Lịch Sử Đă Minh Chứng
Chủ Quyền Hợp Pháp Của Việt Nam


Về Hai Quần Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa

Lê Tùng Minh (daiviet.org)


Sau hơn 40 năm (1956-2000) bành trướng và xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam (1). Trung Cộng lại lấn tới, vu cáo Việt Nam như là một nước xâm phạm chủ quyền của họ, khi Việt Nam thiết lập bộ máy chính quyền trên quần đảo Trường Sa. Mới đây, vào đầu tháng 3-2001 người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao Trung Cộng, Zhu Bangzao, đă lớn tiếng tuyên bố rằng: "Bất cứ hành động đơn phương của nước nào ở Nam Sa (tức Trường Sa) đều là xâm lấn vào chủ quyền của Trung Quốc, và bị xem là bất hợp pháp và vô hiệu". (Reuters)

Đúng là hành động "vừa ăn cướp vừa la làng", cũng là mầm họa của một cuộc chiến tranh mở rộng vùng kiểm soát lănh hải trong khu vực biên Đông trong tương lai, do chính Trung Cộng ngang ngược tiến hành, bất chấp cả Luật Biên (Law of the Sea) đă được Liên Hiệp Quốc thông qua (10-12-1982) và đă được đem ra thi hành từ ngày 16-12-1994 (2).

Hiêm họa do Trung Cộng gây ra ở biên Đông, thực tế đă giáng lên đầu của đất nước chúng ta! Hoàng Sa và Trường Sa là hai lănh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam từ xa xưa trong lịch sử. Chúng ta cần làm sáng tỏ vấn đề này trước công luận quốc tế, nhằm vạch trần xí đồ chiếm đoạt "của người làm của ḿnh" của Trung Cộng.

Bài nghiên cứu này chỉ là một đóng góp nhỏ cho mặt trận đấu tranh chống sự bành trướng chủ quyền ở khu vực mà Trung Cộng gọi là Đông Hải.

o0o

I. Hoàng Sa (Paracels)

Năm 1820, khi vua Minh Mạng mới lên ngôi, ngài đă quan tâm đến "cái lợi muôn đời" của quần đảo Hoàng Sa một vùng lănh hải đă thuộc chủ quyền của nước Việt Nam ít nhất là từ thế k› 15. Ngài đă truyền dạy như sau: "Trong hải phận Quảng Ngăi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt được nông sâu. Gần đây, thuyền buôn thường mắc cạn bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu lập bia, và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người ta dễ nhận biết, ngơ hầu tránh được mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời". (3)

Di sản này - Miếu, bia và cây cối, vẫn c̣n lưu lại trên quần đảo Hoàng Sa cho đến nay, là một trong những bằng chứng cụ thê về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.

Ngược ḍng lịch sử về trước, vào thời Lê Thánh Tông (1460-1496) nước ta đă có Bản đồ Hồng Đức, trong đó có ghi nhận vùng lănh hải Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Bản đồ này đă được in lại trong cuốn sử của nhà Nguyễn là Đại Nam Nhất Thống Chí (4). Đây là một bằng chứng lịch sử, địalư cụ thê nhất, minh chứng chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nghiên cứu lại các bản đồ và lănh hải của nước Trung Hoa phong kiến, và thời nhà Minh ở thế k› 15, không thấy có một bản đồ nào, c̣n lưu lại trong bảo tàng lịch sử của Trung Quốc, đă ghi nhận địa danh của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mặt dù trong các sách lịch sử cổ của Trung Quốc có nói đến địa danh Chướng Hải (tức Nam Hải ngày nay), nhưng địa danh đó là chỉ một miền biên ở cách huyện Hải Pḥng (tức Quảng Đông) 50 dặm về phía Nam. Và địa danh Nam Hải, theo cuốn "Tối Tân Thực Dụng Hán Anh Tự Điên" do một nhóm học giả Trung Hoa biên soạn, ấn hành ở Hồng Kông vào năm 1971, đă định nghĩa như sau: "Nam Hải: 1. Tên của một huyện ở tỉnh Quảng Đông, 2. Vùng biên phía Nam, kéo dài từ Đài Loan thẳng đến Quảng Đông, 3. Một miền biên giới hạn ở phía Nam của nước Trung Hoa cổ" (5)

Thực tế lịch sử này đă chứng minh một cách xác đáng rằng: Các bản đồ lănh hải được gọi là Đông Hải hiện nay của Trung Cộng là được vẽ ra từ sau năm 1949, năm Đảng Cộng Sản Trung Quốc nắm chính quyền ở cả Trung Hoa Lục Địa. Họ đă vẽ theo xí đồ bành trướng chủ quyền ở biên Đông. Theo các bản đồ lănh hải mới vẽ này, Trung Cộng đă có chủ quyền trên 80% vùng biên Đông. Thật là ngang ngược. Họ đă bất chấp công ước Quốc Tế về Luật Biên đă thông qua ở Genève vào năm 1954. Theo công ứơc này: Lănh hải và vùng tiếp cận thêm lục địa của một quốc gia có duyên hải phải được tính từ đất liền kéo dài đến 200 hảilư ở ngoài biên khơi.

Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là một đảo nằm ở ngoài khơi biên Đông, đối diện với bờ biên của các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và một phần của tỉnh Quảng Ngăi. Vùng lănh hải này ngày xưa có tên là Băi Cát Vàng (đă có ghi rành rành trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quề Đôn, ở cuối thế k› 18, vào lúc chúa Trịnh đă chiếm xong Phú Xuân, đuổi chúa Nguyễn Phúc Thuần và cháu là Nguyễn Phúc Ánh chạy vào Gia Định năm 1775).

