Vấn Đề Giá Trị Pháp Lư Của Các Hiệp Định Nhường Đất Và Lănh Hải Cho Trung Quốc

Bài Của Luật Sư Đào Tăng Dực

Ngày mồng 5 tháng giêng Aâm Lịch, nhằm ngày 16 tháng 2 năm 2002Ơ làƠ kỷ niệm hơn 200 năm ngày vị anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ dương ngọn cờ tự chủ tiêu diệt đoàn quân Măn Thanh xâm lược trong một trận Đống Đa lừng danh lịch sử. Sở dĩ quân ta toàn thắng và bảo vệ được quyền tự quyết dân tộc và sự toàn vẹn lănh thổ không phải chỉ v́ Quan Trung Đại Đế là một thiên tài quân sự, cũng không phải chỉ v́ các tướng sĩ Tây Sơn dưới sự chỉ huy của ngài đởm lược hơn người . Lư do chính đáng nhất và quan trọng nhất là v́ người dân Việt, trong bất cứ thời điểm nào , cũng nuôi dưỡng một ḷng yêu nước nồng nàn . Trong thời điểm đó của lịch sử, khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm và khi sự toàn vẹn lănh thổ của tổ quốc bị đe dọa th́ lời hiệu triệu của Quang Trung Đại Đế đă được đáp ứng một cách nhiệt thành.

 

Ḷng yêu nước đó vẫn c̣n nồng nàn không kém ngày hôm nay. Tuy nhiên đáng tiếc thay, những thành phần lănh đạo cao cấp trong đảng CSVN , cũng như nhiều thành phần sai lầm khác trong quá khứ , đă chủ quan đánh giá thấp ḷng yêu nước cao độ này .Toàn dân Việt Nam đều phải đau ḷng và vô cùng tủi nhục khi CSVN, qua 2 hiệp định : “ Hiệp Định về biên giới trên đất liền Việt Nam- Trung Quốc” kư ngày 30/12/99 nhường cho Trung Quốc 720 km vuông làm cho Aũi Nam Quan hoàn toàn nằm trong biên giới Trung Quốc, và “Hiệp Định phân định lănh hải” kư ngày 25/12/00 nhường cho Trung Quốc hằng ngàn cây số vuông trên biển trong vịnh Bắc Việt.
Đây là một hành động măi quốc cầu vinh, bám víu quyền lợi bằng mọi gía, sa đọa tinh thần đến cùng cực, và tập thể lănh đạo đảng, cũng như tất cả những cá nhân và tập đoàn khác đă cố t́nh đánh giá thấp ḷng yêu nước của toàn dân. Họ sẽ trả một giá rất đắt trong lịch sử trước cao trào phẫn nộ của toàn thể dân tộc.


Chúng ta ngày hôm nay phải chua xót tưởng niệm ngày chiến thắng Đống Đa mỗi năm tết đến đồng thời cùng một lúc ư thức rằng các cán bộ CSVN đang tuân hành lệnh của đảng, chăm chỉ c̣ng lưng vâng dạ cắm mốc tại biên giới Việt Hoa (dĩ nhiên với sự hăm hở cộng tác của các viên chức Trung Quốc), dùng chính 2 tay của ḿnh để dâng cho thiên triều một phần lịch sử của giang sơn gấm vóc mà tổ tiên đă đổ xương máu qua nhiều ngàn năm ǵn giữ.


Tiến tŕnh cắm mốc để nhường đất này, đựơc biết, sẽ hoàn tất trong ṿng 3 năm.


Thật vậy không những trong cộng đồng người Việt hải ngoại mà ngay cả toàn dân trong nước đều vô cùng phẩn nộ. Các nhân sĩ và tổ chức đấu tranh tại hải ngoại đều cực lực phản đối hành động măi quốc cầu vinh này qua các cuộc biểu t́nh, các tuyên ngôn báo chí và các bài xă luận. Cao trào phản đối này càng lúc càng dâng cao như một cơn sóng thần.

Nhiều trí thức hải ngoại có ư định dùng các Tuyên Ngôn và Công Ước Quốc Tế ( mà CSVN đă kư kết và cam đoan thi hành) để đả phá giá trị pháp lư (legal validity) của hai hiệp định nêu trên.


