BẢN LÊN TIẾNG
của
Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lănh Thổ
VỀ TIẾT LỘ MỚI NHẤT CỦA VC LIÊN QUAN ĐẾN NHƯỢNG LĂNH THỔ
CHO NGOẠI BANG
Giáo Sư Nguyễn VĂn Canh
Lời Ṭa Sạn Tạp Chí KIẾN QUỐC: Ngày 28 tháng 1 năm 2002, Thứ trưởng ngọai giao Lê công Phụng trả lời trong một cuộc phỏng vấn của một tổ chức thông tin VC có tên là VASC Orient ở trong nước về vấn đề nhượng đất cho TC. Cuộc họp báo này có mục đích giải thích cho những người mà Phụng gọi là "dư luận quan tâm" và phản ứng theo "cảm tính", cốt để cho họ hiểu được "sự thực". Dư luận ấy đuợc VASC Orient nói là phát xuất từ khá nhiều Website được thiết lập ở nước ngoài, một loạt bài được viết từ trong nước của những người tự xưng là 'những người v́ dân chủụ ở Việt nam'. Những điều trả lời bất thường này cho thấy lănh đạo Đảng CSVN đă có những lúng túng, và sợ sệt trước áp lực của nhân dân Việtnam. Áp lực đó như một nhà lănh đạo chống đối có tiếng tăm là ông Hoàng minh Chính nhấn mạnh rằng do đồng bào hải ngoại đưa đến, v́ ở trong nước bị bịt kín và cô lập.
Đây là bản khảo sát việc chuyển nhượng lănh thổ về phương diên pháp lư. Bản khảo sát này không đặt trọng tâm vào các lănh vực an ninh/quốc pḥng, hay kinh tế v.v.
Toà soạn hân hạnh được đăng Bản Lên Tiếng quan trọng này và đăng
Hiệp ước Thiên tân cùng vớiụ hai công ước: 1887 và 1895 liên quan đến Phân Định
lănh Thổ mà Pháp và Trung Hoa kư với nhau nhằm giúp độc giả có tài liệu hiểu rơ
vấn đề.
Lê công Phụng, qua một cơ quan truyền thông VC ở trong nước, vào ngày 28 tháng
1, năm 02, trả lời về lư do và mục đích Đảng CSVN (VC) kư với Đảng CSTH (TC)
Hiệp ước về biên giới trên đất liền, Hiệp Ước liên quan đến hải phận vùng Vịnh
Bắc Việt; biện minh cho hành vi của VC với một số chi tiết nhằm phủ nhận những
tin tức cho rằng có sự bán đất. Cũng nhằm cùng một mục đích trên, Phụng cũng trả
lời về vấn đề công bố Hiệp ước, và kêu gọi đừng làm hay nói điều ǵ gây phức tạp
cho quan hệ giữa Việtnam và Trung quốc.
Trước hết tài lệu này sẽ nêu ra một số vấn đề chung mà Phụng tiết lộ qua bài
phỏng vấn. Sau đó là bàn tới một số địa điểm mà VC nói tới là Thác Bản Giốc, Ải
Nam Quan và Vịnh Bắc Việt mà VC tiết lộ.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG. Đó là vấn đề công bố hiệp ước, lư do thiết lập đường
biên giới mới, vấn đề gây phức tạp cho mối quan hệ giữa VN và TQ, vấn đề phóng
đại mang màu sắc cảm tính trong nhận định (ám chỉ là những thắc mắc về vấn đề
nhượng đất thiếu khách quan).
1) Về CÔNG BỐ hiệp ước. Đây là một qui định pháp lư bắt buộc phải có trong mỗi
quốc gia khi kư một Hiệp ước với ngoại bang để hiệp ước có giá trị. VC nói rằng
có "báo cáo" đầy đủ qua nhiều cấp. Cấp cuối cùng là "Quốc Hội, cơ quan quyền lực
cao nhất, là cơ quan phê chuẩn Hiệp ước.., QH đồng ư th́ lúc ấy mới kư".
Một hiệp ước muốn đưọc hợp pháp bắt buộc phải trải qua một tiến tŕnh dài từ khi
thương thuyết, kư kết sơ bộ, phê chuẩn cho đến khi ban hành. Ban hành là công
việc nằm trong giai đoạn chót để cho hiệp ước có hiệu lực chấp hành. Phê chuẩn
chỉ được thực hiện ở giai đoạn 3- một giai đoạn quan trọng nhất trong tiến tŕnh
này) truớc khi ban hành. Ở đây, VC lại lật ngược tiến tŕnh này, nói rằng "Quốc
Hội đồng ư mới kư"ù. Trong mỗi giai đoạn, các chi tiết liên hệ phải được phổ
biến công khai. Dĩ nhiên là nội dung hiệp uớc phải được phổ biến đầy đủ để mọi
công dân hiểu và phát biểu. Trước khi mỗi giai đọan trrong tiến tŕnh bắt đầu,
dân chúng cũng được thông tin đầy đủ.