Theo các tài liệu địalư biên Đông của nhiều nhà địalư học đă nghiên cứu và công bố rộng răi (trong đó có cả Bản Tuyên Bố Về Đường Căn Bản Lănh Hải (Decaration on baseline of Territorial Waters) của chính phủ CHXHCN Việt Nam, ngày 12-11-1982) th́ khoảng cách giữa quần đảo Hoàng Sa và đất liền Việt Nam, nơi gần nhất là 123 hảilư (tính từ đảo Tri Tôn vào đến Cù Lao Ré) và nơi xa nhất là 135 hải lư (tính từ đảo Tri Tôn vào đến mũi Ba Làng An, c̣n gọi là Cap Batangan). Trong khi đó khoảng cách giữa quần đảo Hoàng Sa và lục địa Trung Quốc ít nhất là 235 hảilư (6).

Thực tế về khoảng cách địalư này của quần đảo Hoàng Sa đối với đất liền Việt Nam, lại thêm một bằng chứng cụ thê và xác đáng về chủ quyền của Việt Nam, đối với quần đảo Hoàng Sa. (Theo Công ứơc Quốc Tế về Luật Biên của Liên Hiệp Quốc). C̣n về tài liệu lưu trữ từ vào giữa cuối thế k› 17, Việt Nam cũng có cuốn "Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư" (1630-1653) của Đồ Bá đă ghi chép về địalư của quần đảo Hoàng Sa.



o0o



Trước khi dẫn chứng thêm các tài liệu lịch sử của Phương Tây có liên quan đến vùng lănh hải Việt Nam trong khu vực quần đảo Hoàng Sa, chúng tôi xin tóm lược tiến tŕnh quan hệ giữa phương Tây và phương Đông vào cuối thế k› 16, trong đó có quan hệ đến Việt Nam, đến quần đảo Hoàng sa của Việt Nam.

Theo ḍng lịch sử thế giới, chúng ta được biết: Vào thế k› 15,16 trong số các nước phương Tây, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai nước phát triên sớm nhất. Và Bồ Đào Nha là nước phương Tây đầu tiên bành trướng thế lực sang phương Đông. Nhưng vào cuối thế k› 16, Bồ Đào Nha phải nhường bước cho Ḥa Lan ở phương Đông.

Ḥa Lan là một nước có nền công thương nghiệp phát triên sớm và sau cuộc cách mạng vào cuối thế k› 16, Ḥa Lan đă trở thành nước tư bản chủ nghĩa đầu tiên, vượt qua Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, chiếm địa vị thứ nhất trong nền thương mại thế giới vào thế k› 17. Công Ty Đông ƒn Ḥa Lan (Companie Hollandaise des Indes Orientales) (7) thành lập vào năm 1602 là công cụ đê Ḥa Lan phát triên sang châu Á. Trong hồ sơ lịch sử lưu tồn về bản đồ về Đông Duơng đầu tiên (Carte de la peninsula Indochinoise) được ấn hành vào năm 1595 do nhà địalư gốc Hoà Lan Frère Van Langren thực hiện. Và cũng lần đầu tiên vùng lănh hải Hoàng Sa của Việt Nam đă xuất hiện trên bản đồ này với cái tên Ḥa Lan là Paracels (có nghĩa là đá ngầm) (8). "Bản đồ Đông Dương" của Frère Van Langren đă mở đường cho thương nhân Hoà Lan vào Đông Dương, mà trước hết là vào Việt Nam. Ÿ thế k› 17 Hoà Lan đă đến buôn bán và lập một số thương điếm ở Việt Nam, trong đó có Hội An (Faifo) thuộc tỉnh Quảng Nam. Quần đảo Hoàng Sa đă gắn liền với câu chuyện đắm tàu của Ḥa Lan trong lịch sử vào năm 1634. Nguyên là vào ngày 20-1-1634, có 3 chiếc tàu buôn của Công ty Đông ƒn Ḥa Lan có tên là Veenhuisen, Schagen và Grootebroek, đồng khởi hành từ Nam Dương (Batavia) đê đến Đài Loan (Formose). Sang ngày 21-7 ba chiếc tàu nói trên đă đến lănh hải Việt Nam, tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, th́ gặp phải một trận băo lớn. Chiếc Veenhuisen đă vượt qua được và đến Đài Loan vào ngày 2-8-1634, và chiếc Schagen cũng thoát hiêm đê đến Đài Loan vào ngày 10-8-1634.

Chỉ riêng có chiếc Grootebroek là không vượt qua được trận băo biên, nên đă bị ch́m gần khu vực quần đảo Hoàng Sa, ngang với bắc vĩ tuyến 17. Theo tập "Kề Sự Batavia" (Journal de Batavia) của Công ty Đông ƒn Ḥa Lan năm 1635, đă cho biết chiếc Grootebroek đă bị ch́m hẳn và 9 thủy thủ đă biệt tích. Thuyền trưởng Huijch và 62 thủy thủ khác thoát được, và họ đă cứu hơn 1/2 số hàng trị giá 82.995 Florins (tiền Ḥa Lan) trong tổng số hàng trị giá 153.600 Florins. Sau cơn băo, thuyền trưởng Huijch và 12 thủy thủ đi thuyền nhỏ vào đất liền đê nhờ chính quyền địa phương của xứ Đàng Trong (miền Nam Việt Nam) cho thuyền lớn ra cứu 50 thủy thủ c̣n lại đang ẩn núp tại quần đảo Hoàng Sa đê tránh băo.

Câu chuyện đắm tàu Ḥa Lan Grootebroek c̣n nhiều gút mắc với chính quyền địa phương của xứ Đàng Trong vào cuối đời chúa Săi Nguyễn Phước Nguyên. Nhưng tới đời chúa Thượng Nguyễn Phước Lan (1635-1648) đă giải quyết êm đẹp - Viên chức cướp đoạt tài sản của thương thuyền Grootebroek đă bị "xử trảm và phanh thây". V́ vậy, năm 1636, Công ty Đông ƒn Hà Lan đă chính thức đặt thương điếm tại Hội An là vậy.

