Nhân đọc bài phỏng vấn Lê Công Phụng
Lư Công Luận (Hà Nội)
Hôm qua nhờ người bạn ở nước ngoài gởi về, tôi mới hân hạnh được làm quen với
cuộc phỏng vấn ông thứ trưởng nước tôi Lê Công Phụng của đài VASC Orient về vấn
đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tôi vốn đa cảm,
đọc xong bài phỏng vấn, muốn bật lên khóc v́ thương ông Phụng và v́ tự ái hộ ông Phụng. Ông Phụng và
Đảng
của ông đă v́ dân v́ nước giành giật từng tấc đất về cho đất nước. Không những
không mất một tấc đất nào mà c̣n có lời (theo lời của ông Phụng), mà dù có mất
th́ cũng mất 114km2 nhập nhằng đấy thôi mà đổi lại t́nh hữu nghị với anh bạn
Trung Hoa tốt bụng. Khổ ải biết bao nhiêu, không cảm ơn th́ thôi, thế mà có những
kẻ “xấu miệng” c̣n rao lên: Đảng Cộng sản Việt Nam bán nước, bán đất, phản bội tổ
tông. “Thật là vô ơn bạc nghĩa, lấy oán trả ân.”.
Nói vậy nhưng không phải vậy. Trên cơ sở khoa học và dùng lư trí suy xét bài phỏng
vấn, ta sẽ thấy nhiều điểm ám muội, và vô h́nh chung trái với ư muốn của ông
Phụng, đă phi bày hoàn toàn dă tâm bán đứng đất nước v́ quyền lợi
Đảng Cộng sảnViệt Nam nói chung và ông Lê Công Phụng nói riêng.
I. Những điểm ám muội,lập lờ đánh lận con đen.
1. Trong bài phỏng vấn, người phỏng vấn và ông Phụng (hai ông này cùng một giuộc c thôi) dùng nhiều cụm từ rất lộng ngôn, đao to búa lớn như là: “những kẻ tự xưng là những người dân chủ”, “những thế lực chống đối”, rồi đến những sáo ngữ như là “biên giới hoà b́nh và ổn định”, “hữu nghị với các dân tộc”. Những cụm từ này thường làm cho dân Việt Nam giật ḿnh hơn là tường tận. Bởi v́ từ trước đến nay hể có vụ ǵ mà khó giải quyết, lúng túng, ngậm hột thị th́ y như rằng, các phát ngôn viên Cộng sản lại giở những cụm từ này ra làm b́nh phong chống đỡ dư luận. Đấy, chúng tôi lúc nào cũng v́ “biên giới hoà b́nh và ổn định”, “hữu nghị với các dân tộc” mà lúc nào cũng bị “những kẻ tự xưng là những người dân chủ”, “những thế lực chống đối” trói chân, trói tay. Các ông ấy nói măi như thế, nhưng không giải thích cho dân đen chúng tôi biết “những kẻ tự xưng là những người dân chủ”, “những thế lực chống đối” là ai, ở đâu, họ đă làm những ǵ mà được mệnh danh như thế, tác phẩm họ trắng đen ra sao và họ chống đối, trói chân trói tay các ông ra làm sao. Riết như thế, đến lúc cứ thấy chính quyền giở những cụm từ này ra xài là dân đen chúng tôi nghĩ chắc người ta đă công kích các ông đúng ở đâu đấy và các ông đă bậy bạ ở đâu đấy. Bằng chứng là ngay cái hiệp định biên giới đất liền và hi phận quan trọng như thế mà dân đen chúng tôi qua “những kẻ tự xưng là những người dân chủ”, “những thế lực chống đối” mới được biết, trước khi được chính phủ của ḿnh thông báo mặc dù các ông đă đàm phán hay là đi đêm với nhau đă từ lâu rồi.
