộ các cơ sở kỹ nghệ, cầu cống, dinh thự, di tích tôn giáo, lịch sử, cơ sở hành chính, thương mại, kể cả nhà cửa của dân chúng bị san bằng. Chắc Quư-vị cho rằng tôi dùng từ Coventry có đôi chút quá đáng. Thưa Quư-vị từ Coventry cũng chưa đủ để chỉ việc quân đội Trung-quốc đă làm ở Lạng-sơn. Kinh khiếp nhất là động Nhất-thanh, Nhị-thanh, Tam-thanh, họ cũng dùng đại bác bắn vào làm hư hại rất nhiều.

Đi sâu về phía Nam ít cây số nữa là Ải Chi-lăng, nơi mà quân Trung-quốc vượt qua không biết bao nhiêu lần để tiến về thủ đô Thăng-long của Việt-Nam xưa. Tại đây đă diễn ra những trận chiến ác liệt, khiến ít nhất 73 vạn quân của các triều đại Tống, Mông-cổ, Minh, Thanh bị giết.
 

Và cũng tại đây, có không biết bao nhiều tướng của các triều đại trên bị tử trận. Khi quân Việt giết những tướng, dù vào thời kỳ nào chăng nữa th́ đầu vẫn bêu tại một mỏm núi, gọi là núi Đầu-quỷ. Tại ải Chi-lăng, núi Đầu-quỷ đều khắc bia đá ghi lại di tích lịch sử. Hồi chiến tranh Hoa-Việt 1978, khi các tướng Hồng-quân cho quân tiến đến đây, nghe nhắc chuyện cũ th́ họ toát mồ hôi lạnh, phải ngừng lại. May mắn thay khu này vẫn c̣n thuộc lănh thổ Việt.(2 h́nh đính kèm)

Bia lưu niệm Ải Chi-lăng

Cửa Ải Chi-lăng, yết hầu biên giới vào đồng bằng Bắc-bộ

Trở lại vùng đất mà đảng Cộng-sản Việt-Nam đă nhượng cho Trung-quốc, dĩ nhiên họ nhượng cả dân chúng nữa. Trong năm ngh́n năm lịch sử chiến tranh Hoa-Việt, dân chúng, chiến sĩ tại vùng này là lực lượng đầu tiên chống quân Trung-quốc. Họ phải hy sinh tính mạng, tài sản đầu tiên, khi quân Trung-quốc đánh sang. Có không biết bao nhiêu di tích, huyền sử về núi non, về sông ng̣i, về cuộc chiến, về gương anh hùng. Chính quyền các triều đại đều tuyên dương công lao của họ, họ từng hănh diện đời nọ sang đời kia. Bây giờ vùng này trao cho Trung-quốc, kẻ thù năm ngh́n năm của họ. Họ bị mất mát quá nhiều về tinh thần. Họ phải cúi mặt chịu sự cai trị của kẻ thù. Bao nhiêu di tích lịch sử, huyền sử phải phá bỏ, không được nhắc tới. Thương tổn tinh thần quá lớn.

Gần đây nhất, trong chiến tranh 1979, phía Việt cũng như Trung-quốc, chôn trên lănh thổ ḿnh, dọc theo biên giới mấy chục vạn quả ḿn. Sau chiến tranh mới đào lên. Phía Việt lập rất nhiều đồn, hầm, công-sự chiến đấu dọc biên giới thành 4 ṿng đai. Mấy chục ngh́n chiến sĩ Việt tử trận tại đây. Hiện những cơ sở đó vẫn c̣n. Trong khu vực này dân chúng, gia đ́nh liệt sĩ đă ghi dấu tưởng niệm thân hân họ. Nay trao cho Trung-quốc, dĩ nhiên các di tích này bị phá hủy. Dân chúng đang là lực lượng chong mặt với kẻ thù, bảo vệ lănh thổ, nay họ bỗng trở thành những người Trung-quốc bất đắc dĩ. Các ṿng đai pḥng thủ bị mất. Dân tộc Việt-Nam mất mát về an ninh quá nhiều.

4.4, Vụ cắt lănh hải,

Hiệp định phân định lănh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.

Từ giữa thế kỷ thứ 19 về trước, chưa từng có việc ấn định rơ lănh hải Việt-Hoa. Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 15, Việt-Nam đă định lănh hải qua vụ nhà vua sai vẽ Hồng-đức bản đồ. Theo bản đồ này th́ các quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa (Nam-sa) thuộc Đại-Việt. Và hai quần đảo đó đều thuộc Việt-Nam cho đến khi Bộ Chính-trị thời 1958 trao cho Trung-quốc (trên lư thuyết).

Vào những thời kỳ ấy (1500-1887) , Thủy-quân cũng như thương thuyền, tầu đánh cá của cả Hoa lẫn Việt chỉ là những thuyền nhỏ, không ra xa bờ biển làm bao, nên chưa có những đụng chạm.

Sau khi triều Nguyễn của Việt-Nam kư ḥa ước năm 1884, công nhận quyền bảo hộ của Pháp; th́ người Pháp mới định rơ lănh hải. Nước Pháp với tư cách bảo hộ Việt-Nam, đă kư với Thanh-triều ḥa ước 1887, định rơ lănh hải trong vùng vịnh Bắc-Việt. Đối với ḥa ước này, Việt-Nam đă chịu khá nhiều thiệt hại, v́ mất một số đảo, mà dân chúng là người Việt, nói tiếng Việt, mặc y phục Việt, sống trong văn hóa Việt. Cho đến nay (2001), dân trên các đảo này vẫn c̣n nói tiếng Việt, ẩm thực theo Việt, và dùng y phục Việt. (Chúng tôi đă từng thăm vùng này hồi 1983).

Tuy nhiên với ḥa ước 1887, lănh hải vịnh Bắc-Việt được phân chia như sau:

Trung-quốc 38 %

Việt-Nam 62%

Đối với người Pháp, thời đó họ chưa hiểu rơ t́nh trạng giữa Trung-hoa và Việt-Nam, họ thấy Thanh-triều chấp nhận 38%, th́ cho rằng ḿnh thắng thế. C̣n Thanh-triều khi đạt được 38%, họ coi như một món quà trên trời rơi xuống. V́ trong quá tŕnh lịch sử, Trung-quốc vẫn coi vịnh Bắc-Việt là của Việt-Nam.

Chứng cớ:

_ Vùng đất Hợp-phố là đất cực Nam của Trung-quốc, thế nhưng lại có hải cảng Bắc-hải. Bắc đây chỉ có thể là Bắc đối với Việt-Nam. Nếu là đất của Trung-quốc họ phải gọi là thị xă Nam-hải chứ? Rơ ràng vùng này là đất cũ của Việt-Nam.

_ Vùng vịnh nằm ở phía Nam Trung-quốc, phía Tây đảo Hải-Nam, phía Đông Bắc Việt-Nam mà Pháp-Hoa kư ḥa ước 1887 đó, Việt-Nam gọi là vịnh Bắc-Việt. Trung-quốc cũng gọi là vịnh Bắc-bộ. Cho đến nay (2001), họ cũng vẫn dùng tên đó. Vậy th́ rơ ràng vịnh này của Việt-Nam. Nếu của Trung-quốc th́ họ phải gọi là vịnh Nam-bộ chứ?

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 15,

Có sách Tây-phương nào viết về vấn đề này không?

Gs TĐS

Nhiều lắm, tôi xin cử ra vài tài liệu mới đây:

Edward H.H, Schafer trong Shore of Pears (châu Nhai)
(Berkley-London 1970),

Tác giả căn cứ vào khai quật, cũng như khảo cổ đă kết luận rằng:

Vào thời Hán, đảo Hải-Nam không có đường thông thương với Trung-quốc. Đảo này thuộc Giao-chỉ. Tất cả thương thuyền đều từ Giao-chỉ tới.

(TĐS ghi chú dành riêng cho người Việt: Tôi đă tới Hải-Nam nghiên cứu 2 lần. Tại đây tôi t́m ra nhiều di tích thời vua Trưng, nên trong bộ "Cẩm-khê di hận" tôi đă thuật lại trận chiến giữa Hán-Việt. Nhiều "học giả" ngu dốt, công kích tôi, thấy họ ngu quá tôi không trả lời.)

Cử tọa hỏi câu hỏi thứ 16,

_ Xin cho biết việc phân chia lănh hải Hoa-Việt theo hiệp ước 1884?

Gs TĐS,

Tôi xin chiếu lên để Ngài thấy.

Đảo Hải-Nam, lănh thổ thời Lĩnh-Nam (vua Trưng) về trước. H́nh vẽ trong sách của E.H. Schefer.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 17,

_ Tôi thấy bản đồ đính kèm bản tuyên bố 1958 của Trung-quốc, chỉ ấn định vùng biển Nam-hải, mà không đề cập đến vịnh Bắc-bộ. Như vậy có nghĩa rằng họ công nhận lănh hải trong vịnh theo Hiệp-ước Pháp-Thanh 1887?

Gs TĐS

_ Quả đúng như Ngài suy đoán. Nhưng chỉ v́ gần đây Trung-quốc biết được trong vịnh có trữ lượng dầu lửa lớn, nên mới đ̣i VN, cắt vùng này cho họ.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 18

_ Cho chúng tôi chứng cớ.

