
(Trích
Nguyệt San Đoàn kết, Austin - Texas)
Lời giới thiệu:
Chúng
tôi nhận được bài viết rất công phu và giá
trị sau đây do Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc
gửi tới cùng với một số h́nh ảnh. Đại
Tá Ngạc là người đă anh dũng chỉ huy Hải
Đội VNCH trong trận hải chiến bảo vệ
quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974.
Thành
thật cảm tạ sự đóng góp và cộng tác qúi báu
của tác giả. Kính mong Đại Tá Ngạc sẽ tiếp
tục lên tiếng để phần tài liệu về
trận hải chiến tại Hoàng Sa được thêm
đầy đủ.
Austin
ngày 12 tháng 11 năm 1998
Trần Đỗ Cẩm
Chủ Nhiệm
Sự
tranh chấp về chủ quyền của các đảo
Hoàng Sa và Trường Sa đă được các sử gia
và các nhà nghiên cứu về thềm lục địa tŕnh
bày rất nhiều. Gần đây nhứt là trong cuốn
Địa lư Biển Đông của Hải Quân Trung Tá Vũ
Hữu San, một công tŕnh nghiên cứu tỉ mỉ, đă
sưu tập những tài liệu để chứng minh
chủ quyền Việt Nam không những về các hoạt
động để xác nhận chủ quyền của
quốc gia mà c̣n phân tích tỉ mỉ về các dữ
kiện địa chất, thảo mộc và khí
tượng để minh xác là những hải đảo
trong vùng Hoàng - Trường Sa đă được tổ
tiên chúng ta đặt chân tới đặt bia miếu và
trong quá khứ gần đây Việt Nam Cộng Ḥa đă
tiếp tục tham dự các hoạt đông khí
tượng trên b́nh diện quốc tế.
Khi
chính phủ bảo hộ Đông Dương của
người Pháp vào năm 1933 đă ra nghị định
sát nhập hành chánh các quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa vào các tỉnh ven biển th́ chỉ có duy
nhứt Nhật bản phản kháng mà thôi và cũng chỉ
phản kháng lấy lệ và người Pháp vẫn
tiếp tục thi hành nghị định đă ban bố
trong công báo Pháp. Ngay cả người Anh, những nhà hàng
hải của họ đă khám phá thấy các đảo
vùng Trường Sa, nhưng khi Việt Nam, Pháp và Tây Ban Nha
kư hiệp ước bảo hộ vào năm 1862 th́ họ
đă không phản ứng ǵ.
Sự
chiếm đóng quân sự của Đài Loan trên đảo Thái
B́nh, của Phi Luật Tân trên đảo Loại Ta, của
Trung Hoa Dân Quốc trên đảo Phú Lâm cực bắc
của quần đảo Hoàng Sa chỉ v́ người
Pháp, trong cuộc chiến tranh Đông Dương đă
phải đương đàu ngặt nghèo với các
cuộc hành quân tảo thanh cũng như pḥng thủ trong đất
liền nên chỉ có thể dặt quân trú pḥng trên
đảo Hoàng Sa mà thôi bằng khoảng một trung
đội Lê dương và đă bỏ ngỏ các
đảo quan trọng khác. Đặc biệt là đảo
Thái B́nh của quần đảo Trường Sa dă bị
quân đội Nhật cưỡng chiếm trong đệ
nhị thế chiến. Khi quân Nhật đầu hàng th́
Trung Hoa Dân Quốc chỉ có nhiệm vụ giải
giới quân đội Nhật nhưng họ đă lợi
dụng t́nh thế bối rối lúc bấy giờ của
người Pháp để chiếm cứ luôn, cùng với
đảo Phú Lâm của quần đảo Hoàng Sa. Riêng
về đảo Phú Lâm th́ khi đó chiến tranh quốc -
cộng đến thời kỳ gần kết thúc
tại lục địa, khiến Trung Hoa Dân Quốc
đă buộc phải bỏ ngỏ một thời gian và
Trung Cộng đă lấn chiếm vào giữa thập niên
50.