2. Tôi không hiểu ông Phụng dùng “t́nh hữu nghị” là loại t́nh hữu nghị ǵ?! Dân Trung Quốc mỗi lần kéo quân xuống xâm lược Việt Nam qua Ải Nam Quan là thấy lạnh lùng xương sống. C̣n dân Việt Nam nghe tin giặc Phương Bắc đến là cầm ngay gưm giáo lên đường để vợ con ngóng chờ thành đá Vọng Phu. Dĩ nhiên thời đại thay đổi, chúng ta mong muốn hoà b́nh, hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước nhưng trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và độc lập, tự do của nhau. Nghe ông Phụng nào là “ta có lời”, “bạn cũng đồng ư”, “bạn cũng nhân nhượng” ta cứ ngỡ như trong mơ. Ôi ông anh Trung Quốc sao mà tốt bụng thế, dễ tính thế, ngọt ngào thế. Đừng nói chia đôi 227km2, chớ cho tất cho ông anh Cả, ta cũng không tiếc. Nhưng chính cái ngọt như mật này mà dân đen chúng tôi sởn da gà, gai trôn ốc và đâm ra ngờ vực. Bởi v́, lịch sử cho ta thấy , hễ đụng đến những thứ có liên quan tới “đất đai”, “điền trạch” và “thổ địa” th́ Trung Quốc mắt cứ sáng lên. Đă ngoạm được miếng nào rồi th́ có nhả ra bao giờ đâu. “T́nh hữu nghị” ở đây chắc là t́nh hữu nghị của hai Đảng Cộng sản hắc ám nhất lịch sử nhân loại. Chính sự đi đêm của Đảng CSVN và Đảng CSTQ để dẫn tới hiệp định bất công này, đă làm cho sự căm thù của hai dân tộc càng sâu hơn.
3. Chính phủ đi bàn công việc quốc gia đại sự, phân định đất đai của tổ tông mà thiếu tinh thần trách nhiệm, những luận chứng khoa học và nghiên cứu thấu đáo những văn kiện lịch sử, chỉ dựa trên “dân địa phương nói”, “nhân dân Lạng sơn báo cáo với Trung ương, Chính phủ và các nhà đàm phán rằng cột mốc có từ khi những người già c̣n chưa ra đời”. Ô hay, tôi cứ tưởng một nhà nước giỏi nhất thời đại phải quản lư đất đai của ḿnh khác kia chứ. Các nước tư bản giẫy chết bao giờ cũng có đội biên pḥng đi tuần tra và bảo vệ cột mốc, có những nước lấy hàng rào thép gai ngăn lại và họ thỉnh thoảng thoả thuận nhau để sảnlại cột mốc hoặc đổi cột mốc khác nếu như quá cũ. Thế mà nước Việt Nam XHCN “tốt đẹp” của chúng ta lại có những cột mốc “có từ khi những người già c̣n chưa ra đời”. Miễn bàn.
4. Các ông hay nói khi đàm phán th́ thường phân ra loại “rơ ràng” và loại “không rơ ràng”. Trên cơ sở nào phân loại như thế này mà không như thế kia??? Có đủ tin cậy những loại thông tin dựa trên “dân địa phương nói”, “nhân dân Lạng sơnbáo cáo với Trung ưng, Chính phủ và các nhà đàm phán rằng cột mốc có từ khi những người già c̣n chưa ra đời” không? Rồi những cột mốc ở xa như ông nói th́ không hiểu có những người dân địa phương nào nh́n thấy, hoặc có người già nào c̣n sống mà báo cáo cho các ông không? Rồi c̣n loại “rơ ràng của không rơ ràng” th́ sao? (Có nghĩa là loại vẫn là cột mốc thời nhà Thanh như thế, nhưng anh Cả Trung Quốc đă cho lính di chuyển vào đến 2-10km) Rồi c̣n nhiều loại nữa ví dụ như “không rơ ràng của không rơ ràng” …v..v…Theo một số thông tin, số cột mốc được chôn từ thời Pháp-Thanh c̣n nguyên (nguyên cả cột lẫn vị trí) trên dưới 50, số cột mốc thời Pháp-Thanh nhưng đă bị dịch vào biên giới Việt Nam 150-170 chiếc, số cột mốc mới Trung Quốc cho lính mang sang đóng trong biên giới Việt Nam 60-70, số thất thoát 15-30.