Bên trong nước và nội bộ đảng CSVN cũng có những xáo trộn lớn. Oâng Đỗ Việt Sơn , 78 tuổi,54 tuổi đảng, hội viên Câu Lạc Bộ Bạch Đằng đă viết thư cho Tổng Bí Thư Nồng Đức Mạnh, Chủ Tịch Nước Trần Đức Lương, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An, Thủ Tướng Chính Phủ Phan Văn Khải đề nghị Quốc Hội không thông qua Hiệp Định Biên Giới Việt Trung.
20 nhân vật tên tuổi trong nước đă lên tiến chính thức trong một bức thư cũng gởi cho các lănh tụ CSVN nêu trên dưới tiêu đề “ 20 Bô Lăo Kháng Thư Tố CSVN Cắt Đất Cho TQ Quá Nhiều”. Cá nhân vật ấy gồm một số nhân vật tên tuổi như sau (dùng ngôn ngữ của chính đương sự):
1.Trần Quang Lê, cách mạng lăo thành, 55 tuổi đảng, nguyên phó bí thư xứ ủy Nam B, đai diện cho nhóm cách mạng lăo thành sinh hoạt ở T4.
2.Bùi Long, lăo thành cách mạng, 56 tuổi đảng, nguyên cán bộ tổng hợp của Bộ Công Nghiệp.
3.Nguyễn Ngọc Diệp, thiếu tướng, nguyên chính Uũy bệnh viện quân chủng pḥng không không quân,cựu chiến binh,75 tuổi đời,52 tuổi đảng.
4.Quốc Lập, đại tá, cựu chiến binh, Chủ Nhiệm Công Binh Quân Khu 7.
5.Trần Độ, trung tướng,nguyên Phó Chính Uũy Quân Giải Phóng Miền Nam, nguyên phó Chủ Tịch Quốc Hội khóa VIII, nguyên Uũy Viên Trung Ương các khóa 3,4,5,6.
6.Hoàng Minh Chính, nguyên Tổng Thư Kư Đảng Dân Chủ Việt Nam, nguyên tổng thư kư Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam, nguyên chấp ủy viên ban chấp hành trung ương liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới, nguyên viện trưởng viện triết học, sĩ quan thương binh.
9.Phạm Quế Dương, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên tổng biên tập Tạp Chí Lịch Sử Quân Đội.
10.Nguyễn Thanh Giang, Viện Sĩ, tiến sĩ địa vâỉt lư.
11.Chu Thành, nhà thơ, bút danh Tú Sót.
12. Nguyễn Thụ, 75 , nguyên Trọng Tài Viên Trọng Tài Kinh Tế Nhà Nước (1985-1991), nguyên vụ phó vụ sản xuất liên hiệp xă công nghiệp, thương nghiệp trung ương (1973-1985), nguyên ủy viên ban chỉ đạo cải tiến quản lư kinh tế công nghiệp chính phủ (1979-1985).
13.Trần Nhật Độ, đại tá,nguyên chính ủy binh chủng đặc công.
14. Trần Đại Sơn, 54 tuổi đảng, quyết tử quân-đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Cơ Diệu 1945,nguyên trưởng ban trinh sát đặc công sư đoàn 308B.

Ngoài ra c̣n vô số thư từ, kiến nghị, bài cảnh giác,đơn chất vấn, bài xă luận đặt vấn đề, bài hát và thơ miả mai phát xuất từ những cán bộ thuộc mọi cấp trong nội bộ đảng CSVN c̣n lương tâm đối với tiền đồ dân tộc gởi cho các cấp lănh đạo CSVN.  Dĩ nhiên đây chỉ là”đỉnh của một băng sơn” (tip of the iceberg). Thật sự th́ ḷng dân đă vô cùng căm phẫn nhưng c̣n đang âm ỷ cháy như ḷng của một ngọn núi lửa và chưa đến lúc bùng nổ mà thôi. CSVN đă gian manh dấu nhẹm hành động ô nhục này đặt toàn dân trước một sự kiện đă rồi. Trước t́nh cảnh này và trong niềm tuyệt vọng phát xuất từ sâu thẳm của đáy ḷng từng người dân Việt trong nước cũng như ngoài nước, không phân biệt tôn giáo, phái tính hoặc quan điểm chính trị, nhiều lập luận được đưa ra để bác bỏ tính cách hiệu lực pháp lư (legal validity) của 2 bản hiệp ước nêu trên.
Một số thức giả căn cứ trên điều 1 của Hiến Pháp 1992 (HP) hiện hành để biện minh rằng 2 hiệp ước nêu trên là không có hợp hiến và như thế không có hiệu lực pháp lư.