Vào
khoảng thời gian này th́ Hải Quân Việt Nam Cộng
Ḥa c̣n đang ở trong thời kỳ phát triển
mạnh, vả lại Hải Quân c̣n phải tham dự các
cuộc hành quân b́nh định của chính phủ trong sông
ng̣i cũng như ngoài ven biển nên các hoạt động
ngoài biển khơi chỉ được hạn chế
trong công cuộc tiếp tục yểm trợ sự
hiện diện uqân sự trên đảo Hoàng Sa khi quân Pháp
rút khỏi Việt Nam và dựng bia để khẳng
định chủ quyền quốc gia trên đảo,
đại diện cho quần đảo Trường Sa là
đảo trường Sa (Spratly) mà thôi. Hơn nữa,
đảo Phú Lâm lại nằm quá sát vĩ tuyến 17 nên
c̣n nằm trong khu vực phi quân sự theo hiệp đinh
Ba Lê năm 1954 mà chính phủ Việt Nam Cộng tuy không công
nhận nhưng vào lúc này vẫn muốn không vi phạm.
Cho
đến khi kỹ thuật khai thác về dầu hỏa
ngoài khơi được tiến triển th́ vấn
đề thềm lục địa được
đặt ra, và chủ quyền của các quốc gia trên
các hải đảo được chú trọng nhiều
hơn. Trong kỳ hội thảo về bản đồ
khu vực của Liên Hiệp Quốc cho Á Châu và Viễn
Đông lần thứ sáu (Sixth United Nations Regional Cartographic
Conference For Asia And The Far East) họp tại Teheran, thủ
đô Ba Tư vào tháng 10 năm 1970 và kéo dài một tháng, trong
đó có các phái đoàn của các nước Đông Nam Á như
Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Nhật Bản, Mă Lai, Nam
Dương, Phi Luật Tân, Thái Lan vân vân tham dự, Phái
đoàn Việt Nam do Đại Tá Đoàn Văn Kiệt (Lục
Quân) Giám đốc Nha Địa Dư quốc gia, trực
thuộc Bộ Quốc pḥng, hướng dẫn trong đó
có một vị kỹ sư địa dư và tôi tham
dự. Trong mấy ngày đầu của cuộc hội
thảo, phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan, do một
vị tướng 3 sao lục quân cầm đầu)
đột nhiên nêu vấn đề chủ quyền trên các
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi phát triển
trong hội trường.
Vào
thời gian này th́ tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân
đă có thành lập từ lâu Pḥng Nghiên cứu hay Pḥng 5, và
pḥng này đă thu thập được nhiều tài
liệu lịch sử cũng như pháp lư về chủ
quyền của quốc gia Việt Nam trên các quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng v́ đây là
một cuộc hội thảo có tính cách hợp tác kỹ
thuật do Liên Hiệp Quốc tổ chức, nên tôi
đề nghị ngay với Đại Tá Trưởng phái
đoàn là phái đoàn Việt Nam sẽ thảo luận
với các phái đoàn Đông Nam Á khác để được
sự ủng hộ của họ hầu phát biểu ư
kiến lên hội trường là không đặt vấn
đề chủ quyền quốc gia trong cuộc hội
thảo nặng về kỹ thuật đồ bản
này. Sau đó th́ phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc đă không
phản đối hay nêu thêm ǵ khác. Cũng cần ghi thêm
ở đây là sau kỳ hội thảo tại Teheran Ba
Tư, phái đoàn tham dự các cuộc hội thảo
kế tiếp đều được Bộ Tư
Lệnh Hải Quân đề cử sĩ quan xung vào phái
đoàn. Việc nêu chủ quyền trên các hải
đảo Hoàng và Trường Sa của Trung Hoa Dân Quốc
(Đài Loan) trong một cuộc hội thảo kỹ thuật
của Liên Hiệp Quốc đă là một chỉ dấu
của một khúc quanh về tranh chấp về chủ
quyền các hải đảo, các sự đối
đầu sẽ không chỉ c̣n nằm trong phạm vi tuyên
cáo và phản đối lấy lệ về ngoại giao
nữa như các quốc gia trong vùng đă từng làm
trước đây. Lư do quan trọng nhứt là việc thăm
ḍ các mỏ dầu hỏa từ năm 1969 đến
năm 1971 của Việt Nam cộng ḥa ngoài khơi Vũng
Tàu và Côn Sơn đă làm cho các lân bang chú ư kể cả Trung
Công và Cộng sản miền Bắc. Chúng ta c̣n nhớ là
trong khoảng thời gian này, Tổng Thống Việt Nam
Cộng Ḥa đă ra tận một trong các dàn khoan để
châm lửa đốt hơi dầu khánh thành sự thành
công về công cuộc t́m kiếm với một trữ
lượng dầu đáng kể do một công ty khảo
sát địa chất Huê Kỳ tại Houston đảm
trách trong một vùng khoảng 4 ngàn hải lư vuông.