Lối công bố đó của VC hoàn toàn bất hợp pháp. Đây thực là sự trí trá, ngoan cố,
t́m cách lưà dối dân tộc như thường xẩy ra, và đây cũng là cách mà Đảng lại có
toan tính đổ trách nhiệm cho tổ chức ngoại vi của Đảng là Quốc Hội- "cơ quan đại
diện của dân" này phải gánh chịu mọi hậu quả.
2) LƯ DO KƯ HIỆP ƯỚC. VC biện minh cần thiết lập đường biên giới mới. Tôi chỉ
bàn tới hai trong 3 lư do là biến thiên con người, sự kiện chính trị.
Biến thiên con người. "Lấy vợ lấy chồng giữa hai bên biên giới" là cách giải
thích để từ đó phải thay đổ đường biến giới. Tuy nhiên, lư do này không đủ để
thuyết phục mọi người về tầm quan trọng và phạm vi quá to lớn của công tác này.
Người ta được biết sau 1954, có nhiều công tŕnh "hữu nghị" do lời yêu cầu của
Hồ chí Minh với TC để viện trợ trên lănh thổ Việt nam. Nhân dịp này các toán
công nhân TC đă dời mốc biên giới vào trong nội địa Việt nam. Vào năm 1954, khi
TC sang giúp phục hồi đường hoả xa từ Yên viên đến Đồng đăng, giao điểm đường
hoả xa VN và TH, các công nhân TC đă di chuyển cột mốc tại đây vào Việt nam 300m
mà TC ngang nhiên tuyên bố đó lành ranh giới . Từ sau 1974, TC gia tăng chiếm
đất. Theo công bố chính thức của Bộ Ngoại giao VC vào tháng 3 năm 1979, th́ có
tới 4,333 vụ từ 1974 tới 1978 (1974: 179 vụ và năm 1978: 2,175 vụ) . Rồi trong
thời gian có cuộc chiến bắt đầu từ 1979, quân TC tiến sâu vào trong nội địa có
khi tới 40 cây số, chiếm đóng 23 thị trấn thuộc 6 tỉnh biên giới là Lạng sơn,
Đồng đăng, Lộc b́nh, Cao bằng, Phục học, Thất khê, Quang uyên, Hà lang, Thoát
lang, Hoa an, Đồng khê, Trùng khánh, Trà lĩnh, Thông nông, Sóc giang, Lào cai,
Cam dương, Muờng khuơng, Bát xát, Sa pa, Phố lu, Cốc xam và Phong thổ . Sau 17
ngày, TC tuyên bố rút quân, nhưng c̣n chiếm đóng tại nhiều ngọn đồi và địa điểm
chiến lược trong phần đất Việtnam. Sau khi đă thiết lập bang giao với VC, quân
TC vẫn không rời khỏi các địa điểm ấy. Quân trú pḥng TC tại đây vào các năm
1992 và kế tiếp vẫn c̣n tiếp tục đốt nhà nông dân Việt nam và đưa nông dân TC
sang lập nghiệp, như đă xẩy ra cạnh quốc lộ 1 thuộc tỉnh Cao bằng và Quảng tây .
Như vậy, với con số 4,333 vụ chiếm đất kể trên và biết bao nhiêu địa điểm bị
chiếm từ 1979 đến nay, với dân TC tràn sang lập nghiệp như vậy là VC chấp nhận
"sự kiện ấy". Lư do "có biến thiên con người" chỉ là cái cớ bề ngoài để che đậy
thực trạng lấn chiếm đất và hợp thức hóa t́nh trạng ấy.
Sự kiện chính trị: Có phải v́ mối tương quan xă hội chủ nghĩa giữa TC và VC là
một sự kiện chính trị có tính cách đặc biệt v́ nhu cầu chống lại diễn tiến hoà
b́nh cuả đế quốc? Do đó có đề nghị hợp tác giữa 2 Đảng đă đưọc Đỗ Muời, Lê khả
Phiêu nêu ra với TC nhằm thành lập một khối xă hội chủ nghĩa. Dù không được đáp
ứng, VC vẫn kiên tŕ theo đuổi mục tiêu này?