Qua sự kiện này, một câu hỏi được đặt ra cho nhà cầm quyền Trung Cộng là: Nếu quần đảo Hoàng Sa lúc ấy là của Trung Quốc th́ tại sao các thương nhân Ḥa Lan lại không nhờ chính quyền nhà Măn Thanh giải quyết, mà lại nhờ Việt Nam? Bằng chứng thêm chủ quyền hợp pháp của Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa.

Sự thật vẫn là sự thật!

Lịch sử bao giờ cũng là bằng chứng hùng hồn nhất!

Suốt gần 2 thế k› sau (1634-1816) nhà Măn Thanh (Trung Quốc) vẫn không có một sử liệu nào đề cập đến quần đảo Hoàng Sa là của Trung Quốc. Trong khi đó vào năm 1816 vua Gia Long (triều Nguyễn - Việt Nam) đă tiếp tục sự nghiệp của các triều đại trước, chính thức tiếp quản quần đảo Hoàng Sa. Sự thật đă được Đức Giám Mục Tabert (Pháp) phản ảnh như sau: "Quần đảo mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hoàng Sa) gồm rất nhiều ḥn đảo chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những băi cát, làm cho những kẻ đi biên rất e ngại, đă được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong... Hoàng đế Gia Long đă chú tâm gắn thêm cái đóa hoa kỳ lạ đó (Hoàng Sa) vào cái vương miện của ngài. V́ vậy, mà ngài thấy đúng lúc đă thân chinh vượt biên đê tiếp quản quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, mà ngài đă long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong" (10). Và ôngJean Baptiste (1769-1825) cũng đă phản ảnh sự kiện "vua Gia Long cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816" trong cuốn "Mémoire sur la Cochinchine" ấn hành ở Huế vào năm 1923.

Trải qua 5 thế k› - từ thế k› 15 đến thế k› 20, quần đảo Hoàng Sa liên tục thuộc về chủ quyền của dân tộc Việt Nam Đó là sự thật. Một sự thật chính danh trong lịch sử. Không có ng̣i bút nào có thê sửa đổi sự thật này: Không có tấm hải đồ giả tạo nào bôi xóa được chủ quyền hợp pháp của Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa.

Đến thế k› 20, dù Việt Nam đă trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, nhưng cả hai vùng lănh hải Hoàng Sa và Trường Sa cũng vẫn gắn liền với số phận của tổ quốc Việt Nam. Bởi v́ khoa hải học đă chứng minh một cách chính xác rằng: "Quần đảo Hoàng Sa nằm trên một cao nguyên ch́m dưới biên và dính liền với lục địa Việt Nam". Đây là một bằng chứng khoa học càng sáng tỏ hơn giá trị lịch sử về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Đúng như lời kết luận của tiến sĩ Krempt, Giám dốc Hải Học Viện Đông Dương, rằng: "Về phương diện địa chất, những đảo Hoàng Sa là một phần của Việt Nam". Các nhà nghiên cứu hải học, như ông Oliver A. Saix và ông Marcel Beauvoix đều có kết luận như vậy. (11)

Ngoài bằng chứng về khoa địa chất học, c̣n có thêm bằng chứng về sự quản trị quần đảo Hoàng Sa của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam nữa. Đó là, từ năm 1920 Nha Thương Chánh (Douanes) đă tổ chức những cuộc tuần du xung quanh quần đảo Hoàng Sa đê ngăn ngừa buôn lậu. Đó là, năm 1925 Hải Học Viện Nha Trang đă cử một phái đoàn các nhà hải học ra quan sát Hoàng Sa đê nghiên cứu tường tận tại ch‡. Đó là, nhà cầm quyền Pháp đă thiét lập một địalư hành chính cho quần đảo Hoàng Sa, được gọi là "Delegation Administrative des Paracels", sát nhập vào tỉnh Thừa Thiên (6-1932). Và chính quyền Pháp cũng đă cho phép một số công ty Nhật Bản được quyền khai thác phosphate tại quần đảo Hoàng Sa. Những việc làm công khai này của chính quyền Pháp tại sao không thấy vương triều Măn Thanh phản đối? Bởi mộtlư do dễ hiêu là Quần đảo Hoàng Sa không phải thuộc về chủ quyền của Trung Quốc, mà là thuộc về chủ quyền của Việt Nam.

Tóm lại, các sử gia và các nhà pháplư học của Trung Cộng có cố t́nh bẻ cong ng̣i bút, làm trái lương tâm trí thức, vâng lệnh Đảng Cộng Sản Trung Quốc, viết lại lịch sử, vẽ lại bản đồ, thực hiện mưu đồ chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, chỉ đê cho thế giới cười chê mà thôi, Bằng cách nào họ cũng không xóa được bằng chứng về lịch sử và địalư chính xác của quần đảo Hoàng Sa - một quần đảo thuộc chủ quyền hợp pháp của Việt Nam suốt thời nhà Lê (thế k› 15) cho đến trước khi Trung Cộng xua quân xâm chiếm Hoàng Sa (20-1-1974).