Gs TĐS

_ Thưa có rất nhiều.

Trước hết là những hoạt động của Trung-quốc trong vùng vịnh này.

_ Ngày 19 rồi 30-8-1992, Trung-quốc đưa hai tầu t́m dầu lửa trong vịnh Bắc-bộ.

_ Ngày 30-9-1992 tầu Nam-hải 6 của Trung-quốc xâm nhập vùng cách Đông-Nam cửa biển Ba-lạt của VN 112km.

_ Ngày tầu Phấn-đấu 5 nghiên cứu tại cửa biển Hải-pḥng, cách bờ biển Thái-b́nh 70 dậm.

Phía VN phản đối, nhưng Trung-quốc chối rằng họ đâu có nhập hải phận VN.

_ Trung-quốc tự định lănh hải trong vịnh Bắc-bộ, vượt ranh giới lănh hải ấn định bởi Hiệp-ước Pháp-Thanh, họ tự đặt tên là Tây-thủ (Main de l'Est, Hands off area), rồi cấm ngư phủ, Thủy-quân Việt đi vào.

_ Về phía chúng ta, từ năm 1970, người Hoa-kỳ đă thăm ḍ t́m dầu lửa trong biển Nam-hải, và vịnh Bắc-bộ. Tài liệu của báo Petroleum News (USA,Feb.1984), đăng bản đồ của Selig S. Harrison chỉ rơ khu có dầu lửa.

Khu vực Trung-quốc tự ấn định mới đây (1883) rồi cấm Hải-quân, Thương-thuyền, thuyền đánh cá Việt-Nam đi vào mang tên Tây-thủ (Hands off area)

Kính thưa Quư-vị

Chúng tôi xin chiếu bản đồ phân chia lănh hải, cũng như khu vực đánh cá mới theo Hiệp-định 25-12-200

Bản đồ lănh hải theo hiệp định 25 tháng 12 năm 2000

Bản đồ hiệp định mới về khu vực đánh cá dành cho Trung-quốc (25-12-2000)

Như vậy theo hiệp định Việt-Hoa 25-12-2000 th́ vùng vịnh Bắc-bộ được chia ra như sau:

Việt-Nam 53%

Trunguốc 47%.

So với trước 1887 th́ Việt-Nam chỉ mất có 38%, nay mất thêm 9% nữa, cộng chung là 47%!

4.5, Ảnh hưởng vụ cắt lănh hải,

4.5.1, Mất lănh hải, quốc sản

Theo hiệp định này th́ rơ ràng đảng Cộng-sản Việt-Nam đă nhường cho Trung-quốc tới 9% lănh hải vùng vịnh Bắc-Việt. Cái đau đớn là vùng nhượng là vùng:

_ Có nhiều hải sản về cá thu, cá song, cá hồng, mực là những loại hải sản quư.

_ Dưới đáy biển có mỏ hơi đốt, và dầu lửa.

_ Một số đảo trong vùng nhượng, thuộc Trung-quốc.

4.5, An ninh quốc gia bị đe dọa.

Nếu vụ nhượng đất nguy hại về phương diện tinh thần, kinh tế, th́ vụ nhượng lănh hải lại nguy hại về an ninh. V́ Trung-quốc có thể dùng các đảo này làm phi trường quân sự, căn cứ Hải-quân để uy hiếp Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh trung châu Bắc-Việt và miền Trung, miền Nam Việt-Nam.

Tin của ECL ghi lại, trong những cuộc hội đàm Hoa-Việt về lănh hải, Trung-quốc đ̣i cho được mấy đảo nhỏ trong vùng, nhất là đảo Bạch-long vĩ. Hiện th́ đảo này vẫn thuộc Việt-Nam. Nhưng trong các cuộc đàm phán hiện c̣n đang tiếp diễn th́ Trung-quốc cố đ̣i, phía Việt-Nam, trong nội bộ cũng đă đồng ư. Cũng những tin của ECL về các cuộc hội của Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam th́ việc chủ trương nhượng các đảo do quyết định của toàn thể, không do ba ông Cố-vấn Đỗ Mười, Lê Đức-Anh hay Vơ Văn-Kiệt. Để tỏ ư hoàn toàn quy phục Trung-quốc. Bộ Chính trị, cũng trao cho Trung-quốc toàn bộ kế hoạch pḥng thủ phía Bắc Việt-Nam. Theo ư kiến chúng tôi, th́ trong Bộ Chính-trị bấy giờ, nhóm quân đội rất mạnh, chủ chốt có ba vị tướng là Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn. Trong tài liệu này, có phần ước tính t́nh h́nh Trung-quốc, Việt-Nam, đại lược như sau:

"_ Trung-quốc không có khả năng dùng Không-quân tấn công vào Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh đồng bằng Bắc-bộ. V́ khoảng cách từ các phi trường Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam, Hải-Nam quá xa. Phi cơ chỉ có thể tới oanh tạc, nhưng trở về th́ không đủ nhiên liệu.

_ Nếu Trung-quốc tiến công bằng đường bộ, th́ ít nhất phải có một triệu quân. Với một triệu quân mỗi ngày cần 10.000 lượt ô-tô tiếp tế. Mà đường bộ th́ các ngả Lai-châu, Lào-cai, Hà-giang không dùng được. Chỉ có ba ngả chính tạm dùng. Một là Lạng-sơn, hai là Hạ-long (Quảng-yên cũ) ba là Cao-bằng. Ba ngả đó đường xá gồ ghề, núi non hiểm trở. Với 10.000 lượt xe, th́ chỉ ba ngày là đường nát hết.

_ Địa thế hiểm trở, khúc khuỷu của ba con đường này, chỉ cần ba người đóng một chốt, cũng đủ cản trở một ngày tiếp tế.

_ Trong bối cảnh chiến tranh Hoa-Việt xẩy ra, th́ Thủ-đô cũng như Bộ Chính-trị, Bộ Tổng Tư-lệnh có thể chuyển vào Thành-phố Hồ Chí-Minh.

_ Trường hợp đó bắt buộc Trung-quốc phải dùng đường biển tiếp tế, chuyển quân. Hai quân cảng lớn sử dụng sẽ là Bắc-hải, Quảng-châu, Hải-Nam. Cả ba cùng xa, rất khó khăn".

Nếu bây giờ Trung-quốc được mấy đảo trong vịnh Bắc-Việt, nhất là đảo chiến lược Bạch-long-vĩ, rất gần với thềm lục địa của trung châu Bắc-bộ , miền Trung và miền Nam. Nếu như Trung-quốc được đảo này, rồi thiết lập căn cứ Không-quân, Hải-quân, trạm tiếp vận tại đây, th́ toàn bộ lănh thổ Việt-Nam bị uy hiếp nặng nề. Ông Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn đều là tướng lănh, từng cầm quân trên 40 năm, th́ các ông phải biết rơ điều đó. Biết, nhưng các ông vẫn làm, th́ có nghĩa là các ông muốn: "Việt-Nam vĩnh viễn nằm trong ṿng kiềm tỏa của Trung-quốc". C̣n như các ông ấy làm việc đó để

Được ǵ, cho ai, v́ ai

th́ tôi chịu.

5. Kết luận,

Kính thưa Quư-vị

Cảm ơn Quư-vị đă kiên nhẫn ngồi nghe chúng tôi điều trần. Trước khi chấm dứt, chúng tôi xin có đôi gịng kết luận:

5.1, Phần thứ nhất,

Theo những huyền thoại cổ th́ vị hoàng đế lập quốc Việt-Nam và Trung-quốc là anh em cùng cha khác mẹ, lănh thổ Việt-Nam Bắc tới hồ Động-đ́nh, tức bao gồm phần Hoa-Nam, kể từ sông Trường-giang đến vịnh Thái-lan. Thế nhưng trải gần 5 ngh́n năm, bị Trung-quốc chiếm dần, cuối cùng chỉ c̣n lại phần lănh thổ hiện nay. Trong thời gian ấy, bất cứ triều đại nào, vị vua nào của Trung-quốc cũng muốn chiếm Việt-Nam đặt làm quận huyện. Tính chung, Việt-Nam bị Trung-quốc đô hộ gần ngh́n năm. Cho nên bất cứ người Việt-Nam sinh ra cũng đều biết rằng họ luôn luôn phải cảnh giác với cái họa Trung-quốc đe dọa. Hóa cho nên trong giáo dục , trong văn học, trong tín ngưỡng, người Việt luôn đề cao các anh hùng chống xâm lăng Trung-quốc. Thời nào cũng thế, người Việt có thể chia rẽ, chém giết nhau, nhưng khi có họa xâm lăng của Trung-quốc, th́ tất cả quên hết, để cùng nhau giữ nước.

Nhưng không ngờ!

Chúng tôi không bao giờ tưởng tượng nổi!

