Ngày hôm qua mục này thảo luận với Phùng Hưng về bài của ông đăng trên trang B1, Diễn Đàn, Ý kiến, Tài Liệu; tuy nhiên hôm qua chưa bàn tới phần đầu bài đó, những đoạn ông Phùng Hưng viết về Ải Nam Quan. Ải Nam Quan nghĩa là gì, và có thuộc lãnh thổ Việt Nam hay không? Đây là một vấn đề sử học, mà chúng tôi luôn luôn chủ trương phải mở một hội nghị quốc tế nghiên cứu về biên giới Việt - Trung để làm sáng tỏ mọi thay đổi trên biên giới, trong đó Ải Nam Quan chỉ là một địa điểm. Trong thời gian qua mỗi người góp ý kiến đều dựa trên kiến thức và tài liệu của mình, cho đến nay chưa thể xác định được.
Những tài liệu đã đăng trên nhật báo Người Việt do các ông Trần Gia Phụng ở Canada (từ ngày 4 tháng 2 năm 2002), Nguyễn Ngọc Danh ở Pháp (ngày 20 tháng 3) viết về Ải Nam Quan cũng không đủ rõ để xác định. Trong ba chữ Ải Nam Quan thì chữ Quan đã có nghĩa là một cái cổng rồi; nhưng đó là một cái cổng theo nghĩa đen hay chỉ có nghĩa chung chung, điều này không rõ rệt. Thêm chữ Ải, cũng có thể hiểu theo nghĩa hẹp là cái cổng giữa hai nước, hoặc nghĩa rộng là nơi đi qua lại ở giáp giới hai nước, không là một cái cổng cụ thể. Cho nên khi nói "Từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau" thì cả hai địa danh có thể đều chỉ những vùng khá rộng lớn chứ không phải là những địa điểm có đánh dấu trên mặt đất. Cho nên có thể so sánh như lối của ông Phùng Hưng, "nhà tôi từ bức tường gạch đến cây cau". Vậy Ải Nam Quan là cái gì?
Theo Đại Nam Nhất thống chí mà sử gia Trần Gia Phụng trích dẫn thì các vua Trung Hoa đời nhà Minh từ thế kỷ 16 đã xây cái cổng với hàng chữ đề Trấn Nam Quan, trong đó chữ Quan có nghĩa đen là cái cổng. Sau này Mao Trạch Đông đổi là Mục Nam Quan cũng có nghĩa như vậy. Nếu người Trung Hoa xây thì chắc cái cổng đó phải thuộc đất Trung Hoa. Nhưng phía Nam cái cổng đó có Ngưỡng Đức Đài mà đời Lê Cảnh Hưng có sửa chữa thì cái đài này chắc hẳn thuộc nước ta. Đại Nam Nhất thống chí lại viết rằng, "Ngưỡng Đức Đài .. có lẽ bắt đầu (xây) từ đời Gia Tĩnh nhà Minh." Nếu các vua Việt Nam xây thì chắc sử gia nước ta phải dùng niên hiệu vua nước mình, không dùng niên hiệu Gia Tĩnh. Chỉ có thể nêu một lý do đối lập là vào thời Gia Tĩnh bên Trung Quốc ở nước ta là Nam Bắc phân tranh. Sử gia đời Nguyễn không muốn dùng niên hiệu các vua nhà Mạc mà Nguyễn Kim đã chống, mà cũng không muốn dùng niên hiệu các vua Lê Trung hưng vì các vua nhà Lê Trung hưng lúc đó ở tuốt phía Nam chắc không thể ra lệnh xây cái đài ở biên giới phía Bắc được.
Câu hỏi thực tế mà chúng ta nên đặt ra cho các nhà nghiên cứu là giữa cái cửa Trấn Nam quan và cái Ngưỡng Đức đài đó khoảng cách là bao xa? Vì biên giới hai nước chắc ở giữa hai chỗ này. Sử liệu về thời Lê Mạc rất hiếm, nhưng cứ hy vọng là có người sẽ tìm ra. Tài liệu duy nhất hiện tìm được là từ thời Pháp chiếm đóng Việt Nam và có ký hiệp ước biên giới với nhà Thanh bên Tàu.
Ông Nguyễn Ngọc Danh có dẫn tài liệu của ông Trương Nhân Tuấn, lấy từ Văn Khố Đông Dương từ thời Pháp thuộc, để tại Aix en Provence, cho biết cột mốc đầu tiên trên quốc lộ nước ta ở cách cửa Trấn Nam Quan 100 mét về phía Nam, trên đường đi về Đồng Đăng. Ngày nay, ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao ở Hà Nội, cho biết đảng Cộng Sản công nhận "... Mục Nam Quan là của Trung Quốc, cách cột mốc số không trên 200 mét. Tính cột mốc số không trở về Nam là lãnh thổ của nước Việt Nam."
Kể ra 100 hay hơn 200 mét là khoảng cách biệt nhỏ, nhưng đối với biên giới một quốc gia thì nó lại lớn. Không phải chỉ là vấn đề lãnh thổ, tài nguyên kinh tế, nhưng là vấn đề chủ quyền và thể diện quốc gia. Tong khi đó có tài liệu khả tín lại cho biết khoảng cách là 150 mét!