Kể
từ tháng chạp năm 1971 th́ Việt Nam Cộng Ḥa
đă đặt ra vấn đề chia khu vực
đặc nhượng đă hoàn tất, nhưng măi
đến tháng 7 năm 1973 việc nhượng quyền
khai thác mới được công bố. Việc chậm
trễ này là do nhu cầu chính trị của thời
điểm này mà chính phủ Huê Kỳ đă khẩn khoản
yêu cầu Việt Nam Cộng Ḥa tŕ hoăn v́ vào lúc đó phong
trào phản chiến đang lên cao và họ đă chúi mũi
dùi vào các hoạt động của các tổ hợp liên
quốc dầu hỏa tại Việt Nam và Cam Bốt.
Một phần quan trọng nữa là quốc hội Huê
Kỳ đă lưu ư đến thềm lục địa
vùng Đông Nam Á v́ vấn đề này có liên hệ tới chính
quyền của Huê Kỳ tại vùng này. Do đó vào các
năm 1970-71 việc thăm ḍ mỏ dầu ít
được quảng bá để làm dịu bớt phong
trào phản chiến tại nội địa Huê Kỳ
cũng như không làm phương hại tới ḥa đàm
Ba Lê. Cộng sản Bắc Việt cũng biết
được các dự định của Việt Nam
Cộng Ḥa về việc đặc nhượng nhưng
măi tới tháng 6 năm 1971 mới lên tiếng phản
đối. Đương nhiên là Trung Cộng cũng đă
theo dơi các tiến triển về thăm ḍ trong ḷng biển
và chú tâm nhiều về các trữ lượng dầu
hỏa đáng khích lệ trong vùng Biển Đông.
Song
song với việc thăm ḍ dầu hỏa là công cuộc
thực hiện đặt quân trú pḥng trên các đảo c̣n
bỏ trống thuộc quần đảo Trường Sa
do chính Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa chủ
trương và nắm phần chủ độngvề
mọi công tác. Công cuộc thực hiện này là kết
quả của một cuộc thao dượt hạm
đội vào đầu mùa hè năm 1973 do Bộ Tư
Lệnh Hạm Đội lúc bấy giờ là HQ Đại Tá
Nguyễn Xuân Sơn đề xướng với sự
chấp thuận của Bộ Tư Lệnh Hải Quân.
Tôi với chức vụ là Chỉ huy trưởng Hải
đội 3 (Hải đội tuần dương) đă
được Tư Lệnh Hạm Đội trao phó trách
nhiệm tổ chức lực lượng và đặt
kế hoạch thao dượt cũng như chương
tŕnh thám sát các hải đảo. Sau khi ḥa đàm Ba Lê
được kư kết, th́ Hạm đội bấy
giờ mới có được một số chiến
hạm tạm rảnh tay với công tác tuần
dương, cho nên thành phần của hải đội
đặc nhiệm đă gồm các chiến hạm
khiển dụng hoặc tạm hoăn biệt phái cho Bộ
Tư Lệnh Hành Quân Biển, trong công tác tuần pḥng
cận và viễn duyên. Vào những năm chiến tranh sôi
động th́ các chiến hạm lớn hay nhỏ không
thuộc loại chuyên chở đều phải thay phiên
nhau tham dự công tác tuần dương hay tuần duyên
hoặc đảm trách một vài nhiệm vụ yểm trợ
hải pháo tùy theo nhu cầu trong vùng công tác. Bởi vậy
sự hoạt động của các chiến hạm theo
từng phân đoàn hay hải đoàn ít khi được
tực hiện và có thể nói là gần như không có, và
nếu có th́ thời gian hoạt động rất hạn
hẹp. Cũng cần lạm bàn thêm tại đây là
cuộc chiến tranh tiễu trừ cộng sản trong
nội địa đă phải cần sự tham dự
của các đơn vị Hải Quân rất nhiều v́
hệ thống sông ng̣i và kinh rạch từ Cửa Việt
vào Miền Nam qua mũi Cà Mâu cho đến Kinh Vĩnh
Tế chạy dọc theo biên giới Miên Việt từ Hà
Tiên cho tới Châu Đốc.