3) GÂY PHỨC TẠP CHO QUAN HỆ VỚI TC. VC nêu vấn đề lén lút "bán đất" (hiến dâng
đất th́ đúng hơn) của quốc dân Việt nam cho TC có liên hệ ǵ đến việc "gây phức
tạp cho quan hệ giữa Việt nam và Trung Quốc". Một người b́nh thường hỏi tại sao
lại như vậy? Có phải v́ "lực lượng thù địch từ bên ngoài đang t́m cách gây khó
khăn cho Chính phủ và nhân dân trong việc phát triển quan hệ đối ngoại"?. Dĩ
nhiên, quốc dân Việt nam luôn luôn chống lại những kẻ xâm lăng, cướp đất dù kẻ
đó đỡ đầu cho Đảng CSVN.
Như vậy, nếu có sợ đến "phức tạp" nào đó, th́ đó là việc của VC, không phải cuả
Quốc dân VN.
4) PHÓNG ĐẠI MANG MÀU SẮC CẢM TÍNH. VC kêu gọi "quan tâm cần đúng mức, tránh
những ǵ thiếu thực te"á. VC lén lút bí mật hiến dâng đất của quốc dân cho TC,
và làm việc này hoàn toàn bí mật. Dân chúng đặt vấn đề, VC không trả lời thẳng
vào vấn đề, nói quanh co . Trái lại, chúng kêu gọi là cần "quan tâm đúng mức,
nên tránh những ǵ thiếu thực tế". Có người tự đến tận nơi t́m hiểu hư thực, như
nhà văn Bùi minh Quốc chẳng hạn, th́ bị bắt đưa về địa phương quản chế. Dân
chúng dựa vào những điều quan sát thấy, để nói lên sự thật, th́ Đảng bị kêu là
"thiếu thực tế".
II. CÁC ĐIẠ ĐIỂM ĐƯỢC TIẾT LỘ:
Đó là Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc; và biên giới trong Vịnh Bắc Việt.
1.ẢI NAM QUAN:
Nhân dịp này, tôi cũng nên nói tới danh từ "MỤC" Nam Quan. Có một số người cắt
nghĩa MỤC là MẮT. Ư nói là con mắt từ cổng phiá Nam [nh́n xuống]. Tuy nhiên, MỤC
đây là ḥa mục, hữu nghị " Cổng Phiá Nam Hoà Mục, Hữu Nghị" .
Giải thích về việc nhượng Aỉ Nam Quan cho TC bằng cách lui cây số 0 vào phiá
trong lănh thổ Việt nam 200 mét, Phụng nói: " Mục Nam quan ở đây nếu nói là cái
cổng th́ cũng là một cách, nhưng nếu nói là khu vực, th́ cũng là một cách nói.
Giống như đại đa số các cửa khẩu biên giới, "cửa khẩu" theo nghĩa rộng thường
bao gồm hai cửa khẩu....... Chúng ta cũng biết là ải Nam Quan là cuối khúc sông.
Nếu chúng ta bắt đầu tính biên giới từ chân tường hoặc chia đôi cửa mục Nam Quan
th́ cũng không được.... Chúng ta tôn trọng cơ sở pháp lư đă có, tôn trọng thực
tiễn, nhất là lâu nay quản lư như vậy. Cho nên, hiện nay, chúng ta công nhận mục
Nam Quan là của Trung quốc, cách cột mốc số 0 trên 200m. Tính từ cột mốc số 0
trở về phiá Nam là lănh thổ của Việt nam....".
Như vậy, VC chính thức thú nhận là đă chuyển ít nhất phần đất có cổng của Ải Nam
Quan cho TC.
Vậy căn bản nào được VC sử dụng để chuyển nhượng Aỉ Nam Quan? Đó là "cơ sở pháp
lư, tôn trọng thực tiễn và lâu nay vẫn quản lư như vậy".
Cơ sở pháp lư: Trên nguyên tắc đó là các văn kiện qui định quyền lợi và nghĩa vụ
của các bên kết ước. Hay nếu dùng danh từ pháp luật th́ văn kiện đó là các hiệp
ước hay hiệp định mà hai hay nhiều bên đă kư kết/ công nhận. Các văn kiện đó qui
định quyền lợi và nghĩa vụ, ràng buộc các bên đương sự được hưởng hay phải thi
hành.
Khi VC nói là tôn trọng cơ sở pháp lư trong trường hợp này, người ta phải t́m
hiểu xem có các văn kiện tương tự không?
Trước hết, trong bài phỏng vấn trên, VC có nói tới các công ước 1887 và 1895 mà
VC nh́n nhận là sử dụng làm cơ sở để thương thuyết. Tuyệt nhiên, các công ước
này không có một điều khoản nào trù liệu chuyển giao Ải Nam Quan cho Trung Hoa.
Trái lại về thực chất, th́ Hiệp ước Thiên tân 1885, và toàn bộ các văn kiện kư
giữa Pháp và nhà Thanh lại bảo vệ sự vẹn toàn lănh thổ của Annam, chống lại
những xâm lấn đất đai của Thanh triều, buộc Thanh triều phải rút quân đội chính
qui của họ ra khỏi lănh thổ Annam v.v.
