MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LƯ

CHUNG QUANH HIỆP ĐỊNH  BiÊN GIỚI VIỆT TRUNG

 

Luật Sư Nguyễn Xuân Phước

Tiến Sĩ Luật Khoa, Hoa Kỳ

mailto:nguyenxphuoc@lawyer.com

 

“Dân sinh yếu nhược lôi theo mối nhục vong quốc,

Dân anh dũng càng đưa ta tới đài vinh quốc.”

 

Hai hiệp ước biên giới liên quan đến lănh thổ và lănh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc đă được hai đảng Cộng Sản âm thầm kư kết vào ngày 30 tháng 12 năm 1999 và ngày 25 tháng 12 năm 2000.  Hai hiệp ước nầy đă được quốc hội Cộng SảnViệt nam thông qua cũng một cách âm thầm.  Các tin tức về việc kư kết hiệp định biên giới, cho đến khi kư kết xong và được quốc hội thông qua cũng được giữ bí mật.  Nôi dung các hiệp ước nầy không được công bố cho nhân dân trong nước biết.  Nhân dân không biết được bản đồ mới của Việt nam ngày nay ra sao.  Thông tin chỉ được nhà nước tiết lộ sau khi làm lễ cắm mốc biên giới.  Báo chí trong nước như tờ Nhân Dân (27 tháng 12 năm 2001) hoặc VNExpress.com (http://vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/2001/12/3B9B7CE1/ ) chỉ làm một bản tin rất ngắn có nội dung giống nhau.

 

Mặc dù bị bưng bít nhưng tin tức về hiệp ước biên giới cũng lọt ra ngoài.  Hơn một năm qua,  các nhà đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước, và các nhà nghiên cứu ở hải ngoại và giới truyền thông không ngừng lên tiếng cảnh báo về sự việc đảng Cộng Sản sẽ dùng hiệp ước biên giới mở đường máu t́m sinh lộ cho bế tắc chính trị hiện nay.  Mọi người đều e  rằng đảng sẽ không ngần ngại bán đứng đất đai của đất nước để đổi lấy chế độ bảo hộ chính trị do Trung quốc đỡ đầu. 

 

Qua tin tức về buổi lễ hiến đất được cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng Sản dè dặt loan tải, những quan ngại của những người đấu tranh cho dân chủ đă trở thành sự thật.

 

Bài viết nầy có mục đích duyệt xét lại một số vấn đề pháp lư chung quanh việc kư kết các  bản hiệp ước nầy và các hậu quả pháp lư của.  Có lẽ bài viết không trả lời hết mọi câu hỏi.  Tuy nhiên, người viết mong sẽ giải đáp một vài ưu tư có tính cách khẩn cấp  như  “hiệp ước nầy có giá trị quốc tế hay không ? Liệu chúng ta có thể phủ nhận hiệp ước nầy được hay không?, v.v.”

 

Nội Dung Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung

 

Về hiệp ước lănh hải, chúng ta được biết hiệp ước nầy được kư kết vào ngày 25 tháng 12 năm 2000. Qua một số bài vỡ hiếm hoi chúng ta biết được sơ sơ về nội dung của hiệp ước nầy, được gọi là hiệp định “Phân Định Vịnh Bắc Bộ.”  Theo ông Lê Công Phụng, thứ trưởng ngoại giáo, người đặc trách lo việc đàm phán hiệp định cho biết là,  chiếu theo hiệp định Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam được 53.23% và Trung Quốc được 46.77% diện tích vịnh. (Tạp chí Cộng Sản  Số 2 thang 1-2001)

 

Theo tài liệu của kỷ sư Nguyễn Đ́nh Sài th́ hiệp ước phân định vịnh Bắc bộ chấm dứt hiệp hước giữa Pháp và Thanh triều.  Diện tích khác biệt giữa hai hiệp ước là hơn 5,000km2 lănh hải nay thuộc về Trung quốc.