Thành
phần của Hải Đội dặc nhiệm thao
dượt gồm có: 1 Khu trục hạm, 3 Tuần
dương hạm, 1 Trợ chiến hạm, 2 Cơ
xưỡng hạm. Cơ xưởng hạm HQ 802
(Hạm trưởng HQ Trung Tá Vũ Quốc Công) là soái
hạm của cuộc thao dượt. HQ 801 có chở theo
sinh viên Sĩ quan của Trung Tâm Huấn Luyện Hải
Quân Nha Trang và một vị Hạm trưởng
được tăng phái trên chiến hạm này
để huấn luyện về tiếp tế ngoài
khơi, v́ vậy cuộc thao dượt c̣n là một môi
trường huấn lyện trên đại dương cho
các sĩ quan Hải Quân tương lai.
Hải
đội đặc nhiệm thao dượt rời quân
cảng Sàig̣n trực chỉ đảo Trường Sa và
tới đảo vào một buổi sáng. Thời tiết
vào đầu mùa hè đă bắt đầu nóng nên cuộc
đổ bộ lên đảo được thực
hiện thật sớm v́ đảo không có cây tương
đối lớn khả dĩ có thể cho bóng mát để
trú nắng. Công tác trên đảo gồm có dựng cờ
quốc gia và xây cất một tấm bia v́ tấm bi cũ
đă không c̣n thấy, có thể là đă bị các ngư
phủ của các quốc gia lân bang khi dừng chân trên
đảo đă phá vỡ.
Sau khi đổ bộ lên
đảo Trường Sa, hải đội thao
dượt trực chỉ đảo Thái B́nh, Nam Yết
(phía nam đảo Thái B́nh) và đảo Sơn Ca (đông
Thái B́nh). Đi qua đảo Nam Yết và Sơn Ca Hải
đội thao dượt chỉ quan sát đảo chứ
không đổ bộ và sau đó tất cả các chiến
hạm đă bỏ neo phía nam đảo Thái B́nh. quân trú
pḥng của Đài Loan trên đảo đă phải đặt
trong nhiệm sở tác chiến, nhưng sau đó họ
nhận thấy quốc kỳ Việt Nam Cộng Ḥa nên có
thể họ đă an tâm. Hải đội đă liên
lạc bằng quang hiệu để xin thăm viếng
xă giao trên đảo và được sự đồng ư.
Phía đoàn do Tư Lệnh Hạm Đội hướng
dẫn đă lên đảo vào khoảng gần trưa và
đă được Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến
Chỉ huy trưởng quân trú pḥng tiếp đón trong pḥng
khách của Bộ Chỉ Huy và không có cuộc đi thăm
viếng trên hải đảo có thể v́ lư do bảo
mật của họ.
Sau
khi Thái B́nh, Nam Yết và Sơn Ca, Hải đội
trực chỉ phía bắc hướng về hai
đảo Song Tử Đông và Song Tử Tây và ghé qua quan sát
đảo Loại Ta. Đảo Loại Ta lúc đó đă do
quân đội Phi Luật Tân trú đóng, và một cḥi canh
đơn sơ có thể được quan sát dễ dàng
từ bên ngoài. Hai đảo Song Tử Đông và Tây tuy nhỏ
nhưng rất gần nhau và có một số cây lớn có
thể cho bóng mát.
Cuộc
thao dượt kéo dài khoảng 1 tuần lễ, trong
suốt các hải tŕnh từ đảo này tới
đảo khác, các chiến hạm tham dự đă thực
tập mọi phương tiện truyền tin từ
hiệu kỳ cho đến vô tuyến âm thoại,
thực tập các chiến thế pḥng không cho đến
chống tiềm thủy đĩnh, hộ tống và
tiếp tế ngoài khơi.
Sau
cuộc thao dượt, vị Tư Lệnh Hạm
Đội và tôi liên lạc chặt chẽ với Chánh Vơ pḥng
Phủ Thủ Tướng để xin cho hai chúng tôi
được tŕnh bầy về quần đảo
Trường Sa. Sau khoảng một tuần lễ th́
lời thỉnh cầu của chúng tôi được
chấp thuận. Hai chúng tôi và một vị Hạ Sĩ
quan (Thượng Sĩ VC Nguyễn Mạnh Hưởng)
thuộc pḥng hành quân Hải đội 3 đă đến
Phủ Thủ Tướng với đầy đủ
sơ đồ và kính chiếu để thuyết tŕnh
trong một buổi hội của Hội đồng
nội các do chính Thủ Tướng chính phủ Đại
Tướng Trần Thiện Khiêm chủ tọa và đông
đảo các vị bộ trưởng. Phần thuyết
tŕnh là phần mở đầu của buổi hội vào
khoảng 9 giờ sáng. Tư Lệnh Hạm Đội, sau
phần tŕnh bầy chi tiết địa lư của các
hải đảo cũng như sự chiếm đóng
đă lâu ngày của Trung Hoa Dân Quốc và Phi Luật Tân,
đă mạnh mẽ đề nghị Việt Nam Cộng
Ḥa phải có sự hiện diện quân sự trên
đảo thuộc quần đảo Trường Sa
như: Nam Yết, Trường Sa (Spratly) Song Tử Đông và
Song Tử Tây v.v... Đề nghị của Hải Quân đă
được toàn thể nội các tán đồng ngay mà
không có thắc mắc nào được đưa ra thêm
để bàn căi. Sau phần tŕnh bầy phái đoàn Hải
Quân rút ra khỏi pḥng hội để hội đồng
nội các thảo luận tiếp sang các mục khác
của buổi hội.