Tấm bia chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa tuy đă bị Trung Cộng đập phá. Nhưng ở trong sách sử cũng như ở Viện Bảo Tàng của Việt Nam vẫn c̣n lưu lại rơ ràng. Tấm bia chủ quyền thời Gia Long (1816) c̣n ghi rơ như sau:

Répubique Francaise

Empire d'Annam
Archipel des Paracesl

1816 - Ile de Pattle - 1938

Cùng với bia chủ quyền, sắc lệnh số 174/NV ngày 13-7-1961 của Tổng Thống VNCH đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam (thay v́ thuộc Thừa Thiên như thời Pháp thuộc) là những bằng chứng pháplư chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

II. Trường Sa (Spartly Archipelagoes)

Sau gần 40 năm lấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, Trung Cộng lại tiến hành việc lấn chiếm quần đảo Trường Sa (1995 đến nay). Đă lấn chiếm vùng lănh hải của Việt Nam mà Trung Cộng c̣n "đánh trống la làng" là Việt Nam đă "xâm phạm chủ quyền" của Trung Quốc, và đ̣i Việt Nam phải "làm sáng tỏ lập trường về Trường Sa"?

Quần đảo Trường Sa hiện nay đang là một vùng lănh hải có sự tranh chấp của nhiều nước:

1. Vùng Trung Cộng đang tranh chấp với Việt Nam là vùng lănh hải nằm về phía Tây của đảo Trường Sa (gọi tắt là Tây Trường Sa). Tây Trường Sa là vùng lănh hải nằm gần bờ biên Việt Nam nhất (so với các đảo khác ở phía Đông của quần đảo Trường Sa).

Đảo Trường Sa là ḥn đảo lớn và quan trọng nhất của vùng lănh hải Tây Trường Sa. Người Pháp gọi đảo này là Đảo Băo Tố (Ile de Tempête). Nằm giữa những băi và đá của vùng Tây Nam Trường Sa, đảo Trường Sa có một diện tích rộng khả dĩ có thê lập được một phi đạo chiến thuật (phi đạo ngắn). Trước năm 1970, quân lực Việt Nam Cộng Hoà đă cố đồn trú và bố pḥng ở đảo này. Sau năm 1975, quân đội nhân dân của CHXHCNVN đă xây dựng căn cứ quân sự, xây cầu tàu và bến đậu cho tàu thuyền cập bến. Hải quân của CHXHCNVN đă có một lực lượng đồn trú thường xuyên tại đảo này, là cái gai trong mắt của Trung Cộng hiện nay.

Tính cho đến hết cuối năm 2000, hải quân CHXHCNVN, ngoài việc xây cầu tàu, c̣n thiết lập được một hệ thống hải đăng trên các đảo của Tây Trường Sa và chánh phủ CHXHCNVN cũng đă thiết lập xong bộ máy chính quyền đê quản trị cả vùng lănh hải của quần đảo Trường Sa. Chính v́ thế mà Trung Cộng đă la hoảng là "Việt Nam đă xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc". Đúng là vừa ăn cướp vừa la làng! (như một phiếm luận của một kề giả Phương Tây).

2. Vùng 5 nước tranh chấp chủ quyền với Việt Nam (12) là vùng ở phần cực nam quần đảo Trường Sa. Vùng này phần nhiều là đảo thật nhỏ.

Đảo An Bang (tức Amboyna Cay) là đảo lớn nhất trong vùng cực nam Trường Sa. Bờ biên của Trung Cộng nằm cách xa đảo này đến 1000 hảilư, thế nhưng họ vẫn liên tục đ̣i chủ quyền và đang t́m cách lấn chiếm.

Vị trí quan trọng thứ hai bên cạnh đảo An Bang là Băi Thuyền Chài (tức Barque Canada Shoal) nên hải quân CHXHCNVN đă có mặt trên băi này từ mấy năm nay đê khẳng định chủ quyền của Việt Nam.

Vùng lănh hải này đang diễn ra sự tranh chấp chủ quyền khá phức tạp. Ngoài hải quân Việt Nam trú đóng ở Băi Thuyền Chài từ 40 đến 60 hảilư.

3. Vùng tranh chấp giữa Trung Quốc, Phi Luật Tân, Đài Loan và Việt Nam ở trung tâm và phía Nam của quần đảo Trường Sa. Đây là một vùng đảo, ḥn rộng lớn nhất và có nhiều ḥn đảo lớn trong quần đảo Trường Sa.

Trong vùng lănh hải đang tranh chấp gay gắt này, Đảo Ba B́nh (tức đảo Itu Buba) là một ḥn đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. Đài Loan đă đưa hải quân chiếm đảo này từ tháng 6-1946. Nhưng, Đài Loan lại rút quân ra khỏi đảo Ba B́nh vào năm 1950. Đến tháng 5-1951 hải quân Đài Loan lại tái chiếm Ba B́nh, khi nghe tin Phi Luật Tân đang khám phá tài nguyên của quần đảo Trường Sa. Đài Loan đă đưa một tiêu đoàn thủy quân lục chiến trú đóng thường xuyên ở Ba B́nh. Họ đă biến Ba B́nh thành một căn cứ quân sự hoàn chỉnh, có cả phi đạo chiến thuật hiện đại nhất so với các căn cứ của Việt Nam ở đảo Trường Sa.

Xét trong lịch sử hiện đại, Việt Nam giữ chủ quyền đảo Ba B́nh từ thời nhà Nguyễn, cho đến thời Pháp thuộc (1884-1945). Nhưng khi có sự biến cách mạng tháng 8-1945 và cuộc chiến tranh Việt Pháp (1954-1946) th́ Đài Loan nhân cơ hội đó, đưa quân chiếm đảo Ba B́nh.

Nếu Ba B́nh là ḥn đảo lớn nhất, th́ ḥn đảo Nam Yết là ḥn đảo cao nhất của quần đảo Trường Sa. Có nhiều tài liệu nói về chiều cao của ḥn đảo quan trọng này - 61 feet hoặc 20 mét hay thấp hơn - nhưng vẫn chưa xác định cụ thê, nhưng chắc nhắn là cao hơn các đảo khác trong cả quần đảo Trường Sa. Nam Yết nằm đối diện với Ba B́nh về hướng Bắc - nơi có cây dựng cầu tàu của đảo Nam Yết.