 

Theo ông Ngô Nhân Dụng, báo Người Việt (http://www.nguoi-viet.com/uni/0123/BiNHLUAN.HTM - BiNH0201221) th́: “Trên pháp lư, văn kiện lịch sử kư năm 1895 giữa nhà Thanh bên Trung Quốc và chính quyền Pháp ở Việt Nam công nhận trong vịnh Bắc Việt phần thuộc Việt Nam chiếm 64%, Trung Quốc được 36%. Nay, Cộng Sản Hà Nội công nhận nước Việt Nam chỉ được 53%, c̣n Trung Quốc hưởng 47%.”

 

C̣n hiệp ước về lănh thổ,  th́ đảng Cộng Sản hoàn toàn không tiết lộ mọi chi tiết.  Tuy nhiên, theo ông Trần Dũng Tiến, nhà đấu tranh dân chủ và là cựu chiến binh quân đội Bắc Việt, th́ hiệp định biên giới đă kư kết ngày 30 tháng 12, 1999, ngày cuối cùng của thiên niên kỷ.  Hiệp ước nầy cắt cho Trung quốc rất nhiều địa danh lừng lẫy trong lịch sử:  thác Bản Giốc, suối Phi Khanh, ải Nam Quan, ải Chi Lăng.  Tất cả nay đă thuộc Trung Quốc. 

 

Theo Bác sĩ Trần Đại Sỹ th́ “Việt Nam nhường cho Trung quốc dọc theo biên giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nươc), thuộc hai tỉnh Cao bằng, Lạng sơn.  Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm về việc thi hành. Quan trọng nhất là : Nhượng vùng Cao bằng, sát tới hang Pak bó, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ẩn thân lănh đạo cuộc kháng chiến. Hang này trở thánh địa của đảng Cộng sản Việt Nam. Trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50 km), nay nằm sát biên giới. Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc tỉnh Lạng sơn nơi có cửa ải Nam quan

 

Theo bạn Dieuvan đăng tải trên trên “Soc.Culture.Vietnamese” th́ chúng ta phải t́m hiểu nội dung hiệp ước qua các websites của Trung quốc.  Bạn Dieuvan viết: “Theo tài liệu của CSVN trước nằm 1979 biên giới Việt Nam-Trung Cộng dài 1,300 Cây số nhưng theo tài liệu của CiA world Book ghi nhận sau năm 1979 c̣n lại là 1,281 .  Bây giờ sau khi kư kết bản thương ước mà được gọi là hiến đất của CSVN biên giới chính thức mà Trung Cộng đưa ra con số là 1,200 chẳn như vậy đường biên giới thu nhỏ lại từ 1,300 Kilometters xuống 1,281 Kilometters bây giờ c̣n 1,200 Kilometters “. Theo tính toán của bạn Dieu Van th́  đại khái là chúng ta mất 81Km X 26Km = 2106 sq Km.”  Bạm Dieu Van kết luận như sau: “Tổng Cộng Toàn cơi VN = 329,560 sq Km - 2,106 bây giờ c̣n 327,454 sq Km .””

 

Do tính chất bí mật của hiệp định biên giới, toàn thể nhân dân trong và ngoài nước phải dọ dẫm giải mă những tín hiệu mất nước mà họ t́m được trên internet.  Nói cho ngay, nếu những hiệp ước này đem về mối lợi lớn cho Việt nam th́ hệ thống thông tin tuyền truyền của Cộng Sản chắc đă không bỏ qua cơ hội ngàn vàng để ca tụng thắng lợi của đảng.  Ngược lại, qua thái độ lén lút và hành vi dấu diếm của đảng Cộng Sản trong việc kư hiệp định,  chúng ta có thể  quả quyết được rằng  đây không phải là một “thắng lợi to lớn” để cho đảng hănh diện.