Toàn thể người Việt trong nước cũng như ở ngoại quốc cũng không thể tin được rằng:

Đảng Cộng-sản từ năm 1930 đến nay (2001), lúc nào cũng nêu cao ngọn cờ yêu nước, mà họ lại cắt đất, cắt biển cho Trung-quốc. Họ vỗ ngực tự tôn rằng họ với Trung-quốc bang giao trên thế b́nh đẳng. Việt-Nam với Trung-quốc luôn luôn thân với nhau như môi với răng. Bây giờ họ lại chịu nhục như thế. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt-Nam lại chịu lụy Trung-quốc như vậy!

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 19,

_ Chúng tôi có một thắc mắc hết sức quan trọng là đối với Hoa-kỳ, Canada, Úc-đai-lợi, Liên-Âu th́ VN dè đặt, nghi ngờ trong vụ việc đầu tư. Sau khi đầu tư rồi, họ t́m đủ cách để làm cho tê liệt các hoạt động. Đối với Hoa-kỳ, Pháp, đều có thời là kẻ thù của họ, th́ hiểu nổi. C̣n Canada, Úc, Liên-Âu, họ cũng đối xử cùng một thái độ.Trong khi đối với Trung-quốc th́ họ hết sức dễ dàng, sau khi đầu tư, họ dành cho mọi ưu đăi?
Gs TĐS,

_ Thưa Ngài Chủ-tịch. Vấn đề này rất dài. Xin ngài cho tôi 2 giờ trong cuộc điều trần định kỳ vào tháng 3-2002 mới có thể nói hết được.

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 20,

_ Đối với Tây-phương, chính sách của VN nghi ngờ có thể hiểu được. Ban điểm báo cũng như sưu tầm không ngớt tŕnh cho chúng tôi những tin tức, những lời kêu gọi Việt-kiều về nước đầu tư. Chúng tôi điểm lại, không thấy Việt-kiều nào về nước đầu tư mà thành công. Hầu hết họ bị cướp đoạt, thậm chí bị tù, mà không có tội ǵ cả. Không lẽ chính quyền Việt-Nam lại lỡ làm những việc đạo tặc như vậy sao? Xin Giáo-sư vắn tắt cho các vị hiện diện hôm nay biết vụ việc đó.

Gs TĐS
_ Người Việt ở ngoại quốc, đối với đảng Cộng-sản, đều là Ngụy, là Việt-gian, là Phản-động. V́ vậy khi người nào mang tiền về đầu tư, th́ họ muốn lấy, muốn bỏ tù, tùy thích. Tôi xin tường thuật một vụ tiêu biểu nhất là vụ Trịnh Vĩnh-B́nh ở Ḥa-lan. (Tóm lược vụ việc trong 15 phút).

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 21,

_ Có bao nhiêu vụ như vụ Trịnh Vĩnh-B́nh?

Gs TĐS,

_ Nhiều, rất nhiều, cực nhiều. Tổng kết chúng tôi sưu tầm trong 10 năm từ 1990-2000 được 204 hồ sơ, mà số vốn đem về từ 1,5 triệu USD trở lên rồi bị mất trắng.

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 22,

_ Xin cho biết một vụ tại Pháp, dễ kiểm chứng nhất.

Gs. TĐS,

_ Đó là một người trẻ 45 tuổi (sinh 1949), tên là Hoareau Jules. Quốc tịch Pháp đă 2 đời. Bố, mẹ gốc là người Việt, nhập tịch Pháp vào năm 1943. Bố nguyên là sĩ quan, trí thức trong quân đội Pháp. Mẹ là thương gia. Anh em đều thành đạt, có người là dược sĩ, có người là thương gia, có người là kỹ sư. Jules cũng có học, từng kinh doanh tại Pháp, thành công về tài chánh. Trong một chuyến du lịch VN năm 1993, Jules được chào mời về đầu tư. Trở lại Paris, Jules quyết định mang một số tiền lớn về đầu tư vào dịch vụ Hotel-Restaurant. Năm 1994, Jules thành lập Hotel-Restaurant mang tên Quick tại đường Nguyễn Đ́nh-Chiểu, thuộc quận 3, TP Hồ Chí-Minh. Địa điểm này gần với ṭa Lănh-sư Pháp. V́ rất kinh nghiệm trong nghề, nên chỉ một thời gian ngắn, cuối năm 1994, cơ sở của Jules đă nổi tiếng, lợi nhuận lên cao. Nhưng tiền vào bao nhiêu lại ra đi bấy nhiêu, v́:

_ Phải nộp thuế chính thức rất cao.

_ Công an di trú tới, trung b́nh mỗi tháng một lần, điều tra, hỏi han lôi thôi. Mỗi lần như vậy phải lót tay 3 tờ (300 USD).

_ Công an khu vực nói thẳng, mỗi tháng phải nộp 5 tờ (500 USD).

_ Nhân viên kiểm soát khách sạn, nhà hàng đ̣i lót tay mỗi tháng 5 tờ (500 USD).

_ Bọn xă hội đen (du đăng) thu tiền hàng ngày, mỗi ngày 50 USD.

_ Mỗi ngày ít nhất hai, hoặc ba chức sắc dẫn người tới ăn, mà không được phép thu tiền. Khi ăn những khách đặc biệt này toàn uống Cognac Pháp, chứ không uống rượu thường.

Tuy vậy, sau hơn một năm cơ sở càng phát đạt hơn. Rồi bọn xă hội đen đ̣i một số tiền 10.000 USD, và hăm dọa: "Nếu không trao, sẽ bị Công-an tới bắt giam, Hotel-Restaurant sẽ bị đóng cửa". Biết rằng không trao số tiền này sẽ gặp nguy hiểm. Nhưng bất th́nh ĺnh th́ không thể kiếm đâu ra số tiền đó. Jules khất, để xin gia đ́nh gửi từ Pháp sang. Khổ một điều, khi Jules về VN đầu tư, gia đ́nh phản đối. Nay Jules xin tiền, gia đ́nh không trả lời. Thế là hai tháng sau th́nh ĺnh Công-an đến khách sạn, tông cửa vào một pḥng cho khách thuê. Trong pḥng có một thiếu nữ. Công-an lập biên bản là khách sạn chứa gái mại dâm. Jules căi rằng cô gái đó là do khách dẫn vào, th́ không phải lỗi ở Jules. Thế nhưng Jules cứ bị bắt giam ở khám Chí-ḥa. Khi gia đ́nh biết tin, th́ cha, mẹ vội bay sang thăm con. Người ta đ̣i: Phải nộp 10.000 USD th́ Jules sẽ được tha. Bố mẹ đành nộp tiền. Jules được thả ra. Nghĩa là Jules bị bắt không do Ṭa-án, lúc thả cũng không, và tiền phạt cũng không do ṭa. Khu Jules trở lại cơ sở Quick th́ hỡi ôi, chỉ c̣n cái nhà trống, máy lạnh, giường, bàn, ghế đều biến mất.

Bà mẹ Jules có quen thân với một số giới chức cao cấp VN. Khi sang VN, thấy con ḿnh bị tống tiền, bà làm lớn chuyện. Th́nh ĺnh bà lâm bệnh, phải trở về Paris điều trị. Chúng tôi khám phá ra bà bị đầu độc, cùng một loại thuốc với những loại mà tôi đă tŕnh bày trên. Hiện (10-2001) bà vẫn nói năng được, nhưng mắt bị mù, chân tay bất toại.

Quư vị có thể tham khảo hồ sơ này tại ṭa Lănh-sự Pháp ở TP Hồ Chí Minh, và tại IFA/Direction du Sud-Est.

5.1.1

Họ kết tội Pháp là Thực-dân, những người thân Pháp là Việt-gian. Họ nhục mạ triều Nguyễn (1802-1945) v́ triều đ́nh này từng kư ḥa ước vào năm 1862 và 1884, nhượng 6 tỉnh miền Nam cho Pháp. Trong những phần trên, tôi không kể việc triều Nguyễn kư hiệp ước nhường đất cho Pháp. Bấy giờ nước Pháp trên đường đi t́m thuộc địa, đă khai chiến với triều Nguyễn. V́ gươm đao, ghe thuyền không thể chống lại với liên thanh, đại bác, chiến hạm. Triều Nguyễn bị bại trận mà phải nhường đất, chứ không vị vua nào muốn như thế. Năm 1955, Pháp trả lại tất cả đất cho Việt-Nam. Hiện người Pháp không làm chủ một thước đất nào trên lănh thổ Việt-Nam, mà chỉ có mấy chục vạn người Việt đang làm chủ nhiều khu đất trên nước Pháp.

5.1.2,

Họ kết tội Hoa-kỳ là đế quốc, tất cả những người Việt thân Hoa-kỳ là Ngụy. Trong khi Hoa-kỳ không hề ép bất cứ chính quyền Việt nào, người Việt nào nhượng cho Hoa-kỳ một thước đất. Hiện không có một người Hoa-kỳ nào được làm chủ một thước đất trên lănh thổ Việt-Nam, mà chỉ có gần hai triệu người Việt-Nam làm chủ không biết bao nhiêu đất trên khắp các tiểu bang Hoa-kỳ.