Việt Nam đă có chủ quyền từ lâu tại đảo Nam Yết. Đến thời Việt Nam Cộng Hoà đă có xây dựng hệ thống công sự pḥng thủ khá kiên cố trên đảo Nam Yết. Bộ chỉ huy quân sự của hải quân VNCH ở quần đảo Trường Sa vào những năm 1974-1975 đă đặt tại Nam Yết. Nam yết là một vị trí quân sự tốt nhất đê canh pḥng mọi hoạt động của Đài Loan ở Ba B́nh và cả Phi Luật Tân ở khu Đông Bắc quần đảo Trường Sa. Nhưng hiện nay hải quân CHXHCNVN lại không lập Bộ Chỉ Huy quân sự của cả quần đảo ở Nam Yết, mà chỉ đê một toán canh pḥng thôi.

Đê mở đầu thực hiện âm mưu bá chiếm quần đảo Trường Sa, tháng 1-1988, Trung Cộng xua quân tiến chiếm ḥn Đá Chữ Thập (Fierry Cross Reef). Ḥn Đá Chữ Thập cách đảo Trường Sa (13) Thuộc khu vực Tây Trường Sa) là 80 hảilư về phía Đông Bắc. Hiện nay Trung Cộng đă đặt tại đây một trụ sở tổng chi huy quân trú pḥng của họ ở quần đảo Truờng Sa. Rơ ràng là Trung Cộng đă thách thức trắng trợn đối với chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Truờng Sa. Mầm mống chiến tranh sẽ xảy ra bất cứ lúc nào ở vùng lănh hải quan trọng này - Trường Sa, Đá Chữ Thập. Và thực tế đă xảy ra một trận thủy chiến ở khu vực này vào giữa năm 1988, giữa Trung Cộng và CHXHCNVN (Kết quả:CHXHCNVN đă bị đánh ch́m 2 chiến hạm, thiệt hại 70 người.)

Có một khu vực đă diễn ra sự tranh chấp vô cùng gay cấn giữa Việt Nam và Trung Cộng, đó là khu vực nhóm đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island). Nhóm đảo này (gồm 6 ḥn) có một ṿng đai san hô có tên là Union Reefs. Từ năm 1970, hải quân VNCH đă đồn trú ở đây. Và hiện nay hải quân CHXHCNVN cũng đang đồn trú đóng ở đây. Cho nên, có những nơi hai bên Trung Việt trú đóng chỉ cách nhau có 3 hảilư. Đặc biệt quân của hai bên cùng trú đóng trên một băi đá ngầm nhỏ có tên là Johnson Reefs - Việt Nam ở đầu phía Bắc, tại ḥn đá Co-lin. Trung Cộng ở đầu Nam, tại ḥn đá Gác Ma.

Như vậy, sự tranh chấp về chủ quyền lănh hải ở vùng này của quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam với Đài Loan và Phi Luật Tân, nhưng t́nh h́nh căng thẳng nhất là giữa Trung Cộng với V́ệt Nam. Chiến tranh lănh hải ở vùng quần đảo Trường Sa có thê bốc cháy bất cứ lúc nào.

Sự tranh chấp về chủ quyền lănh hải ở vùng này của quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam với Đài Loan và Phi Luật Tân đang chỉ ngấm ngầm, bởi v́ cả Đài Loan và Phi Luật Tân (nhất là Phi Luật Tân) cũng đang bị Trung Cộng thực hiện chiến thuật lấn chiến từ từ (bắt đầu từ mùa xuân 1995 với hành động chiếm cứ ḥn đá ngầm Vành Khăn, của Trung Cộng).

Phi Luật Tân cũng không chịu lép vế. Họ đă dùng chiến thuật "đàm phán công khai, bất ngờ tấn công bằng quân sự đê cho Trung Cộng không kịp trở tay. Chẳng hạn như, vào cuối tháng 3-1995, sau khi Trung Cộng đă chiếm ḥn đá ngầm Vành Khăn, Phi Luật Tân bắt đầu thương thuyết với Trung Cộng tại Bắc Kinh. Trong khi cuộc thương thuyết chỉ mới tiến hành có một ngày, th́ bất ngờ Phi Luật Tân cho hải quân tiến đến vùng đá ngầm ngoài khơi đảo Palawan, đồng thời cho không quân dội bom tàn phá các công tŕnh xây cất của Trung Cộng trên các băi ngầm Jackson...

Lănh hải quan trọng nhất của Phi Luật Tân ở trong vùng tranh chấp này là băi Cỏ Rong (Reed Tablemount). Bao quanh Băi Cỏ Rong, có Băi Trăng Khuyết (Half Moon Shoal). Băi Cá Ngựa (Sea Horse Shoal) và bờ biên Palawan, đă được chính phủ Phi Luật Tân cho chia lô và thăm ḍ dầu khí...

Băi Cỏ Rong dài hơn 100 hảilư, và rộng đến 70 hảilư. Tài nguyên dầu khí ở đây là nguồn lợi lớn lao nhất của quốc gia Phi Luật Tân. Nhưng, chủ quyền của Phi Luật Tân ở Băi Cỏ Rong cũng đang bị Trung Cộng t́m cách lấn chiếm. Qua một số sự kiện điên h́nh trên dây cho chúng ta thấy tính chấp phức tạp của vùng lănh hải Trường Sa. Không phải toàn bộ quần đảo Trường Sa là của Việt Nam. Nhưng phải khẳng định rằng Việt Nam có chủ quyền một vùng lănh hải rộng nhất trong khu vực quần đảo Trường Sa.

Chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa đă được minh chứng một cách xác đáng cả về hai phương diện địalư và lịch sử.