Sau
đó, lệnh từ Bộ Quốc Pḥng đă đến
Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Tư Lệnh Hải Quân,
Cục Công Binh và Tiểu Khu B́nh Tuy để thi hành
việc đồn trú quân trên các đảo vùng
Trường Sa. Đảo được thực hiện
trước nhất là đảo Nam Yết. Tôi
được chỉ định là Chỉ Huy
Trưởng đầu tiên của cuộc hành quân Trần
Hưng Đạo 22 (chỉ số không chắc chắn). Vào
cuối tháng 5, khi gió mùa đông nam đă nhẹ nhẹ
thổi, Dương Vận Hạm HQ 504 (Hạm
trưởng HQ Trung Tá Vũ Hữu San) khởi hành từ
cầu Tự Do, với khoảng một trung đội
công binh, xuồng cao su và vật liệu xây cất doanh
trại cho một trung đội bộ binh. Sau gần 36
giờ hải hành, việc đổ bộ công binh và
vật liệu xây cất cũn như nước ngọt
lên đảo rất mỹ măn và công tác xây cất
được khởi sự ngay. Sau vài ngày th́ có thêm Khu
Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ 4 (Hạm Trưởng
HQ Thiếu Tá Nguyễn Quang Độ) tới tăng
cường. Trong thời gian xây cất, Thuỷ Quân
Lục Chiến của Trung Hoa Dân Quốc ở đảo
Thái B́nh có gởi một xuồng 3 người xuống
gần tới các chiến hạm và khi nhận dạng
được th́ họ quay đầu về sau đó
không có hành động ǵ khác.
Công cuộc xây cất doanh
trại được hoàn tất trong ṿng hơn 2 tuần
lễ và một lễ thượng kỳ đă
được tổ chức long trọng trên đảo
với nhân viên hải quân, công binh và địa
phương quân trú pḥng. Một bảng khắc chữ
bằng kim loại không rỉ sét (inox) ghi tên cuộc hành
quân Trần Hưng Đạo ... và cấp bậc, danh tánh
của tôi là Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân cùng ngày
tháng đă được gắn trên nền của kỳ
đài. tin từ một cựu chiến hữu Hải quân
c̣n ở lại quê hương cho biết là h́nh ảnh
của bản khắc nói trên đă được Việt
cộng xử dụng ít nhất là một lần trong
một cuộc triển lăm tại Trung Tâm Huấn Luyện
Hải Quân VNCH cũ để chứng minh chủ
quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng và
Trường Sa.
Theo
nhiều phân tích gia th́ trong thế kỷ 21, vùng Châu Á Thái
B́nh Dương sẽ trở thành một khu vực kinh
tế rất quan trọng của thế giới, cho nên
Trung Cộng không những chỉ muốn đạt
tới và duy tŕ vai tṛ một siêu cường kinh tế mà
c̣n muốn tái diễn một sức mạnh đế
quốc của họ trong lịch sử đối
với các nước lân bang như là thuộc quốc
phải thần phục và triều cống. Trong quá khứ
về trước người Trung Hoa không có khả
năng để quan tâm tới biển cả nên chỉ
phần lớn xâm lăng bằng đường bộ và
lực lượng Hải quân của họ chỉ
đủ để bảo vệ vùng ven biển và
chống hải tặc hoành hành các vùng cận duyên và các
cửa sông. Nhưng vai tṛ mới của Trung Cộng trong
vùng Đông Nam Á về kinh tế cũng như ảnh
hưởng về chính trị, cộng thêm với khả
năng tối tân của lực lượng hải quân nên
Trung Cộng đă đặt nặng vấn đề bành
trướng chủ quyền trên mặt biển như
một trọng tâm trong tiến tŕnh trở thành một siêu
cường trong thế kỷ tới. Cho nên việc hoàn
tất cưỡng chiếm toàn quần đảo Hoàng Sa
vào năm 1974 bằng một lực lượng hùng
hậu về hải lục không quân cũng như quân
thủy bộ, và vào các năm sau 1975, các hành động
lấn chiếm bằng cách đánh bật lực
lượng hải quân Việt cộng để dành
giựt cùng cắm dùi các hải đảo cũng như
các băi đá ngầm trong vùng Trường Sa, đă chứng
tỏ là các đường lối của họ đă theo
đúng các chỉ đạo chiến lược bá chủ
vùng Đông Nam Á.