5.2, Phần thứ nh́,

5.2.1,

Năm 1540, họ Mạc dâng đất cho Minh-triều, v́ bị triều Lê trung hưng ép phía Nam, bị 22 vạn quân Minh ép phía Bắc. Năm 1862,1884 tiều Nguyễn nhường 6 tỉnh miền Nam cho Pháp v́ bại trận. Tại sao:

_ Năm 1958, vào thịnh thời của Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, của Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản. Miền Bắc không bị miền Nam ép, không có chiến tranh với Trung-quốc, mà Chủ-tích Hồ Chí-Minh và Bộ Chính-trị lại chấp nhận nhượng vùng biển rộng lớn, trong đó có hai quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa (Nam-sa) cho Trung-quốc?

_ Năm 1999, 2000, trong nội địa Việt-Nam không có chiến tranh, cũng chẳng có đối lập. Hoa-kỳ, Liên-Âu đang theo đuổi chính sách ngoại giao mềm dẻo với Việt-Nam. Việt-Hoa không có chiến tranh. Thế mà Bộ Chính-trị lại cắt đất , cắt biển dâng cho Trung-quốc? Dâng v́ lư do ǵ? Để được ǵ? Họ có thể dâng bất cứ phần đất nào! Cớ sao họ lại dâng vùng Nam-quan, là vùng đất thiêng, mang tự hào của người Việt?

5.2.2,

Theo Hiến-pháp của Việt-Nam Dân-chủ Cộng-ḥa, của Cộng-ḥa Chủ-nghĩa Việt-Nam, bên cạnh Chính-phủ lúc nào cũng có Quốc-hội. Thỏa ước kư với Hoa-kỳ họ đưa ra Quốc-hội phê chuẩn. Thế nhưng ba lần cắt đất, Quốc-hội không được quyết định, không được bàn, và cũng không được biết. Liệu bây giờ, vụ việc nổ tung, họ có đem hai hiệp định 1999-2000 ra cho Quốc-hội phê chuẩn không? (Giáo-sư Tiến-sĩ Nguyễn Văn Canh công bố hiệp ước lănh thổ kư 31-12-1999, Quốc-hội VN đă thông qua vào tháng 6-2000. Chúng tôi đă hỏi 14 dân biểu, họ đều nói không biết ǵ, có lẽ họ loan báo xạo trên báo chí để lừa thế giới chăng?). Nếu như nay họ đem ra cho Quốc-hội biểu quyết hai hiệp định trên, th́ tôi tin rằng không có vị đại biểu nào dám bỏ phiếu thuận. Giả như Quốc-hội bác bỏ, th́ liệu Trung-quốc có chịu trả đất ở biên giới phía Bắc không? Họ có chịu rút người, rút bộ máy hành chánh, quân sự đă đặt gần hai năm qua về không? Nếu như họ không rút, th́ Quốc-hội Việt-Nam sẽ làm ǵ? Liệu VN có dám đem quân chiếm lại không? Tôi tin là không, v́ mấy ông tướng trong quân đội đă dâng th́ liệu các ông có dám đem quân tái chiếm chăng?

5.2.3,

Trong mấy năm qua, chúng tôi không đồng ư với Quư-vị, v́ trong việc bang giao tại Á-châu, Quư-vị có khuynh hướng coi Việt-Nam như một thuộc quốc, đôi khi tệ hơn, coi như một tỉnh của Trung-quốc. Tôi từng phản đối. Hôm nay đây tôi xin lỗi Qúy-vị! Quư-vị đă có cái nh́n đúng. Chúng tôi nh́n sai! Sai hoàn toàn, v́ hiện chính phủ CHXHCNVN, dường như chấp nhận để Trung-quốc đô hộ không chính thức. Khi Việt-Nam sắp kư thương ước với Hoa-kỳ, th́ Trung-quốc bắt phải ngừng, chờ Trung-quốc kư trước. Hơn năm sau VN mới lạch ạch kư, mà cho đến lúc này Quốc-hội VN vẫn chưa biểu quyết thông qua. Quư vị đều biết, trừ gạo và cá, c̣n những sản phẩm xuất cảng khác của VN, Trung-quốc đều giống nhau. Trung-quốc bắt VN kư sau một năm, chậm thông qua một năm nữa. Với 2 năm, Trung-quốc đă chiếm lĩnh xong thị trường. Rồi không chừng Trung-quốc t́m cách để làm chậm trễ thi hành ít năm nữa.

5.2.4,

Suốt 5 năm qua, Việt-Nam trở thành thuộc địa Trung-quốc về phương diện văn hóa. Nhất là từ khi Trung-quốc tiếp thu Hương-cảng.

_ Phim ảnh, âm nhạc Trung-quốc chiếm lĩnh hoàn toàn trên hệ thống truyền thanh, truyền h́nh và báo chí. Phim ảnh, âm nhạc Việt-Nam gần như bị đào thải. Mở bất cứ tờ báo chuyên về kịch ảnh, truyền h́nh, cũng chỉ thấy giới thiệâu phim Hương-cảng, Trung-quốc. Đi đâu cũng thấy giới trẻ luận bàn về những phim Trung-quốc, những diễn viên, ca sĩ, người mẫu Hương-cảng, Trung-quốc, mà không biết ǵ về những diễn viên, ca sĩ , người mẫu Việt. Diễn viên, ca sĩ , người mẫu Việt đói khổ quá, đến độ phải đi làm gái điếm. Báo chí Việt-Nam trong thời gian từ 30 tháng 10 đến nay 9 tháng 11 năm 2001, không ngớt tường thuật một dây gái điếm trên 200 người tại thành phố Hồ Chí-Minh, toàn diễn viên, ca sĩ, người mẫu danh tiếng; do tú bà Huỳnh-thị Ngọc-Quỳnh làm chủ. Mỗi lần đi khách như vậy, họ chỉ được 50 USD đến 150 USD, mà lại phải chia cho Tú-bà 30%. Rút cuộc họ chỉ được hưởng rất ít.

(5), Phát hiện đường dây gái gọi cao cấp Bắc - Nam

Rạng sáng 31/10, 6 người mẫu tên tuổi trong làng người mẫu Việt Nam, đều đến từ Hà Nội, đă bị Công an TP. Hồ Chí Minh bắt quả tang bán dâm cho khách tại 3 khách sạn TP. Hồ Chí Minh và một khách sạn Vũng Tàu.

Theo lời khai của những gái bán dâm hạng sang này, các cơ vào TP. Hồ Chí Minh kiếm tiền nhờ ''mối'' của ''tú bà'' Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh. Sau mỗi lần ''đi khách'' với giá từ 400.000 đến 15 triệu đồng (tùy ''tên tuổi'', đẳng cấp của người mẫu), bên bán chia cho Quỳnh 30% lợi nhuận để trả công dẫn dắt.

Khám nhà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh, cơ quan chức năng thu được một số tài liệu quan trọng chứng minh vai tṛ điều khiển đường dây ''gái gọi'' cao cấp này. Trong đó, có name card của nhiều nhân vật ''tiếng tăm'' trong một số lĩnh vực, 100 số điện thoại của các cô gái (đa phần hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh và tŕnh diễn thời trang) trong bộ nhớ của điện thoại di động. Đặc biệt, e-mail của nhiều khách, được Quỳnh chào ''hàng'' bằng chiếc vi tính nối mạng Internet tại nhà.

Theo tài liệu trinh sát của Đội phịng chống tệ nạn xă hội, Phịng cảnh sát H́nh sự, Quỳnh có khả năng cùng lúc đáp ứng 40 ''yêu cầu'', bởi trong tay ả có khoảng bằng ấy cô gái sẵn sàng ''đi khách'' tại bất cứ đâu, chỉ cần hẹn trước qua điện thoại. Khi cần, giới ăn chơi hàng ''đại gia'' chỉ mất công nhấc điện thoại, hô tên người đẹp. Việc đặt trước chỉ được áp dụng trong trường hợp những nhân vật này đ̣i ''hàng độc''. Việc mua - bán lâu, mau tùy thích, bởi người mẫu đến ở khách sạn thường không phải tŕnh giấy tờ và vào sổ như người thường.

6 người mẫu vừa bị bắt chỉ là một mảng nhỏ trong đường dây gái gọi do Ngọc Quỳnh điều khiển bị phát hiện. Là một thư kư văn pḥng gốc Huế giỏi tiếng Anh, vi tính và có những mối quan hệ rộng răi với giới kinh doanh và trí thức sang trọng trong và ngoài nước, Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh rất cĩ thể là một bà trùm trí thức chuyên ‘‘chăn dắt’’, điều phối đường dây gái gọi lớn xuyên Việt.

(Theo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Tiền Phong)

TP HCM: Phá một đường dây mại dâm lớn

Tối qua (30/10), 6 gái bán dâm "cao cấp" đă bị cơ quan công an bắt quả tang khi đang cùng khách mua dâm. Trong số này có vài cô từng là người mẫu thời trang, chỉ phục vụ giới thượng lưu.

Theo đánh giá ban đầu, đường dây do tú bà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh (35 tuổi, trú tại phường 15, quận Phú Nhuận) điều hành, đă hoạt động từ lâu.