 

Những Vấn Đề Pháp Lư Đáng Để Ư Liên Quan Đến Hiệp Định Biên Giới

 

1.         Giá Trị Pháp Lư Đối Với Nhân Dân và Hiến Pháp

 

Hiệp định quốc tế là hợp đồng giữa hai quốc gia.  Điều tiên khởi để cho một hiệp ước có giá trị là chính phủ  và người đại diện chính phủ đi kư kết đều phải có đủ tư cách pháp nhân, tính cách hợp pháp và chính thống để đại diện cho quốc gia hay nhân dân.  Những yếu tố pháp lư nầy giúp cho hiệp ước có giá trị chắc chắn (certainty), vĩnh cửu  và tính chất khả thi.

 

Vấn đề giá trị đại diện của đảng Cộng Sản đă được bàn rất nhiều, và đặc biệt trong những năm gần đây đă được phong trào dân chủ trong nước “bàn” đến cách triệt để.  Ở đây người viết xin bàn lướt qua vấn đề này.

 

 

a. Tính chất hợp pháp của hiến pháp

 

Trong bài viết :”Tính Chất Bất Hợp Pháp Của Hiến Pháp Việt nam Hiện Nay”, người viết chứng minh rằng các hiến pháp Việt Nam từ 1959 trở đi không có giá trị v́ thủ tục thực hiện các hiến pháp nầy không tuân theo quy định của điều 70 của hiến pháp 1946.  Điều 70 của hiến pháp 1946 đ̣i hỏi mọi thay đổi hiến pháp phải được toàn dân phúc quyết, tức là phải được trưng cầu dân ư.  V́ tất cả các hiến pháp từ 1959 đến nay  không được trưng cầu dân ư nên các hiến pháp đó không có hợp hiến, không có giá trị.  Do đó, một chính quyền dựa trên một hiến pháp không có giá trị th́ chính quyền đó không có tư cách pháp nhân, không có tính cách hợp pháp và không có năng lực pháp lư để đại diện cho nhân dân. 

 

b. Tính chất chất bất hợp pháp của chế độ

 

Trong một chế độ được gọi là dân chủ hay cộng hoà (republic), nhà cầm quyền  phải được công dân bầu lên bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu tự do trong sạch.  Chế độ gọi là “cộng hoà” khác với chế độ “quân chủ” ở vai tṛ của người dân trong việc quyết định người cầm quyền.  Trong chế độ quân chủ, người cai trị nắm quyền không do lá phiếu của người dân.  Nhà vua lên ngôi bằng sức mạnh, bằng sự thần phục của mọi người và bằng huyết thống.     Do đó, đă là chế độ cộng hoà, dù là cộng hoà xă hội hay cộng hoà  không xă hội, quyền lực của nhà nước phải được người dân ủy nhiệm bằng lá phiếu của họ qua một cuộc phổ thông đầu phiếu tự do dân chủ.    

 

Quan niệm về chính thể Cộng Hoà (như trong cụm từ Cộng Hoà Xă hội Chủ Nghĩa Việt nam) như nói trên, th́ một chính phủ đại diện cho dân phải được nhân dân lực chọn bằng những cuộc tổng tuyển cử tự do dân chủ có định kỳ.  Trong suốt hơn 55 năm lănh đạo đất nước, Đảng Cộng Sản chỉ tổ chức một cuộc phổ thông  đầu phiếu duy nhất là cuộc tổng tuyển cử  năm 1946.  Sau đó, họ quên làm tổng tuyển cử tự do.  Ngay cả khi xua quân vào miền Nam năm 1960 họ đă nhân danh mục đích thực hiện cuộc tổng tuyển cử cho hai miền nam bắc.  Sau khi chiến thắng, họ cũng không thực hiện cuộc tổng tuyển cử có quốc tế quan sát theo quy định của hiệp định đ́nh chiến kư tại Geneve năm 1954.  Đối với chế độ Cộng Sản bầu cử chỉ là h́nh thức, khả năng cướp chính quyền bằng bạo lực mới quan trọng,

 