Điều 1 của HP viết:
“ Nước CHXHCNVN là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lănh thổ, bao gồm đất liền,các hải đảo, vùng biển và vùng trời.”

Tuy nhiên khi phân tích kỹ chúng ta phải thừa nhận rằng điều 1 tự nó không đủ biện minh cho tính cách vi hiến của 2 hiệp định về đất đai được. Hai lư do giản dị là v́ : trước hết điều 1 không minh thị quy định lănh thổ của Việt Nam gồm những lănh địa , vùng trời và vùng biển nào?
Sau đó điều 1 cũng không minh thị quy định là không một chính quyền nào được quyền kư kết những hiệp định nhường đất cho ngoại bang.

Một khi không quy định như thế th́ các chính quyền đương nhiệm sẽ có trách nhiệm quy định lănh thổ “theo luật pháp quy định”. CSVN đang nắm quyền không những qua điều 4 HP mà c̣n qua quân đôỉi, công an và sự khống chế toàn diện Quốc Hội nên CSVN quy định như thế nào th́ luật pháp sẽ quy định y theo như thế.

Nhiều người muốn vin vào điều 84 (13) của HP cho rằng, để cứu văn t́nh thế, toàn dân phải đứng lên kêu gọi quốc hội bù nh́n CSVN từ chối không phê chuẩn hoặc phủ quyết các hiệp ước nêu trên, và như thế sẽ vô hiệu hóa tính cách pháp lư của 2 hiệp định.

Điều 84(13) viết:
“ Quốc Hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây :…Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại, phê chuẩn hoặc băi bỏ các điều ước quốc tế hoặc tham gia theo đề nghị của chủ tịch nước.”

Mới xem qua th́ đây quả nhiên là một giải pháp hữu lư và có khả năng, trong phạm vi của luật pháp và hiến pháp, vô hiệu hoá giá trị của 2 hiệp định nêu trên. Tuy nhiên, sự thật oái ăm là qua điều 4 của HP đảng CSVN là đảng duy nhất hiện hữu và nắm quyền và CSVN , qua một luật lệ và thể thức bầu cử vô cùng phản động và phi dân chủ, đă kiểm soát hầu như 100% các dân biểu quốc hội. Xác xuất Quốc Hội bù nh́n này đi ngược lại một quyết định của chính trị bộ đưa ra thật sự hoàn toàn không tưởng.

Hơn nữa chúng ta có thể nói rằng lập luận này chỉ đúng nếu không có điều 4 của hiến pháp CHXHCNVN.

Điều 4 của HP viết:
“Đảng CSVN, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lương lănh đạo nhà nước và xă hội. Mọi Tổ chức của đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và luật pháp. “
Lư do là v́ điều 4 minh thị quy định đảng CSVN là lực lượng lănh đạo nhà nước và xă hội. Chính v́ thế, nếu xảy ra những tranh chấp về pháp lư trên một diễn đàn quốc tế th́ Trung Quốc có thể vin vào điều 4 mà lập luận rất vững chăi rằng các hiệp ước này hoàn toàn có hiệu lực pháp lư mà không cần quốc hội hoặc bất cứ một cơ chế nào ngoài đảng CSVN phê chuẩn.
Việc chính quyền CSVN kư các hiệp định nhường các vùng đất và vùng biển cho Trung Quốc rơ ràng nằm trong khuôn khổ của hiến pháp và luật pháp hiện hành. Vấn đề đều 4 của hiến pháp quá phi lư hoặc khuôn khổ luật pháp trao cho CSVN quá nhiều quyền là một vấn nạn nội bộ của dân tộc Việt Nam, không phải là vấn đề của Trung Quốc là kẻ hưởng lợi.