Tại cơ quan điều tra, bà Quỳnh khai, giá cho mỗi lần "đi khách" với loại gái cao cấp này là 100 USD/người, c̣n bao trọn gái đi chơi xa là 500 USD/chuyến. Khi có nhu cầu, khách chỉ cần gọi vào máy điện thoại di động của tú bà Quỳnh. Vụ án đang được tiếp tục mở rộng.

Nhiều người mẫu, diễn viên có tên trong danh sách gái “cao cấp”

Đường dây gái gọi cao cấp do Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh tổ chức, bị phát hiện hơm 30/10, gồm hơn 100 cơ, đa số là người mẫu, diễn viên điện ảnh, cĩ thể tiếp nhận cùng lúc 40 đơn đặt hàng. Cơ quan công an đă phát hiện cuốn sổ ghi danh hàng trăm khách hàng là quan chức, doanh nhân, Việt kiều...

Ba người mẫu ngồi trong phịng hỏi cung với con mắt thất thần. Cứng tuổi hơn cả là N.T.H, sinh 1970, được giới tŕnh diễn thời trang biết đến dưới cái tên V.A. Vẫn gương mặt khả ái với bộ váy áo kiêu kỳ, cô trả lời câu hỏi của cán bộ điều tra bằng giọng nói nhỏ như hơi thở, nước mắt rưng rưng. Hai người khác là P.T.D. (1980), và N.T.H.Y. (1972). Họ cùng V.A., bị Đội Pḥng chống tệ nạn xă hội, Cơng an TP HCM bắt quả tang bán dâm tại 3 khách sạn lớn trong thành phố, ngày 30/10.

Đến 19h30' cùng ngày, ba gái cao cấp khác, bị bắt quả tang đang “hoạt động” tại một khách sạn ở Vũng Tàu, cũng được di lư về Cơng an thành phố. Một trinh sát, người c̣n lấm bụi đường chỉ cô gái trẻ, trông dáng rụt rè, nĩi: “Đó là người mẫu T.G.L, sinh 1981, từng đóng quảng cáo cho một mặt hàng khá phổ biến trên tivi”. Hai cô c̣n lại là H.T.C.T. (1983), T.K.M. (1977).

Chân dung mụ tú bà

“Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh là một trí thức và tất cả 6 cơ gái bị bắt quả tang trong đường dây này đều là người mẫu ở Hà Nội”, thiếu tá Trần Văn Ngọc, Đội phó Đội 8, Pḥng Cảnh sát h́nh sự TP HCM khẳng định.

Quỳnh, sinh 1966, cử nhân Anh văn, giáo viên tin học, độc thân, quê ở Huế, vào TP HCM khi c̣n nhỏ. Quỳnh khai, các cô đào phục vụ ở nhà hàng, khách sạn thường than thở là thu nhập chỉ được... 200.000 đồng/ngày, lại c̣n bị khách hành hạ đủ kiểu, nên nhờ thị t́m người sang trọng, trí thức để “lao động nhẹ nhàng hơn”. Vậy là Quỳnh môi giới cho họ gặp những cán bộ nhà nước, “đại gia” mà ḿnh biết, và đứng giữa ăn hoa hồng.

Cơng việc tiến triển, tú bà chuyển sang quan hệ với giới người mẫu, diễn viên điện ảnh. Trong bộ nhớ máy điện thoại di động của Ngọc Quỳnh, có hơn 100 số điện thoại của rất nhiều cô gái có tên tuổi. Quỳnh thú nhận, nếu cùng lúc có 40 yêu cầu th́ cũng có thể điều phối, bố trí được. Riêng hàng độc th́ phải đặt trước để xếp lịch. Quỳnh có nhiều kênh để tiếp thị hàng, trong đó có cả Internet để quảng cáo tới khách ngoại quốc.

Khám xét nơi ở của Quỳnh, công an thu được nhiều giấy tờ quan trọng và một “ổ” namecard, cùng cuốn sổ ghi danh hàng loạt nhân vật quan trọng, từ cán bộ, đến doanh nhân và giới Việt kiều... Để được đáp ứng yêu cầu, những người này phải bỏ ra ít nhất 400.000 đồng/lần, phổ biến là 100 USD/lần. Những bông hoa có tiếng giá lên tới 500-1.000 USD/đêm. Tỷ lệ ăn chia giữa gái và tú bà là 7-3.

Con đường biến người mẫu thành “gái gọi”

Theo lời khai của 6 cô gái, họ hầu hết có văn hóa 12/12, có người đang theo học đại học... Một điểm chung nữa là họ mới "đi khách” được hơn một tháng, và đều “vơ t́nh” qua sự giới thiệu lẫn nhau.

Kể về con đường dẫn ḿnh tới hoạt động phi pháp này, T.G.L., 20 tuổi, khai: “Năm 1997, tôi tham gia lớp người mẫu tại báo T.T.T., được nửa năm th́ đi diễn thời trang. Tôi không làm chính thức cho công ty nào, thường biểu diễn ở Cung Văn hĩa Hà Nội... Trong thời gian vào TP HCM học tiếp viên hàng không, tôi gặp cô V.A., và v́ muốn cĩ tiền để học, tôi đă nhờ V.A. giúp. Cô này quen và cho bà Quỳnh số điện thoại của tôi. Bà Quỳnh hẹn gặp mặt, cho biết khi cĩ khách sẽ gọi. Tôi vào đường dây này được tháng rưỡi nay, bán dâm được 8 lần, giá mỗi lần 100-150 USD”.

Cịn V.A., 31 tuổi, khai: “Cách nay 2 tháng, tôi vào Sài Gịn chơi và đến khách sạn Mặt Trời, trên đường Nguyễn Hữu Cầu, quận 1, hát karaoke. Trong số bạn bè của tôi cĩ người quen biết chị Quỳnh, nên chị ấy đă đến làm quen, và xin số điện thoại của tôi để mơi giới bán dâm. Tôi gia nhập đường dây này được tháng nay...”.

T.K.M., 24 tuổi, tốt nghiệp Đại học Mở Hà Nội (khoa Ngoại ngữ), th́ khai chi tiết hơn: “Tôi đi khách được tháng nay, do bà Quỳnh làm chủ. Giá 100-500 USD. Nếu đi một giờ th́ 100 USD, nếu qua đêm với khách tại TP HCM th́ 200 USD. C̣n đi Vũng Tàu một ngày là 500 USD. Tỷ lệ ăn chia: tôi 70%, bà Quỳnh 30%. Tôi làm gái là do cô L. giới thiệu, bởi bạn trai của L. là bạn thân với bạn trai tôi. Từ khi làm với bà Quỳnh, tôi được kêu đi khách 4 lần. Ngoài ra, tôi c̣n đi với khách quen 2 lần... Tôi từng làm người mẫu để quảng cáo cho mỹ phẩm của công ty mỹ phẩm K.M. của nước ngoài. Ngoài ra, tôi c̣n cùng L. làm người mẫu ở Hà Nội, thuộc nhĩm Ngôi Sao Xanh”.

Ai đứng sau thị Quỳnh?

Tú bà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh khai, cịn một người tên H. cũng làm môi giới, và thị phải chia cho nhân vật này 50% lợi nhuận thu được từ những phi vụ “hoạt động” của gái.

Lời khai của các cô gái bị bắt đề cập khách sạn H.N. trên đường Nguyễn Văn Thủ, Đ.H.H. đường Nguyễn Thị Minh Khai, L.B. đường Bùi Thị Xuân..., và cả một nhà nghỉ của cơ quan nhà nước. Đây được coi là “băi đáp” an tồn, bởi gái của Quỳnh chỉ cần nói số pḥng ḿnh cần lên, là được vào thẳng, không cần gửi lại giấy chứng minh nhân dân, và sự hiện diện của họ cũng không được thể hiện trên sổ sách. Điều này dẫn tới nghi vấn về sự mẫn cán của các lực lượng chuyên làm công tác kiểm tra.

Đường dây Ngọc Quỳnh tồn tại nhờ khách nội

Khi bắt khẩn cấp tú bà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh ở đường Nguyễn Trọng Tuyển, phường 15, quận Phú Nhuận, TP HCM, lực lượng phịng chống tệ nạn Cơng an thành phố thu giữ được danh sách của hàng trăm khách mua dâm, ghi đầy đủ cả chức vụ, điện thoại. Ngọc Quỳnh khai, trong số đó, dân làng chơi nước ngoài chỉ chiếm 20%.

Cùng với danh sách này, cơ quan công an c̣n phát hiện những cuốn album dán ảnh cả trăm người mẫu với trang phục áo tắm hai mảnh để quảng cáo, chào hàng và thỏa thuận giá cả với khách. Để quảng cáo cho gái, Quỳnh đặt ở nhà hai dàn máy tính nối Internet, mà theo lời giải thích của một người mẫu bán dâm, là để chào khách du lịch nước ngồi.