Khả năng “cướp chính quyền” là lư do duy nhất để cho chế độ nầy biện minh sự độc quyền lănh đạo đất nước.  Năm 1945 họ đă “cướp” chính quyền từ các đảng phái quốc gia và từ triều đ́nh Huế.  Năm 1959 đảng Cộng Sản đă chính thức “cướp” quyền từ nhân dân bằng cách loại bỏ vai tṛ của công dân trong việc thay đổi hiến pháp. Với các hiến pháp tự ban hành, từ hiến pháp1980 trở đi, họ đă chính thức thêm điều 4 hiến pháp quy định vai tṛ lănh đạo độc quyền của đảng Cộng Sản.  Đó  quyền lănh đạo đất nước muôn đời.  Trên bản chất đây là chế độ quân chủ.  Do đó, điều 4 hiến pháp đă phủ định chế độ Cộng hoà và hai chữ Cộng Hoà Xă Hội đă hoàn toàn không có ư nghĩa pháp lư trong hiến pháp. 

 

Trong thời đại dân chủ, quan điểm chính trị dựa vào khả năng “cướp chính quyền” bằng bạo lực tự nó đă mất đi tính dân chủ, chính thống và hợp pháp.  Do đó, một chính quyền không do dân bầu ra bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do và dân chủ, không có tư cách pháp nhân để đại diện nhân dân quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước.

 

Do tính chất bất hợp pháp của nhà cầm quyền, tất cả hiệp ước do họ kư kết đều không có giá trị.  Và giá trị thực thi của cá hiệp ước này cũng chấm dứt khi chế độ sụp đổ.  Việc duy tŕ tích chất khả thi của các hiệp ước hay hợp đồng quốc tế đều do chế độ mới duyệt xét và quyết định dựa vào khả năng của chế độ mới đối phó với những hậu quả kinh tế quân sự hay ngoại giao do quyết định phủ nhận các hiệp ước đó gây ra.

 

c. Thẩm quyền kư hiệp ước quốc tế

 

Vấn đề thứ hai  là người đại diện đặt bút kư tên trong hiệp ước có phải là người phải  có thẩm quyền để kư kết theo quy định của hiến pháp.  Ở đây chúng ta giả thiết là hiến pháp hiện nay hợp pháp, và chúng ta phải xét người đại diện kư kết có đủ thẩm quyền do hiến pháp đó  quy định  hay không. 

 

Theo chương VII điều 103 khoản 10 của hiến pháp 1992,  Chủ tịch nhà nước có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:  Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của việt nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm pháp, kư kết diều ước quốc tế nhân danh Nhà Nườc Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt nam với người đứng đầu Nhà nước khác; quyết định phê chuẩn hoạc tham gia diều ước quốc tế, trừ trường hợp cần tŕnh Quốc Hội quyết định.”

 

Trong khi đó, chương VIII, điều 112 khoản 8 quy định quyền hạn và nhiệm vụ của chính phủ như sau: “Thống nhất quản lư công tác đối ngoại của nhà nước: kư kết tham gia, phê duyệt điều ước nhân danh chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng Hoà Xă hội Chủ Nghĩa Việt Nam kư kết hoạc tham gia; bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài.”

 

Chiếu theo những điều khoản trên của hiến pháp 1992 chỉ có chủ tịch nhà nước là người có thẩm quyền kư kết các hiệp ước liên quan đến các vấn đề thuộc tầm mức quốc gia, tức là nhà nước CHXHCN Vietnam, như vấn đề biên giới hiện nay; và chính phủ (thủ tướng và các bộ trưởng) có thẩm quyền kư kết các vấn đề liên quan đến quan hệ ngoại giao với chính phủ các nước.  Vấn đề “nhân danh chính phủ” là những vấn đề có tính cách thủ tục và nghi lễ giữ hai nước. 

 

Do đó,  những hiệp ước liên quan đến quốc gia, như hiệp định về lănh thổ và lănh hải, do bộ trưởng ngoại giao kư kết đều không có giá trị pháp lư v́ chúng không hợp hiến, cho dù những hiệp định đó được quốc hội thông qua. 