Vậy th́ c̣n văn kiện nào khác? Đây chỉ có thể hiểu là có một thỏa ước giữa VC và
TC về qui chế Ải Nam Quan mà hai bên không công khai phổ biến, nghĩa là VC đă
cam kết bí mật chuyển nhượng phần lănh thổ đó và nay cam kết ấy là cơ sở pháp lư
và phải chuyển giao.
Tôn trọng thực tiễn: Có thể hiểu t́nh trạng thực tiễn là trong thực tế sự việc
đă xẩy ra và c̣n xẩy ra một cách liên tục và mọi người liên hệ mặc thị chấp
nhận. Nếu ứng dụng trường hợp Ải Nam Quan vào trường hợp này, th́ Aỉ nam Quan đă
thuộc về TC từ lâu. Ta được biết là vào năm 1953, Mao trạch Đông đổi Trấn Nam
Quan thành Mục Nam Quan . Chỉ sau khi phần đất ấy trở thành sở hữu của Trung
Hoa, Mao mới có quyền đổi tên như vậy. Nếu Aỉ ấy c̣n là của Việt nam, Mao sẽ
không làm như vậy và ít nhất họ Hồ phải lên tiếng. Thuyệt nhiên, Hồ không có một
mảy may chống đối, mà trái lại c̣n chấp nhận dùng tên này. Rồi, theo lời tuyên
bố của Đại tá VC Phạm quế Dương mới đây cho biết rằng năm 1970, khi ông lên thăm
Aỉ Nam Quan, th́ được biết là cả khu vực ấy đă thuộc về phần TC. Như vậy, ta có
thể kết luận một cách chắc chắn rằng việc chuyển giao cửa Aỉ này xảy ra từ hồi
Hồ chí Minh , hay ít nhất là vào thời điểm trước 1953. Và hơn một năm sau, theo
lời cầu viện của Hồ, các đoàn công nhân TC sang xây đường hỏa xa cho trục Yên
Viên và Đồng đăng nói trên và họ di chuyển mốc đánh dấu biên giới vào sâu trong
nội địa 300m là để bảo vệ sự chuyển nhượng ấy . Vào tháng 5, 92 tại quốc lộ 1,
thuộc Lạng sơn, gần Hữu Nghị quan, lính Trung cộng đă di chuyển cột Mốc biên
giới vào sâu trong nội địa Việt nam 400m, nên xảy ra cuộc chạm súng với lính VC.
Được hỏi là chính quyền có phản ứng ǵ thay v́ chỉ phản kháng lấy lệ, như kêu
gọi "phiá bên kia từ nay đừng làm như thế nữa", th́ Hà nội cho biết là họ" không
muốn đương đầu với TC, chỉ muốn dàn xếp bằng phương cách hoà b́nh" ....
Ngày nay, VC hợp thức hoá "thựỉc tiễn ấy" bằng hiệp ước 1999 và bắt đầu cắm Mốc
để thi hành.
Lâu nay vẫn quản lư như vậy. V́ t́nh trạng như vậy đă xẩy ra và khu vực ấy đă
hiến dâng cho TC cả trên nửa thế kỷ nay, các cơ sở và mọi sinh hoạt đều do các
cơ quan hành chánh của TC điều khiển. Như vậy, nề nếp sinh hoạt của khu vực này
được thực hiện trong khuôn khổ của TC từ lâu.
C̣n việc diễn tả khu vực cửa ải rộng hay hẹp chỉ là cách nói loanh quanh để che
đậy việc làm bất chính của VC. Và khi nói tới "Nếu chúng ta bắt đầu tính biên
giới từ chân tường hoặc chia đôi cửa mục Nam Quan th́ cũng không được", th́ câu
hỏi được nêu ra là tại sao không được?
Đây là bằng chứng ngược lại những ǵ mà VC nói. Vào năm 1931, một du khách đến
thăm tận nơi, có nói tới cổng Aỉ Nam Quan và có trông thấy đường ranh giới xây
bằng đá chia đôi Việt nam và Trung Hoa. Và lời mô tả ấy đưọc chứng minh bằng
h́nh màu chụp cổng, gọi là Port de Chine, nằm giữa khe núi và có tường ngăn đôi
giữa 2 nước, chạy dài ṿng vèo từ cổng lên đến chân núi cao. Tường bằng đá ấy
được xây ở mỗi bên của cổng . Đoạn mô tả cổng Nam Quan và bức tường dùng làm
đường ranh biên giới được nói như sau: " Trên con đường ṿng vèo, qua khỏi Lạng
sơn chừng 13 dậm, chúng tôi chạy trên một khúc đường ṿng, và trước mặt chúng
tôi là "Cổng Trung Hoa", với những bức tường xây bằng đá, giống như các con rồng
uốn khúc, chạy lên đến tận các ngọn đồi nằm ở mỗi bên". H́nh chụp đính kèm.