Như thế điều 4 HP không những là nguyên do gây ra sự lộng quyền bán nước mà c̣n là căn bản pháp lư duy nhất và vô cùng hùng mạnh để biện minh cho hiệu lực pháp lư (legal validity) cho 2 hiệp ước này, và bao lâu mà hiệu lực pháp lư của chính điều 4 c̣n hiện hữu th́ ngày đó sự toàn vẹn lănh thổ của dân tộc Việt Nam c̣n không thể văn hồi. Cũng chính v́ những lư do nêu trên mà trách nhiệm tấn công vào giá trị pháp lư của điều 4 HP với mục tiêu lên án và hủy diệt nó, trênƠ một diễn đàn quốc tế quan trọng (như Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc hoặc một toà án quốc tế có thẩm quyền) không những sẽ đem lại dân chủ thực sự cho Việt Nam mà c̣n hủy diệt tính cách pháp lư của 2 hiệp ước bất b́nh đẳng nêu trên và góp phần vào việc bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ của tổ quốc Việt Nam. Một số trong những lập luận quan trọng chúng ta có thể nêu ra trong việc đả phá căn bản pháp lư của điều 4 là tính cách thiếu công bằng và lẽ phải (lack of justice and equity) của một văn kiện pháp lư, và sự kiện CSVN đă kư kết để thi hành nội dung các bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (TNQTNQ),Công Ước Quốc Tế về các quyền văn hóa, xă hội và kinh tế (CUQTCQVHXH&KT), Công Ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị (CUQTCQDS&CT). Lư do là v́ điều 4 ngang nhiên và trắng trợn vi phạm một số điều khoảng quan trọng của các tuyên ngôn và công ước quốc tế nêu trên.Chúng ta có thể lập luận rất vững chăi rằng, ngoài việc vi phạm nguyên tắc công bằng và lẽ phải, điều 4 không có hiệu lực pháp lư và phải bị hủy bỏ v́ một khi một quốc gia đă kư kết vào một hiệp ước quốc tế th́ phải điều chỉnh mọi luật lệ của quốc gia, kể cả hiến pháp, để thi hành tinh thần của các hiệp ước quốc tế nàyƠ . Điều 4 đi ngược lại với tinh thần các bản tuyên ngôn và công ước nêu trên, không có hiệu lực pháp lư va phải hủy bỏ. Nếu điều 4 không có hiệu lực pháp lư th́ các hiệp ước nhượng đất liền và lănh hải nêu trên cũng không thể có hiệu lực pháp lư và trên nguyên tắc, Aũi Nam Quan, các vùng đất liền và lănh hải bị CSVN nhượng cho Trung Quốc vẫn c̣n thuộc chủ quyền của nhân dân Việt Nam (Tham khảo Thông Cáo Báo Chí của Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam ngày 25/1/02) .
 

Trách nhiệm điều chỉnh luật pháp của quốc gia (kể cả hiến pháp) để thi hành nghiêm chỉnh các công ước quốc tế được minh thị ghi rơ trong điều 2 (2) của Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Tự Do Dân Sự và Chính Trị như sau:

“Nơi quốc gia nào chưa có những biện pháp pháp lư hoặc những biện pháp khác, mỗi quốc gia hội viên trong công ước này cam kết sẽ có những biện pháp cần thiết, theo đúng những tiến tŕnh hiến pháp , và với các điều khoảng trong công ước này,để có những biện pháp pháp lư hoặc những biện pháp khác cần thiết để thực thi các quyền lợi trong bản công ước này.”
Để xác quyết trách nhiệm này rơ rệt hơn, chúng ta cũng ghi nhận điều 2(1) của bản Công Ước Quốc Tế Về Các QuyềnVăn Hoá Xă Hội Và Kinh Tế cũng ghi rơ trách nhiệm điều chỉnh luật pháp của quốc gia tương tự.
Chúng ta có thể nêu ra những điều khoảng mà diều 4 HP ngang nhiên vi phạm như sau:

Chúng ta ai cũng nh́n thấy rơ diều 4 HP vi phạm các điều khoảng sau đây của các văn kiện quốc tế này . Lư do là v́ tất cả những điều khỏang sau đây đều nhằm mục tiêu đưa đến những cuộc bầu cử công bằng, tự do, đa đảng để người dân có thể chọn lựa những cá nhân và đảng phái họ yêu thích và tín nhiệm. Trong khi đó điều 4 minh thị quy định theo kiểu cả vú lấp miệng em rằng đảng CSVN một ḿnh nắm quyền, khỏi cần qua một tiến tŕnh bầu cử và đắc cử công bằng làm ǵ nữa:

Vi phạm điều 21(1) của bản TNQTNQ :
“Mọi ngươiụ đều có quyền tham gia vào chính quyền của quốc gia ḿnh hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu được chọn lựa một các tự do.”
Vi phạm điều 21(3) của bản TNQTNQ:
“Ư dân là văn bản của uy quyền chính phủ, điều này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử chân thật và thường xuyên, những cuộc bầu cử này phải có tính cách phổ thông và b́nh đẳng và phải có tính cách kín hay qua những thủ tục bầu cử tự do tương đương.”
Vi phạm điều 25 của CUQTCQDS&CT :
“Mọi công dân đều có quyền và cơ hội…(a) tham gia chính sự trực tiếp hoặc qua các nhân vật dân cử do họ chọn lựa tự do. (b) bầu cử và đắc cử trong những cuộc bầu cử chân thật và thường xuyên, phổ thông, công bằng, kín, bảo đảm sự bộc lộ ư cử tri…”

Dĩ nhiên là CSVN trước một vị thẩm phán quốc tế, trong một diễn đàn hoặc một toà án quốc tế sẽ lập luận theo kiểu Mác Lê rằng “nước chúng tôi cũng rất là dân chủ, có bầu cử, có quốc hội, có báo chí v.v…”. Tuy nhiên những lập luận này chỉ có giá tri đối với một toà án bù nh́n trong nước thôi. Trên một diễn đàn quốc tế họ sẽ chỉ làm tṛ cười cho luật gia cả thế giới v́ những tṛ và mánh mung lường gạt dân chúng Việt Nam thấp cổ bé miệng sẽ không lường gạt được công pháp quốc tế qua những nguyên tắc thật sự đơn giản nhưng công minh như “ thực chất ưu thắng h́nh thức” (substance prevails over appearances) và “công lư không những phải được thi hành mà c̣n phải được mọi người nh́n thấy rơ là được thi hành” (justice must not only be done but must be seen to be done).

Thế th́ những diễn đàn hoặc toà án quốc tế nào có thể được xử dụng trong t́nh huống này? Chúng ta có thể nêu ra một số sau đây:
Toà Aùn Quốc Tế Công Lư (International Court Of Justice)
Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (General Assembly Of The United Nations)
Toà Aùn Quốc Tế về Luật Hàng Hải (International Tribunal For The Law Of The Sea)
Toà Aùn H́nh Sự Quốc Tế (International Criminal Court)
Toà Hoà Giải Thường Hằng (Permanent Court Of Arbitration)
Uũy Ban Bồi Thường Liên Hiệp Quốc (United Nations Compensation Commission)
Uũy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (United Nations Commission On Human Rights)
Uũy Ban về các quyền kinh tế, xă hội và văn Hoá (Commission on Economic, Social and Cultural Rights)
Ủy Ban Chống Tra Tấn (Committee Against Torture).v…v…