Về địalư:

Quần đảo Trường Sa nằm về phía Nam của Biên Đông (đă được ghi trong Bản Đồ Hồng Đức vào thời Lê Thánh Tông, (1470-1498), cách Vũng Tàu 350 hảilư, cách Cam Ranh 250 hảilư. Theo một tài liệu của nước ngoài - "Stanford Journal of International Law", Spring 1992 - th́ quần đảo Trường Sa đă có hơn 500 ḥn đất, đá, băi riêng biệt (14)

Chiều dài nhất của quần đảo Trường Sa (tên quốc tế gọi là Spratly Archipelagoes) là 500 hảilư, tính từ Băi Cỏ Rong (Reed Tablemount) ở cực Đông - Đông Bắc của quần đảo đến Băi Tứ Chính (Vanguard Bank) ở cực Tây - Tây Nam của quần đảo.

Băi Tứ Chính (15) nằm sát thềm lục địa Việt Nam. Vùng lănh hải được gọi là Tây Trường Sa là vùng gần bờ biên Việt Nam nhất so với các vùng lănh hải của quần đảo Trường Sa. Vùng Tây Trường Sa có 6 băi và đá chính sau đây: Băi Tứ Chính (Vanguard Bank), Băi Quế Đường (Grainger Bank), Băi Phúc Tân (Prince Wales Bank), Băi Phúc Nguyên (Prince Consort Bank), Băi Huyền Trân (Alexandra Bank), Băi Vũng Mây (Rifleman Bank) và Đá lát (Lađ Reef). Các địa danh đă có trong bản đồ lănh hải của Việt Nam Từ thời Lê. (15)

Hiện nay hải quân CHXHCNVN đang trú đóng trên toàn vùng lănh hải Tây Trường Sa, và pḥng thủ, chống lại sự lấn chiếm của Trung Cộng. Nguồn dầu khí của Vùng lănh hải Tây Trường Sa có một trữ lượng rất lớn. Đó chính là miếng mồi ngon đă làm cho Trung Cộng không đè nén được ḷng tham không đáy của họ. V́ vậy, Trung Cộng đă bịa ra cái gọi là Nam Hải bao gồm cả Trường Sa. Nhưng, sự bịa đặt vô căn cứ đó đă bị dư luận quốc tế vạch trần. Chẳng hạn như trong tác phẩm "La Souverainetée des Archipels Paracels et Spratleys" luật gia Monique Chemillier - Gendreau đă khẳng định rằng: "Nam Hải của Trung Quốc chỉ kéo ngang đến đảo Hải Nam mà thôi, và không thê kéo dài tới các vùng quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. (16)

Về lịch sử:

Chủ quyền của Việt Nam tại nhiều khu vực lănh hải trong vùng quần đảo Trường Sa đă được lịch sử minh chứng liên tục ít nhất từ thế k› 15 đến nay.

Các sách xưa của Việt Nam như "Hoàng Việt Nhất Dư Địa Chí" của Lê Quang Định, Hoàng Việt Địa Dư Chí của Phan Huy Chú, "Phủ Biên Tạp Lục" và "Đại Nam Nhất Thống Chí" của Sử Quán triều Nguyễn... đều có những ghi chép về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bản đồ Hồng Đức thời Lê Thánh Tôn (1470-1498) đă có chỉ rơ vị trí quần đảo Truờng Sa nằm ngoài khơi Biên Đông là vùng lănh hải của Việt Nam. (17)

Theo "Phủ Biên Tạp lục" của nhà bác học Lê Quề Đôn (1726-1784) th́ từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1615) đă cho thành lập các đội hải binh tuần pḥng các vùng lănh hải của Việt Nam: Đội Hoàng Sa chịu trách nhiệm quần đảo Hoàng Sa. Đội Bắc Hải chịu trách nhiệm quần đảo Trường Sa. Ngoài việc tuần tra, canh phàng bảo vệ lănh hải, hai đội này c̣n có nhiệm vụ thăm ḍ và khai thác sản vật ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thực tế lịch sử này đă minh chứng rằng từ đầu thế k› 17, Việt Nam đă nắm quyền làm chủ ở cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngành khảo cổ học của Việt Nam, qua các cuộc điều tra và khai quật tại các đảo Trường Sa lớn, Nam Yết, Song Tử Tây, Sơn Ca, Sinh Tồn Lớn, Phan Vinh... thuộc quần đảo Trường Sa, đă t́m được nhiều di vật gốm, sứ của Việt Nam từ thế k› 17,18, và 19, đă khẳng định sự có mặt liên tục của người Việt Nam ở quần đảo Trường Sa suốt hơn 3 thế k› qua (không hề thấy vết tích của người Trung Hoa hay Phi Luật Tân, Mă Lai Á hay Brunei).

Qua việc nghiên cứu và thẩm định các di vật khảo cổ đă t́m thấy trong các cuộc khai quật trên quần đảo Trường Sa những năm gần đây. Các nhà khảo cổ Việt Nam đều nhận định rằng: "Những chứng tích khảo cổ học về sự sinh sống và những hoạt động trên biên của người Việt trên đảo Trường Sa trong nhiều thế k› đă qua, đă thêm bằng chứng khoa học, xác định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Truờng Sa". Khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp (1884-1945) th́ người Pháp vẫn tiếp tục thực hiện chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Một số hoạt động điên h́nh của chính quyền Pháp tại quần đảo Trường Sa là:

Năm 1927, tiến sĩ A. Krempt, Giám đốc Viện Hải Dương Học Đông Dương, sau chuyến thăm ḍ và khảo sát quần đảo Hoàng Sa, đă tiến hành khảo sát địa và thăm ḍ trữ lượng phosphate tại quần đảo Trường Sa.