Vậy, tôi kêu gọi Đỗ Mười, Lê khả Phiêu, Nông đức Mạnh, Lê đức Anh, Vơ văn Kiệt
và các người lănh đạo khác của VC, kể cả những người đă chết gồm cả từ Hồ chí
Minh trở xuống hăy có can đảm công khai trả lời trước quốc dân về vấn đề này.
2. THÁC BẢN GIỐC.
Trong lănh vực Quốc Tế Công Pháp, để xét xem một phần đất có thuộc chủ quyền
quốc gia, người ta đưa ra nhiều tiêu chuẩn. Ta t́m thấy có nhiều yếu tố chứng
minh truờng hợp Thác Bản Giốc là của Việt nam:
1) Về phương diện lịch sử: Trong sử sách của Việt nam và Trung Quốc, không ai
nói thác này thuộc Trung quốc. Trung quốc cũng không nói đấy là của Trung quốc.
C̣n đối với Việt nam " thác này đă đi vào sửũ sách, nhất là sách giáo khoa của
học sinh [thác] này thành di tích, điểm du lịch được nhiều người ưa chuộng.."
Vậy, lịch sử chứng minh Việtnam có chủ quyền trên thác.
2) Về sinh hoạt của dân chúng Việt. Đây là một [địa] "điểm du lịch được nhiều người [Việt nam] ưa thích", như vậy rất nhiều người Việt lui tới, ngắm cảnh. Qua h́nh ảnh của Thác, và qua mô tả của VC Lê công Phụng ( mốc nằm trên một cồn nhỏ ở gữa suối, cách đấy khoảng mấy trăm mét), đây là một khu rộng lớn và "hai bên đang tiến hành khai thác du lịch". Vậy, đây là một khu rộng lớn dành cho du lịch và có nhiều hoạt động/ dịch vụ cung cấp cho du khách trong khu vực này.
3) Về phương diện hành sử chủ quyền và thẩm quyền. Một khu vực
to lớn như vậy, phải có cơ quan công quyền nếu không phải của trung ương th́ điạ
phương phụ trách. Khu vực ấy thuộc Huyện, tổng hay một xă nào của tỉnh Cao Bằng.
Cơ quan nào phụ trách an ninh cho du khách đến thăm. V́ đây, Thác năm ở biên
giới giữa 2 quốc gia, có nhiều trộm cướp. Cơ quan chính quyền phụ trách quản trị
khu du lịch, nhà hàng quán ăn, nhà trọ cho các du khách ở xa tới v.v...Tất cả
các hoạt động này nằm trong sự kiểm soát và điều khiển của chính quyền nào: địa
phương hay trung ương...
Căn cứù vào các yếu tố trên, khi VC Lê công Phụng nói rằng "lănh đạo chúng ta
nhầt trí trong tất cả các điều kiện ấy, không thể đ̣i hỏi thác Bản Giốc phải là
của chúng ta hoàn toàn được". Thay v́, chúng ta được 1/3, nhưng "bạn đă thoả
thuận thác được chia đôi".
Lư luận của lănh đạo VC không thể dược chấp nhận. Và Thác ấy thuộc quyền sở hữu
của Việt nam , v́ lẽ a) Như trên VC Phụng đă nói rằng: "Trung quốc cũng không
nói đấy là của TQ", trong khi đó Việt nam đă hành sử chủ quyền/thẩm quyền ít ra
từ truớc khi có Hiệp ước Thiên Tân, b). Đă có các sinh hoạt của người Việt tại
khu vực này từ lâu và c) Hơn nữa, Hiệp ước Thiên tân có trù liệu " điều chỉnh
chi tiết theo thực tế" ở điều 3. Nếu bản đồ kèm theo công ước Pháp và Thanh
triều có qui định Việt nam chỉ được 1/3 (tuy nhiên,không thấy Phụng nói ǵ về
điều này), th́ có thể đ̣i "điều chỉnh chi tiết cho đúng với thực trạng" theo
điều 3 của Hiệp ước ấy. Đ̣i hỏi này là chỉ để áp dụng Công ước mà thôi. Như vậy,
không có lư do ǵ lại chia đôi.
III. VẤN ĐỀ LĂNH HẢI TRONG VỊNH BẮC VIỆT.
A. Tóm tắt những ǵ mà VC tŕnh bày về Hiệp ước Vịnh Bắc Việt.
1) Lư do kư kết hiệp ước phân định lănh thổ trên Vịnh Bắc Việt:
Pháp và nhà Thanh thoả thuận vẽ ra đường quản lư hành chánh cách đây 100 năm
trong vùng Vịnh. Khi mà các vấn đề chính trị kinh tế biến động, th́ việc xâm
phạm qua lại trên đường quản lư hành chánh ấy xảy ra thường xuyên và phức tạp.