Trên các diễn đàn và ṭa án quốc tế này, một nguyên cáo không cần phải nhất thiết (dĩ nhiên nếu được th́ tốt hơn) đưa ra một vấn đề trực tiếp liên hệ đến điều 4 của HP mà vẫn đánh CSVN được những đ̣n chí tử trên diễn đàn quốc tế. Chẳng hạn một cá nhân bị CSVN tra tấn dă man trước khi vượt biên t́m tự do có thể đưa CSVN hoặc những công an tra tấn ḿnh ra trước một toà án hoặc diễn đàn liên hệ để đ̣i bồi thường. Một trong những lập luận của người này là CSVN đă tra tấn bất hợp pháp v́ điều 4 HP vi phạm nguyên tắc công bằng và lẽ phải và cho phép CSVN lộng hành quyền lực, vi phạm nhân quyền.
Việc người đó có được bồi thường hay không không quan trọng bằng việc xử dụng diễn đàn này để đánh CSVN trên b́nh diện chính trị quốc tế và công pháp quốc tế. Chỉ cần một vị chánh án, trong một toà án quốc tế có một nhận xét (observation) công bằng về điều 4 HP là CSVN đă mất hết tất cả hào quang chính danh rồi. Huống hồ là nếu vị chánh án ấy có thể đưa ra một phán xét có thẩm quyền (authoritative ruling) về giá trị pháp lư của điều 4 HP. Dĩ nhiên Việt Nam là một nước có quyền tự quyết dân tộc và CSVN, qua sự kiểm soát quân đội và công an, sẽ mặc nhiên coi thường sự phán quyết này, không bồi thường thiệt hại và lên giọng phản đối phán quyết của toà quốc tế như là một sự xâm phạm quyền tự quyết dân tộc. Tuy nhiên, chế độ sẽ lộ bộ mặt trơ trẽn là họ chỉ là một chế độ cầm quyền trên thực tế (de facto) do bạo lực mà ra. Họ chưa bao giờ là một chính quyền chính danh (legitimate) và hợp pháp (de jure) cả. Sự phân biệt từ trong quốc nội lẫn quốc tế giữa 2 khái niệm “de facto” va “de jure” này sẽ làm giảm uy tín của chế độ không thể văn hồi và đưa đến sự sụp đổ nhanh chóng. Đánh vào tính cách pháp lư của điều 4 HP bằng mọi giá quan trọng là như thế.Ơ

Một giả thuyết khác có thể xảy ra là nếu đảng CSVN quá ngoan cố và v́ bám víu quyền lực một các mù quáng tiếp tục thu hành hiệp định dâng đất cho thiên triều, sẽ đến một giai đoạn một số quân nhân hoặc lănh đạo công an phản tỉnh trong hàng ngũ của ho xử dụng 1 điều khoảng khác trong HP hiện hành, đứng lên đảo chánh, huy bỏ điều 4 HP va khởi đầu một tiến tŕnh tu chính toàn diện HP.
Điều 45 HP viết:

“”Các lực lượng vơ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lănh thổ của tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xă hội, bảo vệ chế độ xă hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước.”
Đến lúc đó cụm từ “bảo vệ xă hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng” không c̣n được hiểu là đồng nghĩa với “ bảo vệ đảng CSVN” nữa. Ngay cả trong trường hợp c̣n được hiểu là đồng nghĩa th́ những thành phần quân đội và công an phản tỉng cũng sẽ có một chọn lựa đúng đắng và sáng suốt giữa đảng CSVN một bên này và tổ quốc và sự toàn vẹn lănh thổ của tổ quốc một bên kia. Lúc đó các lực lượng đảo chánh có thể lập luận rằng chính quyền họ lật đổ không c̣n chính danh nữa mà chỉ là một chính quyền de facto mà thôi.
Có thể lập luận rằng, xử dụng công pháp quốc tế qua các tuyên ngôn và công ước quốc tế dể đả phá trực tiếp giá trị pháp lư của 2 hiệp ước Hoa Việt nêu trên (mặc dầu đáng khuyến khích và nên xúc tiến nếu có phương tiện) ít có xác xuất thành công hơn và có mục tiêu nhắn hạn hơn là xử dụng các tuyên ngôn và công ước này để đả phá giá trị pháp lư của điều 4 HP và qua đó gián tiếp tiêu hủy giá trị pháp lư của 2 bản hiệp định ô nhục nêu trên.
Lư do là v́ một khi các hiệp ước giữa những quốc gia có chủ quyền, qua những chính quyền chính danh và có thực quyền th́ lập luận để bác bỏ tính cách pháp lư của các hiệp định tương đối khó. Trong khi đó diều 4 HP là một điều khoảng , trong hoàn cảnh lịch sử thế giới hiện nay, phi lư đến mức độ không những không một quan toà quốc tế nào, không một toà án nào, không một con ngưồi văn minh nào có thể chấp nhận được. Chính v́ thế xác xuất thành công rất cao. Thêm vào đó sự thành công sẽ có tính cách dài hạn, khởi đầu cho một tiến tŕnh dân chủ hoá, cải tổ hiến pháp rộng răi, đem lại dân chủ và sự hạnh phúc lâu dài, cũng như có những biện pháp ngăn chận không cho tái diễn những tṛ lộng quyền nguy hiểm tương tự xảy ra trong tương lai. Nếu chỉ vô hiệu hoá trên nguyên tắc một cách trực tiếp 2 hiệp định này mà vẫn giữ diều 4 HP th́ có ǵ để bảo đảm một hành động tương tự sẽ không xảy ra trong một tập thể đă băng hoại tinh thần như CSVN?
Chúng ta có thể tạm kết luận rằng , nếu dùng danh từ chiến thuật chiến lược quân sự th́ khi ra chiến trường, mà chúng ta tấn công vào 2 hiệp định Việt Hoa ô nhục , vào sự đàn áp tôn giáo, vào sự vắng bóng tự do báo chí, vào trào lưu chuyển tiền về Việt Nam, vào việc du lịch Việt Nam v.v… là chúng ta đánh vào các “diện” khác nhau của mục tiêu. Trong khi đó nếu chúng ta hủy diệt điều 4 của HP là chúng ta đă đánh vào và đă hủy diệt được “điểm”. Đánh trúng “điểm” th́ các “diện” điều theo đó triệt tiêu. Đánh vào các diện th́ những diện khác sẽ sinh sôi nảy nở để thay thế. Chúng ta sẽ c̣n phải chiến đấu vỉnh viễn.
Nếu dùng theo danh từ chính trị th́ chúng ta có thể ví các “diện” như hiện tượng (manifestation) và “điểm” như bản chất (nature). Chúng ta tiêu diệt được bản chất th́ các hiện tượng hại dân hại nước mới triệt tiêu.

Nếu nói theo triết học Đông Phương th́ khi đánh đổ được điều 4 HP, nhất điểm thông th́ vạn diện sẽ đều thông v́ một khi bản chất của những hiện tượng bị hủy diệt th́ các hiện tượng sẽ tùy theo duyên đó mà tự hủy diệt.

 Ở mức độ nào đó chúng ta có thể lập luận rằng, v́ ḷng tham lam quá độ, Cọng Sản Trung Quốc đă tính sai một nước cờ có tính cách chiến lược. Lư do là v́ trước trào lưu dân chủ đa nguyên đang vận chuyển trên khắp thế giới, thế mội hở răng lạnh giữa 2 đảng cọng sản độc tài và lân bang này ngày càng trở nên một thế ỷ dốc quan trọng hơn. CSTQ mà sụp đổ th́ chắc chắn CSVN cũng phải nhanh chóng sụp đổ theo. CSVN mà sụp đổ th́ CSTQ cũng chỉ có thể tồn tại một thời gian ngắn sau đó. Bằng cách ép đàn em của ḿnh đang nằm trong thế kẹt phải nhường đất (để giữ quyền lực) CSTQ đă hủy diệt toàn bộ uy tín của đàn em này đến mức độ chế độ có thể tiêu vong dưới sức phản kháng của toàn dân. Sự sụp đổ của CSVN sẽ thúc đẩy nhanh chóng sự sụp đổ của CSTQ v́ thế môi hở răng lạnh đă chấm dứt.
Đă đến lúc chúng ta phải cương quyết đẩy mạnh công tác hủy bỏ điều 4 hiếp pháp và nhiệm vụ bảo tồn sự toàn vẹn lănh thổ của người Việt Nam trên mọi mặt trận kể cả mặt trận công pháp quốc tế nêu trên và kêu gọi sự hưởng ứng của toàn dân trong nước lẫn ngoài nước trước t́nh trạng quốc gia lâm nguy thất phu hữu trách này.

Luật Sư Đào Tăng Dực
28/01/02