Tuy nhiên một số cô gái bị bắt cho biết, họ không thích “đi” với khách ngoại quốc, v́ họ quá ṣng phẳng. Đă ngă giá bao nhiêu th́ chi bấy nhiêu. C̣n khách “nội”, nhiều khi c̣n được “boa” gấp 2-3 lần giá thỏa thuận ban đầu, nếu biết làm vừa ḷng “các sếp”. Đó là chưa kể được dẫn đi mua sắm đồ hiệu, nữ trang cao cấp... Bên cạnh đó, nếu gặp được các ông chủ doanh nghiệp cĩ máu mặt, sau lần gặp gỡ c̣n hé mở nhiều cơ hội để các cơ "tiến bước". Họ có thể được tham gia các hợp đồng làm người mẫu quảng cáo, chụp h́nh làm catalogue giới thiệu sản phẩm... hoặc những “sơ” diễn nhẹ nhàng trong các dịp khai trương, động thổ, vừa thu nhập cao vừa cĩ điều kiện mở rộng mối quan hệ.

Trong 6 người bị bắt quả tang đang mua dâm với người mẫu th́ có tới 3 khách làng chơi ở tỉnh. Họ là chủ các doanh nghiệp, nhà hàng, người buôn bán giàu có... Số c̣n lại là người ở TP HCM. Họ bị phạt hành chính 500.000 đến 1 triệu đồng, và được cho về. Cơ quan công an sẽ có một thông báo tới đơn vị, địa phương, gia đ́nh những người này theo đúng quy định hiện hành.

Một sĩ quan công an công tác nhiều năm ở Đội Pḥng chống tệ nạn xă hội lo ngại: “Xem ra h́nh phạt như vậy chưa đủ ép phê để răn đe những đấng mày râu ham của lạ”. Chính những kẻ ăn chơi sa đọa này đă sản sinh ra những những thanh nữ không chịu học hành, rèn luyện mà chỉ muốn thành đạt nhanh nhờ “vốn tự có”.


(Theo NLĐ)

_ Các sách Trung-quốc được dịch, bán tự do: Từ tiểu thuyết tới sách tham khảo, dĩ chí cả bói toán, phong thủy. Nhà xuất bản Văn-học vừa cho dịch, xuất bản hai bộ tiểu thuyết của Kim-Dung, mà từ trước đến nay bị coi là quốc cấm. Trong khi nhà nước Việt-Nam hô hào giao lưu văn hóa với người Việt ở nước ngoài, nhưng họ chỉ muốn đem sách trong nước ra ngoài bán, mà họ không cho đem sách của người Việt ở ngoại quốc vào trong nước, dù là sách khoa học, kỹ thuật, y học, tin học. Trước sau họ cho xuất bản không quá 10 quyển sách của người Việt hải ngoại, mà đa số sách đó nói xấu về VNCH, hoặc bôi nhọ xă hội người Việt ở ngoại quốc. Đi đâu cũng thấy người lớn, trẻ con luận bàn những nhân vật trong các bộ sách:

1/ Mười đại hoàng đế Trung-quốc

2/ Mười đại thừa tướng Trung-quốc.



10/ Mười đại gian thần Trung-quốc.

Trong khi đó không ai bàn, không ai nói tới những anh hùng Trưng Trắc, Lê Hoàn, Lư Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ từng thắng Trung-quốc bảo vệ đất nước.

5.2.5,

Chúng tôi muốn biết các vị có nhận thấy sự bất thường trong thông tin tại Việt-Nam hiện giờ không? Hiệp định kư nhượng đất kư ngày 30-12-1999, sau đó diễn ra:

_ Cuộc trao đất,

_ Cuộc trao dân,

_ Các cơ sở hành chính, quân sự Việt-Nam phải rút khỏi khu nhượng địa, rất ồn ào.

_ Các chính quyền vùng bị nhượng từ cấp xă, huyện, tỉnh được thông báo, được chỉ thị rộng răi.

_ Suốt gần 2 năm qua, có hàng triệu người Việt băng qua các cửa khẩu đă nhượng cho Trung-quốc, th́ họ phải biết rất rơ khu đất thiêng bị mất.

Như vậy th́ cuộc nhượng đất này đâu có thể bưng bít? Báo chí trong nước cấm không được đăng tải là lẽ thường. Thế sao không ai thông báo cho người Việt hải ngoại? Măi tới những ngày gần đây mới thấy trên Internet từ trong nước gửi ra ba bài của Đỗ Việt Sơn, Lê Chí Quang và Quang-Chính, nói lờ mờ về vụ này. Chúng tôi biết cái bí ẩn đó là lớp người mới bất măn với lớp người cũ trong Bộ Chính-trị. Họ muốn quy trách cho cá nhân, trong khi chính đảng Cộng-sản mới là những người chủ động.

Thưa Quư-vị,

Phần điều trần của tôi đến đây chấm dứt. Chúng tôi đợi những thắc mắc của Quư-vị.

Cử tọa đặt câu hỏi, câu hỏi thứ thứ 23

Một nguồn tin thân cận ông Lê KT, là một Đại-sứ của Việt-Nam có nói rằng, sở dĩ ông Nông Đức Mạnh được đưa lên chức Tổng Bí-thư, v́ nhờ uy tín của thân phụ là cố Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Sự thực ra sao?

Một vị trong chủ-tọa đoàn (là Giáo sư y khoa) trả lời

Câu hỏi của Ngài đặt Gs. Trần trước một khó khăn. Nếu ông không nói thực th́ ông phạm tội đại h́nh là nói dối chúng ta. C̣n như ông nói ra th́ ông sẽ bị kiện lôi thôi. Tài liệu nghiên cứu ADN (DNA) về ông Hồ Chí Minh, Gs. Trần đă bán cho công ty DNAW hồi tháng 3 vừa rồi. Nên không thể tiết lộ. Tôi chỉ có xin nói tổng quát, tài liệu đó dùng hệ thống ADN để làm sáng tỏ nguồn gốc mơ hồ của các danh nhân cận đại Việt-Nam, trong đó có 2 vụ lớn nhất

_ Cận sử, cũng như dư luận nói rằng Đại-Nam hoàng đế Bảo-Đại là con ông Hồng-Đề chứ không phải là con của Đại-Nam hoàng đế Khải-Định. Sự thực ra sao?

_ Đảng Cộng-sản công bố Chủ-tịch Hồ Chí Minh là con ông Phó-bảng Nguyễn Sinh Huy. Ông Nguyễn Sinh-Huy là con một nông dân tên Nguyễn Sinh-Nhậm. Nhưng sử gia Trần Quốc Vượng của viện Sử-học Hà-nội lại công bố rằng ông Nguyễn Sinh Huy không phải là con ông Nguyễn Sinh-Nhậm mà là con ông Hồ Sĩ Tạo. Rồi những nguồn tin trong nước nói ông Nông Đức Mạnh và mấy người nữa là con của Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Sự thực ra sao?

Vẫn vị cử tọa trên

_ Làm thế nào mà Gs Trần có thể lấy được ADN của những người trong cuộc?

Vẫn vị trong chủ tọa đoàn

_ Thưa Ngài không khó v́…(chúng tôi bị cấm không phổ biến)

Phụ-Bản 1

Hiệp định phân định vịnh bắc bộ và hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam - Trung quốc trong vịnh bắc bộ

Lê Công Phụng

Thứ trưởng Ngoại giao

Nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Trần Đức Lương, ngày 25-12-2000, nước ta và Trung Quốc đă kư Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ. Lễ kư kết được tổ chức với sự chứng kiến của Chủ tịch Trần Đức Lương và Chủ tịch Giang Trạch Dân. Sự kiện trọng đại mang tính lịch sử này diễn ra vào thời khắc rất đặc biệt, nhân loại đang hối hả thu xếp hành trang giă từ thế kỷ XX đi vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới. Sự kiện này cũng diễn ra vào điểm đỉnh tốt đẹp của quan hệ Việt - Trung kể từ khi b́nh thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay. Nhân dân ta đón nhận việc kư kết hai hiệp định trên như một thành công lớn của hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong năm 2000, coi đó là nhân tố hết sức quan trọng trong việc tăng cường, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, cũng như trong việc duy tŕ, củng cố ḥa b́nh, ổn định và hợp tác trong khu vực.

Trong các vấn đề do lịch sử để lại trong quan hệ giữa ta và Trung Quốc có 3 vấn đề liên quan đến biên giới lănh thổ là xác định đường biên giới trên đất liền; phân định Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên Biển Đông (mà thực chất là vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của ta), trong các vấn đề trên, vấn đề biên giới trên đất liền đă được giải quyết bằng việc kư kết Hiệp ước trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 30-12-1999.

Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc có diện tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km2 (176 hải lư) và nơi hẹp nhất khoảng 220 km2 (119 hải lư). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km2, c̣n phía Trung Quốc khoảng 695 km. Phần Vịnh phía ta có khoảng 1 300 ḥn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km.

Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc pḥng. Đặc thù của Vịnh là chiều ngang tương đối hẹp, từ trước tới nay hai nước chưa hề phân định Vịnh. Theo Công ước luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, th́ toàn bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng chồng lấn và trong thực tế thời gian qua có tranh chấp, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ giữa hai nước.

Trước t́nh h́nh đó, hai nước đều có nhu cầu tiến hành đàm phán để phân định Vịnh Bắc Bộ nhằm đạt hai mục tiêu cơ bản và lâu dài: một là xác định đường phân giới rạch ṛi, phân chia vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước láng giềng; hai là giải quyết vấn đề tồn tại do lịch sử để lại, tạo cơ sở và động lực thúc đẩy quá tŕnh xây dựng ḷng tin, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai Đảng, hai nước theo phương châm 16 chữ mà hai đồng chí Tổng Bí thư đă thỏa thuận.