V́ thế, nên phải thiết lập đường ranh chính thức.
2) Các cơ sở để kư kết: a) luật biển 1982, b) căn cứ vào điều kiện tự nhiên của
Vịnh Bắùc Bộ, và c) địa lư về phiá Việtnam và về phia Trung Quốc và nguồn lợi
trong vịnh để phân định.
Phụng tuyên bố : "vậy phải hợp lư, hợp với pháp lư, phù hợp với thực tiễn".
3) Kết quả: VC đă thoả thuận với TC các điểm sau đây:
a) Lúc đầu khi thương thảo, VC đă đưa ra con số 61% Vịnh là của Việt nam. Sau
nhiền lần đàm phán "ta được 53.2% và Trung quốc được 46,8% tổng số diện tích
Vịnh"
b) Qui chế đảo Bạch Long Vĩ. "Thông thường, các đảo nằm giữa Vịnh th́ không có
vùng pháp lư xung quanh. Nhưng với Bạch Long Vĩ, th́ chúng ta đạt được ṿng đai
xung quanh là 15 km".
c) "Đường đóng cửa Vịnh của chúng ta được phân chia một các thỏa đáng".
d) "Đạt được sự phân định rất hợp lư về vùng cửa sông Bắc Luân, giáp mốc biên
giới trên bộ".
Ngoài ra, VC đă kư với TC một Hiệp định hợp tác ngành cá trên ṭan Vịnh Bắc Bộ
và vùng quá độ: Vùng đánh cá chung cách bờ 36 hải lư và có hiệu lực 15 năm, nằm
vào phiá nam Bạch Long Vĩ. Và vùng quá độ là vùng phiá bắc Bạch Long Vĩ, cách
điểm xa nhất của các đảo ven bờ là 22 hải lư.
Hết thời hạn đó, "ai vào đánh cá phải xin phép".
B.Nhượng bộ căn bản: Đường Quản lư hành chánh.
Xuất hiện của danh từ "đường quản lư hành chánh".
Khi nói tới Pháp và Nhà Thanh thỏa hiệp vẽ một đường ranh hành chánh trong Vịnh,
Phụng có ư nói tới công ước 26 tháng 6 năm 1887 mà trong hoạ đồ kèm theo công
ước gọi là đường màu đỏ. Tuy nhiên, Phụng không nói công ước ấy là "cơ sở" để
thương thuyết, mà chỉ nhấn mạnh đến Luật biển 1982, điều kiện tự nhiên, địa lư
và nguồn lợi để phân định.
VC thay đổi lập trường về đường phân ranh để thoả măn đ̣i hỏi của TC. Theo tài
liệu về phiá TC, th́ vào tháng 12 năm 1973, bộ Ngoại giao VC công khai nói rằng
"vùng vịnh Bắc Việt chưa được phân chia giữa 2 quốc gia, v́ Việt nam liên tục bị
chiến tranh". Rồi đến tháng 8 năm 1974, TC phàn nàn rằng VC bất th́nh ĺnh thay
đổi lập trường, xác nhận rằng trong vùng vịnh Bắc Việt "đường phân ranh đă được
ấn định từ lâu", viện dẫn rằng công uớc Pháp-Hoa 1887 về Phân định biên giới
giữa Trung Hoa và Bắc kỳ ấn định kinh tuyến 108 độ 3 phút 13 giây Đông là ranh
biên giới. VN cũng nhấn mạnh rằng trong suốt thế kỷ qua, các chính quyền của 2
quốc gia đă "hành sử chủ quyền và thẩm quyền chiếu theo đường đó.
TC thêm rằng trên căn bản đó, VC chiếm 2/3 Vịnh.
TC bác khước lập luận đó của VC. Họ chép lại đoạn ghi trong công ước mô tả cách
phân chia các đảo trong vịnh, nói rằng vạch màu đỏ vừa nói là nêu ra quyền sở
hữu chủ của các đảo nằm ở mỗi bên, không là đường ranh giới .
Đường màu đỏ đó là đường quản lư hành chánh chỉ có mục đích xác định qyền sở hữu chủ của các đảo ở mỗi bên. Ư nghĩ này xuất phát tù phiá TC từ đầu thập niên 1970. Nay, với lời tuyên bố của Lê công Phụng, VC đă nhượng bộ, chấp thuận rằng đó là đường quản lư hành chánh. Như thế là cùng nhau thảo luận để thiết lập đường biên giới. Nhượng bộ này làm thay đổi toàn diện vùng vịnh và đưa tới dâng hiến phần lớn Vịnh Bắc Việt cho Trung cộng, và từ đó họ chiếm cứ tài nguyên quốc gia, kiểm soát vùng Vịnh và chế ngự đất liền.