5. Các ngài Cộng sản Việt Nam c̣n lập lờ ở con số 227km2. Bởi v́ các ngài chỉ đưa ra cái chênh lệch của con số của Trung Quốc với con số Việt Nam nhưng tảng lờ không cho dân biết: con số của Trung Quốc chênh lệch với con số đạt được ở hiệp định Pháp-Thanh bao nhiêu? Con số Việt Nam chênh lệch với con số đạt được ở hiệp định Pháp-Thanh bao nhiêu? Theo như toán học, ta sẽ thấy có 6 trường hợp chính sau đây:
a. Việt Nam thiệt hại:

Trong đó: a-đường biên theo cách tính Việt Nam, b-đường đậm nhất,đường biên theo
hiệp
định Pháp-Thanh, c-đường biên theo cách tính Trung Quốc, d-đường đậm nh́, đường
biên
theo thoả thuận của hiệp định 30-12-1999, b’-đường nối gạch, đường biên theo hiệp
định
Pháp-Thanh o.
Hai trường hợp đầu (h́nh 1, h́nh 2): Việt Nam có vẽ lấn vào Trung Quốc và ngược
lại
nhưng trên c bảncó thể giải quyết công bằng và hợp lư được. Mỗi bên tưng nhượng
nhau một ít. Nếu theo hai đồ thị này th́ ta không thể mất quá 114km2 được. Trong
trường
hợp sau (h́nh 3) ngay c con số của VN đưa ra thưng lượng (hoặc đưa vào biên
bản để
loè bịp dân) so với đường biên theo hiệp định Pháp-Thanh đă thiệt rất lớn cho
ta. Những
cột mốc từ thời Pháp-Thanh đă bị lính Trung Quốc dời vào trong nội địa ta rất
nhiều. Cộng sảnVN cũng biết điều này nhưng v́ bị ép và v́ cam tâm bán quốc cầu vinh nên l
đi. Phần
thiệt hại này rất nguy hiểm bởi v́ trên văn
bảnkhông có phần này. Phía Trung
Quốc v́
quyền lợi của ḿnh không cần phi công bố đường biên theo hiệp định Pháp-Thanh
thật
(đường b) làm ǵ, c̣n phía Việt Nam, Đảng CS cũng không muốn nói rơ v́ phi che
đậy
hành vi tội lỗi của ḿnh. Hai bên mặc thị dùng đường biên theo hiệp định
Pháp-Thanh o
(đường b’, cái đường dựa theo những cột mốc đă được các đồng chí lính Trung Hoa
nhổ và
cắm lại sâu trong nội địa VN). Trên văn bản, chúng ta chỉ mất phần giới hạn trong
đường a
và d chỉ là 114km2. Phần mất ngoài văn bản(giới hạn bởi đường a và b) th́ không
biết
được. Phần mất này cực kỳ to lớn mà dễ lập lờ lấp liếm dân chúng. Theo những
thông tin
nhận được ở trong nước và nước ngoài và cũng theo Tân Hoa Xă th́ chúng tôi nhận
thấy
Hiệp định biên giới được kư kết theo kịch
bảncủa h́nh 3. Bởi v́ theo một số dẫn
chứng th́
biên giới VN-TQ theo Hiệp ước Pháp-Thanh dài 1350km, CSVN chấp nhận con số
1300km, c̣n Tân Hoa Xă th́ thông báo là 1200km. H́nh 3 ở trên được vẽ lại như
sau:

Theo như bản vẽ trên th́ ngay trong con số VN yêu cầu cũng đă thiệt hại rất lớn
đối với
VN rồi (Chúng ta mất vùng được giới hạn bởi đường b và a không tính vào văn
bản).