Ngoài ư nghĩa về an ninh, quốc pḥng, Vịnh Bắc Bộ c̣n có ư nghĩa lớn về kinh tế, có nguồn lợi hải sản phong phú. Hai nước đều có nhu cầu hợp tác đánh bắt, bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Vào các năm 1957, 1961 và 1963 hai nước có kư các thỏa thuận cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lư, 6 hải lư và 12 hải lư tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên. Các thỏa thuận này đă hết hiệu lực vào những năm 70. Trong quá tŕnh đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ, phía Trung Quốc kiên tŕ đề nghị lập vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân định Vịnh Bắc Bộ và nhấn mạnh nếu không thỏa thuận được vấn đề này th́ khó có thể giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000.

Ta không chủ trương gắn vấn đề nghề cá mang tính kinh tế, kỹ thuật với vấn đề phân định quốc giới mang tính chiến lược lâu dài. Nhưng ta cũng nhận thức rơ là việc không giải quyết được vấn đề nghề cá có thể dẫn đến hậu quả là khó giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Lúc đó toàn bộ Vịnh sẽ tiếp tục bị coi là vùng chồng lấn giữa hai bên, và t́nh h́nh ở đó sẽ tiếp tục mất ổn định.

Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều nước có vịnh hoặc vùng biển chung cũng đă thỏa thuận lập vùng đánh cá chung và về mặt pháp lư th́ điều đó không trái với Công ước luật Biển năm 1982. Nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho việc giải quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía cạnh trong quan hệ hai nước cũng như thực tiễn quốc tế, ta đă đồng ư lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ. Cuộc đàm phán về biên giới lănh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc đă được tiến hành từ đầu những năm 70.

Trong các năm 1974 và 1977 - 1978, hai nước đă tiến hành 2 ṿng đàm phán về phân định. Nhưng do điều kiện lúc đó nên đàm phán không có kết quả. Sau khi hai nước b́nh thường hóa quan hệ, hai bên đă quyết định thương lượng đ giải quyết các vấn đề biên giới lănh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ. Hai nước đă kư Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới - lănh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 19-10-1993, trong đó nêu rơ phương hướng phân định Vịnh Bắc Bộ là "Hai bên sẽ áp dụng luật quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế, theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh liên quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công bằng". Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đă triễn khai 7 ṿng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 ṿng đàm phán cấp chuyên viên.

Một thuận lợi hết sức lớn lao đối với quá tŕnh đàm phán là quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai nước không ngừng được tăng cường, ngày càng đi vào thực chất và toàn diện, lănh đạo của hai bên luôn luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao. Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của Đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, lănh đạo cấp cao hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để kư Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Với tinh thần đó, trong năm 1998 và 1999 hai bên chủ yếu dành ưu tiên cho việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền. Năm 2000 cuộc đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ được đẩy mạnh và đi vào giải quyết thực chất (1 ṿng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp liên tiếp giữa 2 trưởng đoàn cấp chính phủ và 8 ṿng đàm phán cấp chuyên viên).

Trong quá tŕnh đàm phán, hai bên đă vận dụng các nguyên tắc như sau để giải quyết: một là, căn cứ vào các quy định của Công ước luật Biển 1982 của Liên hợp quốc cũng như các nguyên tắc luật pháp quốc tế và tập quán được công nhận rộng răi ; hai là, hai bên tính đến các đặc thù của Vịnh Bắc Bộ như sự hiện diện của các đảo, chiều dài bờ biển v.v... ; ba là, việc giải quyết vấn đề phân định phải xuất phát từ thực trạng cũng như nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước ; bốn là, bảo đảm nguyên tắc công bằng và chiếu cố lợi ích của nhau.

Về diện tích, phía Trung Quốc kiên tŕ chủ trương đại thể chia đôi, thừa nhận ta có thể nhỉnh hơn nhưng hơn không đáng kể. Ta chủ trương giải pháp công bằng phải phù hợp với các hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh như sự hiện diện của các đảo của ta, chiều dài bờ biển của ta lớn hơn v.v... Do đó, kết quả của giải pháp phân định phù hợp với yêu cầu ta đặt ra. Về diện tích tổng thể ta được 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77% (ta hơn Trung Quốc 6,46% tức là khoảng 8205 km2), đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lư, đảo Cồn Cỏ được hưởng 50% hiệu lực. Về khía cạnh tài nguyên, giải pháp phân định đạt được cũng bảo đảm việc phân chia lợi ích một cách công bằng. Hai bên đă phân chia rơ ràng phần thềm lục địa để mỗi bên đều có thể tiến hành thăm ḍ, khai thác tài nguyên trong phạm vi thềm lục địa của ḿnh mà không bị bên kia can thiệp hoặc gây khó khăn. Trong trường hợp có cấu tạo mỏ vắt qua đường phân định th́ hai bên sẽ thỏa thuận với nhau về việc khai thác và phân chia lợi ích của việc khai thác đó.

Cuộc đàm phán về nghề cá được khởi động muộn hơn. Cho măi đến tháng 4-2000 ta mới tán thành đàm phán nghề cá. Qua 6 ṿng đàm phán cấp chuyên viên về nghề cá, hai bên nhất trí lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ từ vĩ độ 20o xuống đường đóng cửa Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lư kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, đảm bảo cách bờ của mỗi nước là 30 hải lư: đại bộ phận cách bờ của ta 35 - 59 hải lư và có 2 điểm cách b là 28 hải lư. Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm (12 năm chính thức và 3 năm gia hạn). Hai bên cũng đă thỏa thuận các điều khoản liên quan đến bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh.

Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là : vùng đặc quyền kinh tế của nước nào th́ nước đó có quyền kiễm tra, kiễm soát các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung ; sản lượng và số tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc b́nh đẳng, căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, xác định thông qua điều tra liên hợp định kỳ ; mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ 3 trong vùng đặc quyền kinh tế của ḿnh. Hai bên thỏa thuận lập Ủy ban liên hợp nghề cá để xây dựng quy chế liên quan đến vùng đánh cá chung.

Ngoài vùng đánh cá chung ra, hai bên thỏa thuận về dàn xếp quá độ với thời hạn 4 năm ở phía Bắc vĩ tuyến 20o cho tàu thuyền của hai bên tiếp tục được đánh bắt. Phạm vi cụ thể của vùng này hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. Sau thời hạn quá độ, tàu thuyền của các bên về đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế của ḿnh, trừ khi được bên kia cho phép.

Đồng thời hai bên cũng thỏa thuận lập một vùng đệm nhỏ ở ngoài cửa sông Bắc Luân với mục đích là tạo thuận lợi cho việc ra vào của các tàu cá nhỏ (nếu phát hiện các tàu đó đánh cá th́ cảnh cáo và buộc rời khỏi vùng nước của ḿnh). Vùng này dài 10 hải lư và tính từ đường phân định rộng 3 hải lư về mỗi bên.

Về tổng thể, các giải pháp đạt được trong quá tŕnh đàm phán và được th hiện trong hai bản Hiệp định là thỏa đáng, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên. Các Hiệp định đó là kết quả của quá tŕnh đàm phán lâu dài, th hiện nỗ lực, thiện chí và tính đến sự quan tâm, nhân nhượng từ cả hai phía.

Đối với ta, việc kư Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ tiếp theo việc kư Hiệp ước về biên giới trên đất liền năm 1999, có ư nghĩa rất quan trọng v́ qua đó ta đă đạt được mục tiêu là giải quyết được hai trong ba vấn đề biên giới - lănh thổ tồn đọng lâu nay giữa hai nước. Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc năm 1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ tạo nên một cơ sở pháp lư vững chắc để quản lư biên giới, lănh thổ, thực hiện mục tiêu là xây dựng biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành biên giới ḥa b́nh, hữu nghị, ổn định lâu dài, và tạo động lực thúc đẩy, tăng cường quan hệ hai nước.

Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ đă xác định trọn vẹn đường biên giới lănh hải giữa ta và Trung Quốc ở khu vực ngoài cửa sông Bắc Luân, phân định rơ ràng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và phạm vi thềm lục địa của hai nước ở Vịnh. Hiệp định đă ghi nhận cam kết của hai bên tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên trong phạm vi các vùng biển của ḿnh. Hiệp định cũng đă đề ra cách giải quyết khi xảy ra trường hợp hai bên chung nhau các mỏ tài nguyên khoáng sản nằm trong Vịnh.

Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ vừa mới kư với Trung Quốc này là Hiệp định phân định biển thứ hai của nước ta (Hiệp định phân định biển đầu tiên là Hiệp định phân định các vùng biển giữa Việt Nam và Thái Lan kư năm 1997) và là Hiệp định phân định biển gần đây nhất ở trong khu vực). Do đó ư nghĩa của Hiệp định này không chỉ dừng lại trong khuôn khổ quan hệ Việt - Trung mà thực sự góp phần vào việc ổn định ḥa b́nh trong khu vực.