 

Ở đây chúng ta có thể xem lại ai là người đại diện cho Việt Nam kư kết các hiệp ước biên giới nói trên. Theo kiến nghị thư của 20 cử tri yêu cầu quốc hội không thông qua Hiệp Định Biên Giới Việt Trung th́ hiệp định biên giới đựng bộ được kư kết tại Hà Nội khi Đường Gia Truyền, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc bay qua Việt nam năm 1999.  Tài liệu và hệ thống tuyên truyền của Đảng Cộng Sản VN hoàn toàn không tiết lộ ai đă đại diện bên Việt Nam để kư kết.  Tuy nhiên theo thông lệ ngoại giao th́ phía bên Việt Nam phải là Bộ Trưởng bộ ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm.  Và điều này được xác nhận bởi bản tin của Bộ Ngoại giao Trung Quốc . (http://www.fmprc.gov.cn/eng/4470.html)

 

Về phần hiệp ước Phân Định Vịnh Bắc Bộ,  theo Thứ Trưởng Lê Công Phụng  cho biết hiệp ước này đưọc kư vào ngày 25 tháng 12 năm 2000 với sự chứng kiến của chủ tịch nhà nước Trần Đức Lương và  Giang Trạch Dân.  Bài viết này không nói rơ ai là người hạ bút kư đại diện cho Việt nam.  Nếu nói là ông Trần Đức Lương với tư cách là nhà nước chỉ đề chứng kiến, th́ người hạ bút chắc không phải ông Lương.  Hơn nữa nếu ông Lương kư th́ tại sao ông Lê Công Phụng không nói rơ là ông  Trần Đức Lương kư, mà phải nói là ông Lương “chứng kiến”? 

 

Nếu sự kiện xảy ra như lư giải th́ ông chủ tịch nhà nước Trần Đức Lương đă không kư vào bất cứ một hiệp ước nào.  Và như thế, chiếu theo chương VII điều 103 khoản 10 của hiến pháp 1992,  th́ các hiệp ước nầy không có giá trị đối với hiến pháp Việt nam.

 

Giá Trị Pháp Lư Của Một Hiệp Ước Bất Hợp Pháp Đối Với Quốc Tế 

 

Thông thường, để tránh trường hợp căi vả về giá trị thực thi của hiệp ước, khi một nước kư kết một hiệp định với một nước khác, nước đó phải có bổn phận nghiên cứu tư cách pháp nhân của người đại diện quốc gia, cũng như những thủ tục phê chuẩn hiệp ước cần thiết để biết chắc giá trị pháp lư và giá trị thực thi của những điều khoản mà hai bên đồng ư.  Trong trường hợp này, Trung quốc có trách nhiệm làm công tác sưu tra đó.  Nói một cách khác, nếu những hiệp ước lănh thổ Việt Trung đều do Bộ trưởng ngoạ giao Nguyễn Mạnh Cầm kư kết, th́ Trung Quốc đă kư kết những hiệp ước hoàn toàn không có giá trị. Và với bộ phận nghiên cứu pháp luật của Trung quốc họ phải biết là họ đă kư kết những hiệp ước hoàn toàn không có giá tri theo luật pháp Việt Nam. 

 

Trên thực tế, dù chúng ta chứng minh rằng những hiệp ước nầy không có giá trị, giá trị cưỡng hành hiệp ước luôn luôn tùy thuộc vào thái độ quyết liệt của nước mạnh kư tên trong hiệp định.   Lịch sử cho thấy những hiệp ước bất b́nh đẳng giữa Việt Nam với thực dân Pháp kư kết từ cuối thế kỷ thứ 19 có hiệu lực cho đến khi Pháp không c̣n đủ khả năng quân sự, kinh tế và ngoại giao để thực hiện các hiệp ước đó tại Đông Dương.  Điều này cũng đang xảy ra cho việc giải quyết biên giới giữa Palestine, các nước Ả Rập và Do Thái, và hầu hết các quốc gia có tranh chấp về biên giới.