Nếu
bạn nào có bảnđồ VN và vẽ hai h́nh biên giới đồng dạng, một h́nh chiều dài
1350km,
một h́nh 1300km. Dùng tích phân có thể tính diện tích giới hạn ở giữa, theo cách
tính của
tôi khong 25.000 đến 30000km2 (Dĩ nhiên đường cũ và mới không thể đồng dạng
được).
C̣n nếu từ 1350km đến 1200km th́ con số mất mát không thể nào lường hết được.
Những
con số 720km2 và hn 900km2 là c̣n quá ít.
b. Trung Quốc thiệt hại: Điều này không thể nào xy ra được, nhưng để cho công
bằng chúng tôi cũng dẫn ra đây luôn.

6. Tôi cũng thật sự không hiểu những chữ “công bằng”và “b́nh đẳng” của ông Phụng
trong bài phỏng vấn có ngụ ư ǵ. Công bằng và b́nh đẳng nỗi ǵ mà các ông từ Bộ
trưởng Ngoại Giao, Chủ tịch nước, Thủ Tướng đến Tổng Bí Thư cứ liên tục xách cặp
qua Trung Quốc để bàn hiệp định c̣n các Thiên tử Trung Quốc ít khi xuất đầu lộ
diện ở Việt Nam. Trên thế giới, những vụ tranh chấp lănh thổ không ít. Như
trường hợp Nga và Nhật tranh chấp 4 đảo ở quần đảo Curin, lúc Bộ trưởng Nga sang
Nhật để bàn, lúc Bộ trưởng Nhật sang Nga, lúc Tổng thống Nga sang Nhật, lúc th́
Thủ Tướng Nhật sang Nga. Chần chừ, dềnh dàng măi mới quyết định tháng ba năm nay
Thứ trưởng Ngoại Giao Nhật sang Nga để bàn tiếp. Tôi càng không thể hiểu được,
tại sao cứ phải lấy 227km2 của Việt Nam chia đôi th́ mới công bằng được?!. Tại
sao không là ngược lại?! Hay đấy là công bằng và b́nh đẳng theo định hướng xă
hội chủ nghĩa???
II. Thác Bản Giốc và Ải Nam Quan.
Chúng tôi có đi t́m hiểu về vấn đề thác Bản
Giốc và Ải Nam Quan. Theo nguồn tin từ
những người có liên quan tới bộ Ngoại Giao, Bộ Ngoại giao Việt Nam có đàm phán
với Trung Quốc 164 điểm, phần lớn theo nguyên tắc đàm để tho hiệp, c̣n lại hn 10
điểm đàm nhưng không nhân nhượng và 3 điểm, trong đó có thác
bảnGiốc và Ải Nam Quankhông nhân nhượng bất cứ giá nào. Công bằng mà nói, Bộ Ngoại giao Việt Nam
đă cố gắng đấu tranh cho bằng được 3 vị trí trên, Ban Đàm phán đă cố vấn cho
Chính phủ chỉ kư hiệp định không trọn gói trừ ra những điểm chưa đấu tranh được.
Nhưng khi Lê Kh Phiêu qua Trung Quốc, v́ sự đấu đá quyền lực ở Bộ Chính Trị, v́
lợi ích cá nhân và v́ sự hứa hẹn của đàn anh Trung Quốc đă đang tâm kư hiệp định
trọn gói bán rẻ đất nước. Dưới đây là chi tiết
giải thích bằng cách nào mà CSVN
và CSTQ đă phù phép biến thác bảnGiốc và Ải Nam Quancủa ta thành của Trung Quốc.