Năm 1930, chính quyền Pháp ở Đông Dương chính thức cử một phái đoàn ra căn cứ chủ quyền tại quần đảo Trường Sa.

Năm 1933, toàn quyền Đông Dương đă kề nghị định sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.

Đặc biệt là việc xây dựng Hải Học Viện Nha Trang của Pháp, và sau năm 1956 đă trở thành một cơ sở nghiên cứu hải học có tầm cỡ quốc tế của Việt Nam Cộng Hoà. Hải Học Viện Nha Trang đă có những đóng góp vào việc nghiên cứu, phát hiện tiềm năng dầu khí của Việt Nam ở khu vực quần đảo Trường Sa.

Đến những năm 1946-1954, mặc dù Việt Nam chưa hoàn toàn độc lập, nhưng các nội các của chính phủ Cộng Ḥa Nam Kỳ - từ thời Thủ Tướng Nguyễn Văn Thinh (1946) đến thời thủ Tướng Bửu Lộc (1954) - cũng đă có quan tâm đến việc thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cụ thê: Tại hội nghị San Francisco (1951) Thủ Tướng Trần Văn Hữu, trưởng phái đoàn Việt Nam đă long trọng tuyên bố công khai trước mặt của phái đoàn 51 quốc gia, rằng: "Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc về chủ quyền của Việt Nam", và không có quốc gia nào lên tiếng phản đối. Đây cũng là một bằng chứng pháplư quốc tế về chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Vào thời Việt Nam Cộng Hoà luôn luôn có mặt ở hai vùng lănh hải này, đê tuần pḥng, bảo vệ lănh hải, và làm công việc h‡ trợ cho các đoàn chuyên viên nghiên cứu và thăm ḍ tài nguyên ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhờ vậy, nên có những kết quả như sau:

- Báo cáo chuyên đề về thực vật ở Hoàng Sa - Trường Sa của ông Lê Văn Hội (1957)

- Tường tŕnh về tiềm năng phân bón ở Hoàng Sa của Lê Thị Ngọc Thanh (1957)

- Nghiên cứu về phosphate ở Hoàng Sa của ông Trần Bửu Châu 1973)

- Tường tŕnh cuộc thám sát đảo Nam Yết (Trường Sa) của ông Trịnh Tuấn Anh (1973)

Nhưng công việc nghiên cứu quy mô và có tầm vóc quốc tế là việc thực hiện Chương Tŕnh NAGA Đó là chương tŕnh nghiên cứu, khảo sát trên biên, dọc theo hành lang thềm lục địa phía Nam vĩ tuyến 17 qua đến Vịnh Thái Lan (bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa). Công việc nghiên cứu hải dưong học quy mô này kéo dài từ 1959 đến 1961, với sự hợp tác của các khoa học gia Việt Nam cùng với các chuyên gia Hoa Kỳ và Thái Lan.

Riêng về mặt hành chánh, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa đă ra hai sắc lệnh rất quan trọng, là những bằng chứng pháplư về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa:

- Sắc lệnh số 34/NV, ngày 29-11-1959, do Tổng thống VNCH kề, quyết định sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa cũ).

- Sắc lệnh số 174/NV, ngày 13-7-1961 do Tổng thống VNCH kề, quyết định sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam (thay v́ Thừa Thiên như thời Pháp thuộc).



o0o



Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đă thuộc chủ quyền của Việt Nam ít nhất từ thế k› 15, với những bằng chứng lịch sử hiên nhiên đă được ghi trong Bản Đồ Hồng Đức (thời nhà Lê). Bằng chứng lịch sử đó c̣n ghi trong nhièu sách sử của Việt Nam (từ thời Lê đến thời Nguyễn), cũng như đă t́m thấy trên hai quần đảo này, cộng với nhiều công tŕnh nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa của giới chuyên gia quốc tế, đều cho thấy rơ ràng là: Hoàng Sa và Trường Sa đă thuộc chủ quyền của VIệt Nam từ lâu trong lịch sử, ít nhất là suốt hơn 5 thế k› qua.

C̣n nếu xét theo thỏa ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biên (UNCLOS) được công bố vào ngày 10-12-1982, và được đưa ra thi hành từ ngày 16-11-1994, th́ nước Việt Nam cũng đủ điều kiện đê thực hiện chủ quyền trên hai vùng lănh hải của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo luật pháp quốc tế.

Cho dù Trung Cộng có cho vẽ lại bản đồ, cho công bố tài liệu giả, và dùng hành động quân sự đê lấn chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, trong suốt nửa thế k› qua, cũng chỉ làm cho dân tộc Trung Hoa bị xúc phạm trước công luận quốc tế là v́ ḷng tham tài nguyên trên biên mà Trung Cộng bất chấp cả pháplư và lương tâm chân chính của nền văn minh nhân loại.

Tất cả những cố gắng trước đây của Liên Hiệp Quốc trong suốt cả thế k› đê đưa toàn thế giới ngồi lại với nhau trong một sự nhất trí vững chắc về biên cả đă tan vỡ v́ cuồng vọng xâm chiếm Biên Đông của Trung Cộng trong nửa thế k› qua. Biên Đông nói chung, vùng lănh hải Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam nói riêng, đă và đang nổi sóng, có thê trở thành băo tố vào bất kỳ lúc nào. Ng̣i nổ chiến tranh cục bộ trên biên Đông sẽ đưa đến cuộc chiến tranh Thái B́nh Dương đang được Trung Cộng châm lửa.