Hiệp định hợp tác nghề cá đă góp phần quan trọng đưa đến việc kư kết Hiệp định phân định ; thể hiện rơ sự nhân nhượng, thông cảm lợi ích của nhau, phù hợp với phương châm "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai"; trong quan hệ hai nước.
(http://www.cpv.org.vn/tccs/022001/6_lecongphung.htm)

TN 41;p chí Cộng sản 1 Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội - Tel: 8252061, Fax: 8222846 - 19 Phạm Ngọc Thạch, Q3, Tp Hồ Chí Minh - Tel: 8225768 - Tổng biên tập: Hà Đăng.
 


Phụ bản 2

Về việc kư hiệp định phân định vịnh bắc bộ và hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Trung quốc.






Ngày 25 tháng 12 năm 2000, tại Bắc Kinh Trung Quốc, Chính phủ Cộng hoà Xă hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đă kư Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ. Theo yêu cầu của bạn đọc, Tạp chí tóm tắt sự kiện này như sau:

A. Về Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ,

Vịnh Bắc Bộ có diện tích 126.250km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310km và nơi hẹp nhất khoảng 220km. Khác với biên giới trên bộ, đường ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc từ trước đến nay chưa được xác định. Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền Pháp và nhà Thanh mới thoả thuận lấy đường kinh tuyến Paris 105 độ 04 3 Đông (kinh tuyến Greenwich 108 độ 03 13" Đông) để quy thuộc chủ quyền của các đảo ở khu vực sát cửa sông Bắc Luân.

Do đặc thù của Vịnh chưa phân định, nên toàn bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng luôn xảy ra các tranh chấp giữa ta và Trung Quốc, nhất là về thăm ḍ tài nguyên dầu khí và về đánh cá. Do đó, rất cần đàm phán để kư kết Hiệp định phân định giữa hai nước. Vào những năm 70, ta và Trung Quốc đă có hai cuộc đàm phán về vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ (vào năm 1974 và 1977 - 1978), nhưng chưa có kết quả.

Sau khi hai nước b́nh thường hoá quan hệ, hai Đảng, hai nước đă quyết định giải quyết các vấn đề biên giới lănh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ. Với chủ trương đó, ngày 19-10-1993 hai bên đă kư "Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lănh thổ giữa nước Cộng hoà Xă hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa", trong đó quy định về Vịnh Bắc Bộ là "Hai bên sẽ áp dụng luật quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công bằng". Từ đó đến nay, vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ đă được hai bên bàn bạc tại 7 ṿng đàm phán cấp Chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ, 18 ṿng đàm phán cấp chuyên viên và một số ṿng họp không chính thức giữa các chuyên viên phân định.

- Vào năm 1997, nhân dịp đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Trung Quốc và tháng 2-1999, nhân dịp đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm Trung Quốc, lănh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước đă thoả thuận tích cực thúc đẩy đàm phán để hoàn thành việc phân định và kư Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000.

- Trong quá tŕnh đàm phán, hai bên đă căn cứ vào Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc về Luật biển, các nguyên tắc luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế được công nhận, cũng như tính đến các hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh B¡c Bộ, thương lượng hữu nghị để giải quyết vấn đề một cách công bằng, hợp lư. Dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị và Chính phủ hai nước, cuối năm 2000 hai bên đă hoàn thành việc phân định dẫn đến việc kư Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ vừa qua.

- Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ là hiệp định phân định mang tính tổng hợp. Xác định rơ biên giới lănh hải của hai nước ở ngoài cửa sông Bắc Luân, cũng như giới hạn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta và Trung Quốc ở trong Vịnh B¡c Bộ. Về diện tích tổng thể, tính theo mực nước trung b́nh th́ ta được 53,23%, Trung Quốc được 46,77% diện tích Vịnh. Đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lư (về phía bờ đảo Hải Nam). Đường đóng cửa Vịnh nối mũi Oanh Ca của Trung Quốc, qua đảo Cồn Cỏ đến bờ biển của Việt Nam. Hiệp định đă khẳng định nghĩa vụ của hai bên tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lănh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ḿnh theo đường phân định. Các trường hợp đường phân định đi qua các cấu tạo địa chất có khả năng có dầu khí th́ hai bên đă thoả thuận sau này nếu phát hiện thấy dầu khí sẽ hợp tác phân chia lợi ích một cách công bằng khi khai thác.

B. Về Hiệp định hợp tác nghề cá ở trong Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc.

Vào các năm 1957, 1961 và 1963, ta và Trung Quốc kư các thoả thuận cho phép tàu thuyền đánh cá của hai bên được đánh cá chung trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lư, 6 hải lư và 12 hải lư tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên. Các thoả thuận này hết hiệu lực vào đầu những năm 70. Trong quá tŕnh đàm phán về phân định, phía Trung Quốc kiên tŕ đề nghị lập vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân định Vịnh. Nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho việc giải quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía cạnh trong quan hệ hai nước, luật pháp và thực tiễn quốc tế (gần ta nhất là thực tiễn kư Hiệp định vùng đánh cá chung giữa Trung Quốc và Nhật Bản, giữa úc và In-đô-nê-xi-a), ta đă đồng ư mở các cuộc đàm phán riêng về vấn đề hợp tác nghề cá giữa hai nước ở trong Vịnh Bắc Bộ từ tháng 2/2000. Tháng 9/2000, nhân chuyến thăm làm việc của Thủ tướng ta tại Trung Quốc, lănh đạo cấp cao hai nước khẳng định kư Hiệp định phân định Vịnh B¡c Bộ và Hiệp định nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ vào cuối năm 2000.

- Qua 6 ṿng đàm phán, hai bên đă thống nhất Hiệp định về hợp tác nghề cá, trong đó nội dung chính là lập vùng đánh cá chung nơi tàu thuyền của cả hai bên đều được đánh bắt theo quy định của Uỷ ban Liên hợp về nghề cá: Vùng đánh cá chung này nằm ở Nam vĩ tuyến 20 (phía Nam đảo Bạch Long Vĩ), có bề rộng là 30,5 hải lư kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích 33.500km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm. Sau đó, việc hợp tác tiếp tục như thế nào là tuỳ hai bên hiệp thương thoả thuận. Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là: vùng đặc quyền kinh tế của nước nào th́ nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung; sản lượng và số tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc b́nh đẳng căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, xác định thông qua điều tra liên hợp định kư; mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với nước thứ ba theo các quy định cụ thể của Hiệp định.

- Xuất phát từ t́nh h́nh đánh bắt của ngư dân Trung Quốc, hai bên đă đồng ư về dàn xếp quá độ trong vùng đặc quyền kinh tế của mỗi bên nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 20 cho phép tàu thuyền hai bên được tiếp tục hoạt động nghề cá trong thời hạn là 4 năm tại khu vực này. C̣n ở phía bin sát cửa sông B¡c Luân, hai bên đồng ư lập một khu đệm dài 10 hải lư và rộng 6 hải lư (3 hải lư về mỗi phía kể từ đường biên giới lănh hải) nhằm tạo thuận lợi cho việc ra vào của tàu thuyền hai bên.

C. Việc kư Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Trung Quốc là sự kiện quan trọng đối với nước ta cũng như quan hệ Việt - Trung

Với việc kư Hiệp định phân định, ta đă giải quyết dứt điểm được vấn đề thứ hai trong ba vấn đề biên giới, lănh thổ tồn tại lâu nay với Trung Quốc (biên giới trên bộ, Vịnh Bắc Bộ và Biển Đông). Việc phân định một cách rơ ràng biên giới lănh hải phía ngoài cửa sông Bắc Luân, phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh sẽ tạo thuận lợi cho vệc quản lư và duy tŕ ổn định ở trong Vịnh, góp phần tăng cường sự tin cậy giữa hai bên, thúc đẩy quan hệ hợp tác mọi mặt giữa hai nước.

Tiếp theo việc kư Hiệp ước và giải quyết vấn đề biên giới với Lào, phân định vùng biển với Thái Lan, đang tích cực giải quyết một số vấn đề c̣n lại về biên giới trên đất liền và đi tới giải quyết vấn đề trên biển với Cam-pu-chia, giải quyết vùng chồng lấn với In-đô-nê-xi-a và đặc biệt là việc kư Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa ta và Trung Quốc năm 1999, việc kư các Hiệp định phân định và hợp tác nghề cá ở trong Vịnh Bắc Bộ là bước tiến mới quan trọng trong việc xây dựng môi trường hoà b́nh, ổn định xung quanh nước ta, tạo điều kiện cho chúng ta tập trung sức lực vào việc xây dựng và phát triển đất nước.

Việc hai nước Việt Nam - Trung Quốc hoàn thành giải quyết vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ góp phần tích cực vào việc củng cố hoà b́nh và ổn định ở khu vực.
(http://www.cpv.org.vn/anpham/tutuong/032001/13_ kyhiepdinh.htm)


Ghi Chú của Thư Viện Việt Nam: Ngay sau khi bài viết này được phổ biến rộng răI và nhà cầm quyền Cộng Sản biết được, các bài phụ bản nói trên đă không c̣n nằm trên mạng lưới nhện của đảng CSVN nữa.