Tài liệu mà chúng tôi có là một cuốn hồi ký của P. Neis, một bác sĩ Hải quân Pháp trong phái đoàn đi đánh dấu các cột mốc biên giới Việt-Trung trong những năm 1885 - 1887. Cuốn sách của Bác sĩ Neis, "Sur les Frontières du Tonkin" in năm 1887 đã được dịch sang tiếng Anh năm 1997 do nhà White Lotus ở Thái Lan cung cấp. Phái đoàn Pháp do Tổng Lãnh Sự Bourcier Saint-Chaffray cầm đầu đã chọn nơi đánh dấu đầu tiên là Trấn Nam Quan, với sự thỏa thuận của phái đoàn Thanh triều. Việc cắm mốc làm theo điều 3 trong hiệp ước ký ở Thiên Tân ngày 9 tháng Sáu năm 1885. Phái đoàn rời Pháp đi ngày 20 tháng Chín, 41 ngày sau mới tới Hà Nội, rồi từ giã Hà Nội ngày 10 tháng 12 năm đó. Ngày 20 thì phái đoàn cử hai quan chức Pháp từ Lạng Sơn lên Đồng Đăng và họ "tiếp tục đi tới Cửa Trung Hoa, cách Đồng Đăng 3 cây số, được coi là biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc". Cửa Trung Hoa, sau đó được ông Neis giới thiệu thêm, "trong tiếng An Nam gọi là Cửa Ải và tiếng Trung Hoa gọi là Che (chắc là Trấn) Nam Quan "
Theo nghĩa câu trên thì phái đoàn Pháp coi cái cổng Nam Quan nằm trên đường biên giới. Nhưng khi hai bên thương thuyết họ đã nhượng bộ. Ông Neis viết, "Từ khi hai bên ngưng bắn người Trung Hoa đã xây dựng lại cái cổng và nối bức tường có đào lỗ châu mai với trại lính trên đồi. Phái đoàn Trung Hoa cương quyết đòi cái cổng và bức tường không được coi là đường biên giới; họ muốn nó phải nằm trong khoảng đất thấp, cách nhiều mét ở trước cổng. .. Với sự nhượng bộ lớn lao của chúng ta mà sau này chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại với họ mãi không ngừng, chúng tôi đồng ý đường biên giới đi dọc theo con suối chạy dưới chân đồi .. cách cái cổng 150 mét." Việc này xảy ra ba tháng sau khi phái đoàn Pháp tới Đồng Đăng.
Những con số 100 mét hay 150 mét có thể khác nhau vì cuốn sách của ông Neis là hồi ký, không phải văn kiện pháp lý. Có thể ông ước lượng theo con đường, từ Nam quan cho đến chỗ còn đường gặp dòng suối như ông Neis viết, còn tài liệu trong văn khố Pháp ở Aix Provence viết theo lối đo đường chim bay! Nếu muốn tin, thì chúng ta phải tin ở tài liệu văn khố hơn.
Như vậy thì khoảng cách từ cột mốc biên giới tới cửa Nam quan, sau hiệp ước năm 1885 là 100 mét, ngày nay ông Lê Công Phụng nói là "hơn 200 mét." Có nên xí xóa, chín bỏ làm mười hay không? Nếu nói đến thể diện và chủ quyền quốc gia thì chắc là không! Ông Lê Công Phụng có thể theo lối xí xóa! Ông là người chủ trì việc ký hiệp định biên giới, mà khi tường thuật ông lại không cho một con số chính xác, chỉ nói "trên 200 mét." "Trên" là trên bao nhiêu? Đánh dấu biên giới quốc gia ở một địa điểm lịch sử có ý nghĩa thiêng liêng như vậy, kể ra tinh thần chín bỏ làm mười cũng không dùng đúng chỗ!
Nhưng sự thỏa thuận giữa người Pháp và nhà Thanh năm 1885 cũng không nhất thiết phản ảnh đúng biên giới lịch sử giữa Việt Nam và Trung Hoa từ ngàn năm trước. Đó là một đề tài mà chúng ta có thể bàn sau. Chỉ một hội nghị lịch sử mới có thể soi sáng vấn đề này.
NGÔ NHÂN DỤNG
Bài Liên Hệ
| 04-Apr-2002 |
Bằng Chứng - Bình Luận của Báo Người Việt Một vị độc giả của nhật báo Người Việt góp ý kiến về các bản hiệp ước biên giới gần đây giữa các chính phủ Hà Nội và Bắc Kinh, tỏ ý không hài lòng về những lời phản đối các hiệp ước đó. Nhận thấy đây là những ý kiến thẳng thắn của một người giàu thiện chí, được phát biểu một cách thận trọng và đối nghịch với nhiều ý kiến đã đăng trên nhật báo Người Việt, kể cả trong mục này, cho nên chúng tôi đăng bài viết của ông Phùng Hưng trên trang Diễn đàn theo tinh thần tôn trọng ngôn luận tự do |