Đồng thời với việc kêu gọi quốc tế phải bằng mọi cách ngăn chặn nguy cơ chiến tranh đó, dân tộc Việt Nam không thê thụ động "yêu cầu đối thoại" với Trung Cộng, mà phải chủ động, tích cực chuẩn bị giáng trả cho kẻ xâm lược những đ̣n đích đáng, theo truyền thống anh hùng của Trần Hưng Đạo B́nh Nguyên:

Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù

Thái B́nh nên gắng sức

Non nước cũ ngàn thu

(thơ Trần Quang Khải)



Lê Tùng Minh

Chú Thích:

(1) Năm 1956, khi thực dân Pháp rút ra khỏi Việt Nam, Trung Cộng liền xua hải quân chiếm đóng nhóm đảo Tuyên Đức thuộc phía Tây Hoàng Sa. Ngày 20-1-1974, thừa cơ quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, Trung Cộng lại xua hải quân tiến chiếm nhóm đảo Nguyệt Thiềm thuộc phía Đông Hoàng Sa. Và hiện nay Trung Cộng đă thiết lập căn cứ hải quân, xây dựng phi trường, đưa quân chiếm đóng cả khu vực Hoàng Sa. Vào năm 1983, Trung Cộng cho vẽ lại bản đồ lănh hải của nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa mở rộng khu vực, bao gồm bờ biên Phi Luật Tân, Tây giáp bờ biên Mă Lai Á. Họ gọi đó là "Miền Đông Hải" của Trung Quốc.

Đến ngày 25-1-1992, Trung Cộng ngang ngược thông qua một đạo luật, tuyên bố rằng: Hai quần đảo Hoàng Sa và Trương Sa đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc, v́ vậy những tàu của bất cứ nước nào đi ngang qa hai vùng lănh hải này đều phải xin phép Trung Quốc.

(2) Luật Biên - nói cho chính xác hơn là Thỏa ước UNCLOS (United Nations Convention on the law of Sea) đă được thông qua tại Montego Bay - Jamaica, có 159 quốc gia quốc tế đă pháp biêu như sau: "Thỏa ước Liên Hiệp Quốc về luật Biên là điều cận kề nhất mà loài người chúng ta có thê tiến đến với nhau. Mục tiêu đó nay đang trong tầm tay". (Theo "The American Journal of International law", Vol. 88, july 1994, page 499)

(3) Sử Quán Triều Nguyễn - Đại Nam thực lục (chính Biên), Đệ nhị kỳ, quyên 104, bản chữ Hán in vào đời Nguyễn - Bản dịch do nhà xuất bản Sử học thuộc Ủy Ban Khoa Học Xă Hội ấn hành, Hà Nội, 1962-1971.

(4) Tham khảo Bản Đồ Hồng Đức đă được in lại trong cuốn Địalư Biên Đông với Hoàng Sa và Trường Sa của Vũ Hữu San, tr. 111

(5) Xem "A New Pratical Chinese _ English Dictionary", edition in chief: liang Shi-Chiu, editors: Chu Liang-Chen, David Shao, Feffreg C. Tung, Chung Lu-Shen - The Far East Bơk Co. Ltd, Hong Kong 1971, page 121, Column 2

(6) Tham Khảo "Địa lư Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa" của Vũ Hữu San, nhà in Hương Quê, Fremont, CA 94539,c năm 1994.

(7) Theo quan niệm của người Phương Tây lúc bấy giờ, Đông ƒn là chỉ chung các nước phương Đông bao gồm ƒn Độ, các nước Đông Nam Á, Trung Quốc và Nhật Bản.

(8) Tham khảo bài "Les Portugois sur les côtes du Vietnam et du capa" của Peirre Y, Manguin, đăng trong BEFEO năm 1972, trang 74. Nhưng theo "Dictionnarire de Bibligographie generale ancienne et moderne de l'Indochine Francaise" của giáo sư A. Brébion, ấn hành vào năm 1935, th́ Paracels là tên một chiếc tàu của Công ty Đông ƒn Ḥa Lan. (theo nguồn tài liệu sưu khảo của học giả Thái Văn Kiễm công bố trên tập san Sử Địa số 29, Sàig̣n, 3-1975)

(9) Xem bài viết của W.J.M. Buch, đăng trong BEFEO, Tome XXXVI, năm 1936 - Bài "La compagnie des Indes Neerlandaise et l' Indochine".

(10) Tabert: "Univers, Histoire et Descriptionde tous les peuples, de leurs réligions, moeurs et coutumes" xb năm 1883. Theo học giả Thái Văn Kiễm đă dẫn.

(11) Tham khảo bài của Oliver trong "La Géographie", Tome LX, Nov - Dec. 1933, và bài của Marcel "Les Archipels Paracels et Spratly" trong báo VIetnam Press, Sagon, Nov. 1971, No. 7574

(12) 5 nước đó là: Trung Hoa Lục Địa, Đài Loan, Phi Luật Tân, Brunei va Mă Lai Á

(13) Bộ chỉ huy quân sự hải quân của CHXHCNVN đặt ở đảo Trường Sa.

(14) Tham khảo thêm: "Atlas for Marine Policy in Southeast Asian Sea", edited by Joseph R. Morgan, and Mark J. Valencia - University of alifornia Press, 1983.

(15) Tứ Chính là tên của một phường ở Cù Lao Ré thuộc phủ Quảng Ngăi ngày xưa. Phúc Tân, Phúc Nguyên là tên hai vị chúa của nhà Nguyễn (Phúc Nguyên hay Chúa Săi 1562 - 1535. Phúc Tân hay húa Hiền 1619 - 1687) Quế Đường là biệt hiệu của nhà bác học Lê Quề Đôn (1726-1784), Huyền Trân là công chúa, con vua Trần Nhân Tôn (1279-1293)

(16) Sách đă dẫn, nhà xb L'Harmattan, Paris, 1996

(17) Đă được in lại trong cuốn "Đại Nam Nhất Thống Chí", phần "Toàn Đồ Triều Nguyễn", Xem thêm "Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư" của Ї Bá (1630-1653)