Đường quản lư ấy là ở đâu?. Đó là vạch màu đỏ trên bản đồ chạy
theo hướng Bắc Nam, bắt đầu từ giao điểm giữa Móng cái và Quảng đông chạy dài
xuống phía nam, hướng thẳng đến cuối tỉnh Thừa Thiên.
Sụỉ thực đường màu đỏ ấy là ǵ?
Công ước 26 tháng 6 năm 1887 được kư tại Bắc kinh có liên quan đến phân dịnh
biên giới Trung Hoa và Bắc kỳ giữa đại diện Pháp là Ernest Constans và Hoàng
thân K' ing. Đoạn về đường ranh trong vịnh nói nguyên văn như sau: "Les iles qui
sont à l'Est du méridien de Paris 105 o 43 de longitude Est, c'est à dire de la
ligne Nord-Sud passant par la pointe orientale de l'ile de Tch'a-kou ou Duan
chan (Tra-co) et formant la frontière sont également attribuées à la Chine. Les
iles Go-tho et les autres iles qui sont à l'Ouest de ce méredien appartiennent à
l'Annam". Tác giả soạn ra Công ước và các nhà thương thuyết đă dùng danh từ biên
giới-frontière, và c̣n nói rơ rằng lập thành đường ranh biên giới "formant la
frontière" để chỉ đường ranh giới của Vịnh. Và hậu quả đương nhiên là có bao gồm
ư nghĩa quản trị hành chánh: các đảo nằm ở phiá đông của đường BIÊN GIỚI thuộc
về Trung Hoa , và các đảo thuộc phiá tây, thuộc Việt nam. Tôi lưu ư rằng, Hàn
Niệm Long, thứ trưởng ngỉoại giao Trung cộng, khi mang đoạn Công ước kể trên ra
làm căn bản thương thuyết đă thiếu lương thiện bằng cách bỏ các chữơ FORMANT LA
FRONTIÈRE đi, để biện luận rằng đây là được quản lư hành chánh.
V́ chỉ là đường ranh quản lư mà VC đồng ư với TC, nên cần phải thiết lập một
đường ranh giới chính thức. VC ngày nay nói là căn cứ vào vị trí tự nhiên, điạ
lư và cả nguồn lợi nữa để phân định lănh thổ, không nói ǵ tới đường biện giới
trong vịnh do công ước 1887 qui địng.
V́ nhượng bộ này, mà kết quả toàn bộ của thuơng thuyết đă đảo lộản hết.
Nhân dịp này, tôi cũng muốn nhắc lại những chi tiết về việc Lư hồng Chương xin
với Constans cắt "chút đất" để bù lại v́ Trung Hoa mất hết cả Annam là chư hầu,
khi thương thuyết về hai công ước thi hành Hệp ước Thiên tân. Cuối cùng,
Constans đă chấp thuận nhường a) 3/4 tổng Tụ Long bằng 750 cây số vuông thuộc Hà
giang cho Vân Nam . 100% đất tổng này thuộc về Việt nam, và được biết là nơi đó
có nhiều mỏ đồng. b) Constans c̣n cho thêm một "khu vực của người Annam " (một
túi bọc) nằm trong tỉnh Quảng Đông, đồng thời cắt cả mũi Packlung (nằm đối diện
với giao điểm ranh giới Quảng đông và Móng Cái cho Trung hoa) để thiết lập ra
đường màu đỏ, mà tôi gọi là đường ranh 1887 hay đường ranh Constans , v́ đường
này phải bắt đầu từ mũi Packlung, thay v́ từ giao điểm Móng Cái và Quảng đông
như hiện nay. Trong trường hợp đó, vạch màu đỏ sẽ nằm ở phiá đông của đường ranh
giới 1887, và như thế, Việt nam c̣n được thêm hơn 20 cây số nữa.