 

Do nguyên tắc “mạnh được yếu thua” vẫn là nguyên tắc lơi cốt trong bang giao quốc tế, một hiệp ước quốc tế, hợp pháp hay không hợp pháp, có hiệu lực cưỡng hành hay không đều tùy thuộc khả năng quân sự, kinh tế và ngoại giao của các nước kư tên.  Do đó, những lư luận liên quan đến giá trị hợp pháp của  hiệp ước chỉ  có giá trị về nghiên cứu pháp lư, ngoạI giao và biện giảI giá trị chính nghĩa.  C̣n giá trị thực tiễn của nó, hay giá trị quân sự, rất giới hạn.

 

Vấn đề được đặt ra là với một hiệp ước dâng đất cho Trung Quốc như thế, khi có chính quyền dân chủ, Việt nam có quyền hủy bỏ các hiệp ước biên giới bất công đó hay không?

 

Câu trả lời tất nhiên là có.  Tuy nhiên, như đă tŕnh bày ở trên, quyền phủ nhận những hiệp ước bất hợp pháp và bất lợi cho chúng ta luôn luôn bị giới hạn bởi sức mạnh quân  sự, kinh tế và ngoại giao của chúng ta trong tương quan quyền lực đối với Trung quốc. 

 

Kết Luận

 

Mặc dù nhà nước Cộng Sản Việt Nam không có tư cách pháp nhân, tính chất hợp pháp để đại diện Việt Nam kư các hiệp ước biên giới dâng đất cho Trung Hoa, và thủ tục kư kết hoàn toàn bất hợp hiến, sự kiện họ nắm chính quyền tạo cho họ một thẩm quyền tạm thời để thực hiện các hiệp ước đó. 

 

Đối với Trung Quốc đây là điều lợi lớn.  Họ không tốn một giọt máu mà chiếm được hàng ngàn kilomet vuông lănh thổ và hơn 10,000 kilomet vuông lănh hải. 

 

Trên mặt trận bang giao quốc tế, đối với vấn đề tranh chấp biên giới, chiếm giữ đất luôn luôn là thế thượng phong.  Và để bảo vệ tổ quốc th́ máu là chính, và giấy mực là phụ. 

 

Do đó, cho dù Trung quốc biết là phía Việt Nam không có tư cách pháp nhân, hiến pháp Việt Nam không hợp pháp, một khi họ đă đưọc dâng đất họ sẽ không bao giờ trả lại.  Như thế, qua hiệp ước biên giới, Cộng Sản Việt Nam đă ngu xuẩn, đưa  sinh mệnh dân tộc vào một con đường cùng cực kỳ hiểm nghèo mà thế hệ mai sau phải đem máu đào để trả. 

 

Nói như nhà văn tranh đấu Dương Thu Hương :”ḷng yêu nước của nhân dân là mỏ vàng ṛng mà đảng Cộng Sản dành độc quyền khai thác”.  Đảng Cộng Sản đă khai thác mỏ vàng ṛng nầy bằng cách xử dụng xương máu của các thế hệ thanh niên 45, 54, 75 để xây dựng và bảo vệ một chế độ độc tài dốt nát và liên tục tụt hậu.  Nhưng xử dụng  xương máu của thế hệ thanh niên ngày qua và ngày nay vẫn chưa đủ, với các hiệp định biên giới vừa kư kết,   họ lại tiếp tục  lén lút bán xương máu của thế hệ 2000 và con cháu mai sau để đánh đổi lấy việc duy tŕ ngai vàng ngày hôm nay.   Đây là hành vi mà mọi người Việt yêu nước, không phân biệt chính kiến,  đều tuyệt đối không thể chấp nhận.  Thái độ quyết liệt đối với vấn đề chế độ CSVN dâng đất cho Trung Hoa là thước chuẩn đo ḷng yêu nước của mọi người dân Việt. Và đây cũng là giới tuyến rơ ràng nhất của người Việt chân chính yêu nước và chế độ độc tài bán nước hại dân.

 

Luật Sư Nguyễn Xuân Phước 

1/26/2002

 

 

Tham khảo: 

http://www.geocities.com/hannamquan