Báo
Tuổi Trẻ phát hành ngày 18 tháng tư 98 tại Sàig̣n có
đăng tải cuộc phỏng vấn của Đài phát
thanh quốc tế Pháp (RFI), Bà Mônich Sơmiliê Giăngdrô
(nguyên văn), giáo sư Luật Đại Học Đường
Paris đă khẳng định là việc Trung Cộng
chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa là hoàn toàn trái
với luật pháp quốc tế, v́ những tài liệu
lịch sử cho thấy quần đảo thuộc
về Việt Nam. Bà cũng đề cập đến
các dẫn chứng lịch sử từ thế kỷ 17 và
thời vua Minh Mạng. Về phía Trung Cộng, tuy họ
nói có những tài liệu xưa hơn cả tài liệu
của Việt Nam, nhưng lại chưa đưa ra
được văn bản nào đáng tin cậy để
chứng minh. Đài RFI cũng nêu tờ Minh Báo của Hồng
Kông (ngày 4-4) tiết lộ Trung Cộng có kế hoạch
biến một đảo thuộc Hoàng Sa thành một trung
tâm du lịch như Hawaii với khách sạn và nhà hàng và
một giới hữu trách ở đảo Hải Nam xác
nhận là trong vài năm tới sẽ bắt đầu
tổ chức du lịch trên quần đảo Hoàng Sa. Đài
RFI nhận xét kế hoạch này cho thấy Bắc Kinh
vẫn không từ bỏ tham vọng lấn chiếm lănh
thổ dần từng bước không những tại biên
giới trên bộ mà c̣n ở vùng biển. Bộ Ngoại
giao cộng sản VN đă kịch liệt lên án kế
hoạch này và khẳng định là mọi hành
động trái phép của ngoại quốc trên hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là sự vi
phạm chủ quyền lănh thổ của VN. Cũng nên ghi
thêm l38 đây là Trung Cộng và Việt cộng đă có
tới 10 ṿng hội đàm nhưng vẫn chưa giải
quyết xong vấn đề Hoàng Trường Sa và cả
biên giới trên bộ. Báo Tuổi Trẻ cũng tố cáo
là bằng việc xây cất cơ sở hành chánh và với
kế hoạch xây khu du lịch để đón du khách,
Bắc Kinh đă sáng tạo ra ảo tưởng là
quần đảo này vĩnh viễn thuộc về Trung
Cộng. Không những thế, ngày 21 tháng 5 vừa qua Trung
Cộng lại thêm một lần nữa xác nhận
chủ quyền trên các đảo Trường Sa. Phát ngôn
nhân của bộ ngoại giao Trung Cộng nói: Trung Cộng
có chủ quyền không thể chối căi ở
Trường Sa và các vùng biển lân cận và c̣n nói thêm là
các tầu Trung Cộng có những hoạt động
khảo cứu khoa học b́nh thường ở vùng nói
trên hồi gần đây là vấn đề hoàn toàn
nằm trong lănh hải của họ. Trong khi đó th́
Bộ Ngoại Giao của Việt cộng nói chiếc
tầu nghiên cứu khoa học của Trung Cộng đă
hoạt động sâu trong thềm lục địa
Việt Nam từ tháng 4 năm nay.
Mặc
dầu Việt Nam và Trung Cộng đă có hơn 10 cuộc
thương thảo về chủ quyền các hải
đảo và lẫn cả biên giới trên bộ, nhưng
đến nay vẫn chưa có một kết quả
cụ thể nào và đượng nhiên chúng ta sẽ c̣n
thấy nhiều phen gay go xẩy ra giữa Việt Nam và
Trung Cộng trong tương lai nhất là Việt Nam và Thái
Lan đă chia phần biển để t́m kiếm dầu
trong vịnh Thái Lan sau khi đă đạt tới một
sự thỏa thuận về lằn ranh khai thác trên
mặt biển.
Jun. 15/98