1. Thác bảnGiốc

Thác bảnGiốc
Phần Thác bảnGiốc của ta, theo ông Phụng
chưa tới 1/2
Cột mốc đă mất đi (có thể ngay trên đầu ngọn thác nên không thể cắm mốc) nhưng
trong bản
đồ thời Pháp (dựa trên Hiệp định Pháp Thanh) là có. Và toàn bộ Thác
bảnGiốc là
sở hữu của
Việt Nam. Điều này theo tôi Đảng CSVN thừa biết, nhưng lỡ bị đàn anh xui dại, nên
mới dùng
tṛ lập lờ đánh lận con đen đưa ra đường biên theo công ước quốc tế
(sic)..v..v.. cho là ta được
chưa tới 1/2 (=1/3), mà khi đàm phán ta được đến 1/2, như vậy ta “có lời”.
Dựa vào sơ đồ trên ta thấy, chúng ta không những mất 1/2 Thác
bảnGiốc mà c̣n mất
một
vùng đất lớn. Điều tôi khó hiểu là theo ông Phụng nói “ngay cả TQ nói đấy không
phải của
TQ” thế sao ta phi cắt 50% Thác bảnGiốc cho Trung Quốc. Có ǵ ám muội hơn thế
không?! Đă thế ông Phụng c̣n gi bộ ngây thơ nào là “chúng tôi cũng rất lạ”, nào
là “trong
sách sử …. không ai nói Thác bảnGiốc có phần là của Trung
Quốc”. Thật là trơ
trẽn.
2. Ải Nam Quan

Chú thích: đường rầy của TQ không nhất thiết phải nằm trên
Ải Nam Quancó thể dịch
ra ngoài,
nhưng về nguyên tắc khi đường rầy dịch xuống dưới theo đường
rầy th́ Ải Nam Quancũng nằm
luôn trên đất Trung Quốc.
Chuyện về Ải Nam Quan thật sự là bi hài có một không hai trong lịch sử nhân loại. Thời chống Mỹ, để dễ bề tiếp tế Bắc Việt, Cộng Sản Trung Quốc cùng Cộng Sản Bắc Việt thoả thuận làm hệ thống đường sắt nối liền Trung Việt. Phía Trung Quốc làm đường rầy (rộng hn 1,2m) đến biên giới (1) mà thôi. C̣n phía bên Việt Nam cũng làm đường rầy (rộng chưa tới 0,9m) đến biên giới (1). Đổi bánh rầy sẽ thực hiện ở biên giới. N hưng thời chiến tranh, phía Bắc Việt thiếu thốn đủ thứ và tŕnh độ kỹ thuật kém, nên khi TQ đă hoàn tất xong th́ bên VN vẫn chưa xong. Thế là, “Bác” Mao mới nói với “Bác” Hồ rằng: “Hiện nay, nguyên vật liệu của TQ c̣n thừa, TQ làm hộ cho Việt Nam một đoạn. Hơn nữa, đổi bánh hoặc toa ở biên giới núi non cách trở, không tiện.
Tốt nhất đổi vào khu thuộc VN băng phẳng cho tiện. Khi nào hoà b́nh rồi tháo dỡ
ra cũng được”
(Bạn đọc chú ư tất cả tà vẹt và kỹ thuật của TQ đă theo khung 1,2m). “Bác” Hồ vui
vẻ nhận lời.