Tóm lại, VC đă bí mật nhượng đất liền và một phần đáng kể vùng vịnh Bắc Việt cho
Trung Cộng. Chưa hết, c̣n tài nguyên cũng sẽ được chia cho Trung cộng qua hiệp
ước đánh cá chung trong vùng nam Bạch Long Vĩ và vùng "quá độ" đảo này. Nay mai,
chúng sẽ c̣n hiến dâng tài nguyên khác nằm trong ḷng Vịnh. Đó là chưa nói tới
việc tạo bàn đạp cho ngoại bang có cơ hội thuận tiện khi tiến quân xâm lăng bờ
cơi của chúng ta.
x
x x
Về pháp lư, sự chuyển nhượng được tiết lộ hoàn toàn vô giá trị, v́ các lư do sau
đây:
a) Vi phạm thủ tục công bố qua 4 giai đoạn của một hiệp ước. "Báo cáo đầy đủ qua
các cấp đến Quốc Hội, cơ quan quyền lực cao nhất đồng ư, rồi mới kư kết" và "nhờ
truyền thông quảng bá cho nhân dân biết", không có liên hệ ǵ đến Công Bố một
hiệp ước.
b) Những ǵ được chuyển cho TC hoàn toàn giữ bí mật, ngoaị trừ một số nơi ai
cũng nh́n thấy, và Đảng không thể che dấu được. Đó là Aỉ Nam Quan, Thác Bản Giốc
và Vịnh Bắc Việt. Các tiết lộ này cho thấy rơ âm mưu chuyển nhượng đất đại của
VC cho kẻ thù của dân tộc.
1)Về Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc. Lư do viện dẫn để chấp nhận chuyển nhượng
quanh co, mâu thuẫn, mơ hồ, che dấu, có khi không có giá trị ǵ, lại để lộ bằng
chứng VC có âm mưu, thông đồng với bên đối ước trong việc tẩu tán tài sản quốc
gia.
2) Về Vịnh Bắc Việt: VC đồng lơa với TC bác bỏ đường ranh biên giới do công uớc
1887 thiết lập, và coi đó là đường quản lư hành chánh, để thiết lập đường ranh
giới chính thức. Do đó dễ bề có lư do chuyển nhượng một phần lớn Vịnh cho TC.
Không c̣n cớ nào để biện minh cho việc chuyển nhượng lănh hải, v́ bí quá, VC nêu
cả quyền lợi ra làm cái cớ để thương thuyết. Nhưng, quyền lợi là cái cớ để bảo
vệ, nhưng đây lại là cái cớ để dâng hiến. Thật là nghịch thường.
x
x x
Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lănh Thổ nghiêm khắc đ̣i hỏi :
1) Các cựu TBT VC Đỗ Mười, Lê khả Phiêu và đương kim TBT Nông đức Mạnh, cùng với
Lê đức Anh, Vơ văn Kiệt a) hăy ư thức đến tầm nguy hại lớn lao về việc chuyển
nhượng này, và phải có can đảm nhận lănh trách nhiệm về việc làm phi pháp của
ḿnh; b) tuyên bố Hiệp ước phân định lănh thổ trên đất liền kư năm 1999 là bất
b́nh đẳng, và bất hợp pháp và ngưng thi hành; c) phải tức khắc cho lệnh đ́nh chỉ
việc cắm mốc; d) không tiến hành thủ tục phê chuẩn Hiệp ước phân định biên giới
trên Vịnh Bắc Việt đă kư tháng 12 năm 2000, và ngưng tiến hành Hiệp ước đánh cá
chung và khai thác tài nguyên trong ḷng vịnh.
2) Nguyễn văn An, Trần đức Lương, Phan văn Khải và tất cả các thành viên khác trong Chính trị bộ VC đừng tiếp tay cho các kẻ phạm các trọng tội đối với dân tộc.
3) Thành viên Quốc Hội được VC coi là cơ quan đại diện của nhân
dân, và là cơ quan quyền lực cao nhất phải có hành động tối thiểu để tránh bị
qui kết đồng lơa với tội phạm.
Ủy Ban thiết tha kêu gọi mọi con dân Việt yêu nước, ở trong nuớc cũng như hải
ngoại hợp nhất thành một khối, chống lại bọn thừa sai ngoại bang, phản quốc, sử
dụng các biện pháp khủng bố, trấn áp dân chúng, nhằm thực hiện các âm mưu trong
chủ nghĩa bá quyền truyền thống của Hán tộc. Các hành động của chúng là thực
hiện âm mưu đưa dân tộc Việt đến chỗ diệt vong: Việt nam sẽ trở thành một tỉnh
của Trung Hoa và dân tộc Việt sẽ trở thành một sắc dân thiểu số của nuớc này.
Việc hiến dâng vùng Aỉ Nam Quan có mục đích vô hiệu hoá khu điạ thế hiểm trở đă
giúp dân tộc Việt cản đường tiến quân của Trung Hoa như đă xảy ra trong các cuộc
xâm lăng trước đây. Việc hiến dâng vùng Vịnh Bắc Việt cho Trung Hoa để chúng
dùng làm bàn đạp tiến vào các sông ng̣i trong vùng Bắc Việt, yểm trợ cho mũi
quân tiến bộ. Thật là khủng khiếp!
California ngày 14 tháng 2 năm 2002
Đại diện: GS Nguyễn văn Canh