Cụm từ “vui vẻ nhận lời” măi về sau này, từ năm 1979 đến nay đă làm cho nhân dân
ta khóc
ṛng. Đoạn đường rầy TQ trên đất Việt có người nói là 400m, có người 4km, theo
tôi chắc 400m
th́ đúng hơn. Đến năm 1979, TQ xua quân qua xâm chiếm nước ta, đến khi rút về cho
quân đội
nhổ cột mốc cắm vào điểm cuối đường
rầy TQ tạo nên đường biên (2). Tôi đă hỏi
nhiều người
ngày xưa đi du học TQ, Liên Xô và Đông Âu bằng tàu lửa, người ta cũng công nhận
đổi toa ở
trong nội địa VN, đi măi mới tới biên giới có đồn canh VN và đồn canh TQ đối
diện. Đến khi
hai bên đă hữu ho rồi, bên VN định xây lại đồn biên pḥng tại
Ải Nam Quan được trả
lời , đất
VN kéo dài tới nơi có đường rầy VN thôi, chớ làm sao trên đất VN có đường
rầy TQ
được. Sau
đó các phái đoàn đàm phán VN qua vin vào thoả thuận xưa giữa hai “Bác”, th́ TQ trả
lời những
câu chuyện xưa không thể làm bằng chứng được, phải có văn
bản hẳn hoi kia. Cuối
cùng khi
ông Khả Phiêu qua TQ th́ thoả thuận chia 52% thuộc VN và 48% thuộc TQ. Và đường
biên giới
mới được vẽ ở trên cách Ải Nam Quanvề trong
nội địa VN 200m. Nhiều người nói, Ải Nam Quan phong thuỷ tốt, vả lại là cái gai
trong con mắt của TQ (mỗi lần lính TQ qua Ải Nam Quan
để vào nước ta là thấy rùng ḿnh ớn lạnh.) nên TQ bày ra cái mẹo lừa lịch sử này
để cướp cho
được. Đến đây, các bạn đă thấy ông Lê Công Phụng đă nói dối một cách trắng trợn.
Không c̣n
cách ǵ để biện hộ cho hành động bán nước của các quan thầy CSVN, ông mới giở
bài “nhân dân Lạng sơn báo cáo với Trung ưng, Chính phủ và các nhà đàm phán rằng cột mốc có
từ khi
những người già c̣n chưa ra đời” để lấp liếm. Tội nghiệp cho nhân dân
Lạng sơnvà
người già
Lạng sơn bị mang tiếng oan. Tôi thiết nghĩ, Ải Nam
Quanlà một trong những điểm
chiến lược
bậc nhất của VN, nên khi kư hiệp định Pháp-Thanh 1887 không thể nào người Pháp
không biết.
Đây chính là điểm đầu tiên và quan trọng nhất người Pháp tho luận với nhà Thanh
để nhà
Thanh công nhận trên văn bản: “Ải Nam Quan là của Việt Nam”. Tôi tin chắc trong
bản đồ về
VN của Pháp xưa có Ải Nam Quan nằm trong đất VN.
III. Kiến nghị với Chính phủ và Nhà nước Việt Nam.
Hành động bán rẻ đất nước v́ lợi ích tập đoàn, cá nhân vừa rồi của Đảng CSVN không thể tha thứ được. Đảng CSVN cần phi ăn năn, hối hận và bắt đầu đồng tâm cùng nhân dân Việt Nam c trong và ngoài nước để bàn đối sách cứu văn, bởi v́ mọi sự chưa đến mức hết phương cứu chữa. Những việc trước tiên cần thực hiện như sau:
1. Yêu cầu phía Trung Quốc hoăn lại việc thực thi hiệp định. Tuyên bố hiệp định không có hiệu lực hoặc toàn bộ hoặc một phần tuỳ điều kiện đôi bên.
2. Phổ biến công khai hai bảnHiệp Định ngày 30-12-1999 và 25-12-2000 và hai bảnhiệp định Pháp-Thanh 1887, 1895. Ngoài ra công khai công bố những quá tŕnh đàm phán, những khúc mắc và những thay đổi do năm tháng gây nên.
3. Thành lập hoặc cho phép thành lập Hội Nhân Sĩ Việt Nam gồm các nhân sĩ trong và ngoài nước là người VN, các học gi nước ngoài nhất là học gi người Pháp để giám định lại biên giới Việt-Trung trên tinh thần Hiệp Định Pháp-Thanh 1887 và 1895.
4. Tổ chức trưng cầu dân ư về vấn đề biên giới đường bộ và đường biển.
IV. Kiến nghị với Chính phủ và Nhà nước Trung Quốc.
Chính phủ và Nhà nước Trung Quốc thừa biết Hai Hiệp Định 30-12-1999 và 25-12-2000 là hết sức bất công đối với nhân dân Việt Nam. Đây là kết qu của sự đi đêm của Đảng CSVN và Đảng CSTQ, bởi thế hầu như không có giá trị pháp lư và càng không có giá trị với nhân dân Việt Nam. Thiết nghĩ, hai nước Trung Quốc và Việt Nam cần xoá những hận thù quá khứ cùng xây dựng một t́nh hữu nghị chân thực trên sự thiện chí, sự cm thông và sự tôn trọng chủ quyền lănh thổ, kinh tế, chính trị, văn hoá của nhau. Hai Hiệp Định trên chỉ làm hằn sâu thêm sự căm thù của hai dân tộc không mang đến một lợi ích ǵ cho dân tộc Trung Hoa lẫn dân tộc Việt Nam. Để mở đầu cho sự hàn gắn vết thưng ḷng của hai dân tộc và đặt nền móng cho t́nh hữu nghị lâu đời và bền vững giữa hai dân tộc, thiết nghĩ Chính phủ và Nhà nước Trung Quốc nên thiện chí thực hiện những đề nghị sau:
1. Trung Quốc hoăn lại việc thực thi hiệp định. Tuyên bố hiệp định không có hiệu lực hoặc toàn bộ hoặc một phần tuỳ điều kiện đôi bên.
2. Công khai tuyên bố nền tng của sự đàm phán tiếp theo về vấn đề biên giới đường bộ và đường biển Trung-Việt là Hiệp Định Pháp-Thanh 1887 và 1895.
3. Trả lại vô điều kiện cho Việt Nam Thác Bản Giốc và Ải Nam Quan.
V. Nhiệm vụ mỗi người dân Việt Nam chúng ta dù trong nước hay ở hải ngoại.
1. Mỗi người dân chúng ta đều phi tẩy chay hai Hiệp Định quái đản này. Mọi người phi ư niệm rằng hai hiệp định 30-12-1999 và 25-12-2000 rất bất công đối với dân tộc Việt Nam. Đấy là kết qủa của việc đi đêm của hai Đảng CSVN và TQ. Hay nói cách khác, đây chính là hành động bán nước cầu vinh của Đảng CSVN và là hành động cướp lănh thổ Việt Nam của Trung Quốc.
2. Mỗi nguời dân chúng ta bằng mọi phương tiện tán phát tài liệu hoặc vạch trần cho người khác thấy được dă tâm bán rẻ đất nước của Đáng Cộng sảnViệt Nam. Tất c ai có tài liệu ǵ hăy đưa ngay lên mạng để mọi người khác tỏ tường.
3. Đấu tranh để được phép thành lập Hội Nhân Sĩ Việt Nam (hay là thế giới) Kiểm Tra Biên Giới Việt-Trung. Trường hợp lập được, chúng ta góp phần gây quỹ để Hội hoạt động tự do khỏi sự áp chế của Chính phủ và Nhà nước Việt Nam.
4. Thông qua các Toà án quốc tế (Toà án Nhân Quyền Châu Âu Strassburg, Pháp…) kiện hai nước Việt Nam và Trung Quốc về vi phạm Nhân Quyền và Dân Quyền của người Việt Nam. Tôi nghĩ nhiệm vụ này các bạn Việt Nam ở hải ngoại cáng đáng là tốt nhất. Trong hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài, chắc chắn các bạn có thể t́m được một số người công dân thứ thiệt của Việt Nam cụ thể nào đó để đâm đản kiện hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Vừa rồi, tôi xem trong Internet, đă có cô Nga nào đó thắng kiện chính phủ Lat-vi-a.
Trong Đại Cáo B́nh Ngô, Nguyễn Trăi viết:
Trải Triệu, Đinh, Lư, Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương .
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Nhưng hào kiệt không bao giờ thiếu.
Vâng, thưa các bạn! Hào kiệt chúng ta không bao giờ thiếu. Với tấm ḷng kiên
trung và yêu nước, chúng ta sẽ cùng nhau nối ṿng tay lớn để thoát khỏi hiểm hoạ
và nổi nhục này.
Lư Công Luận
Hà Nội, 04-02-2002