Trung Quốc - Ý Đồ Xâm Lược Lần Thứ Hai
Ngô Hoàng Minh
Hơn 20 năm trước chiến tranh Việt - Trung đã để lại không biết bao nhiêu tang
thương tại các làng mạc thuộc biên giới phía Bắc. Dù vậy cuộc chiến tranh chống
quân Trung Quốc xâm lược như Hà Nội đã từng công bố và tuyên truyền đã đi vào
quên lãng.

( Hình: Bích chương tuyên truyền cuộc chiến tranh chống Trung Quốc lần thứ nhất
tại Sai-gon)
Ngày hôm nay, những người Cộng Sản Trung Quốc không cần xua xe tăng, đại pháo và
bộ binh để tràn qua biên giới nữa. Trung Quốc chỉ bằng vào miệng lưỡi Tô Tần đã
không đánh mà được thành. Hà Nội qua tập đoàn bán nước là đảng CSVN đã tự nguyện
dâng một phần đất màu mỡ tại biên giới và lãnh hải cho Trung Quốc qua hai văn
kiện ký kết hồi năm 1999 và 2000 vừa qua. Theo cáo giác và công bố của dư luận
quần chúng trong và ngoài nước thì biên giới Việt Trung đã bị lấn hơn 700km, các
di tích lịch sử như Ải Nam Quan, Thác Bản Dốc v.v..., bổng nhiên một sớm một
chiều lọt vào tay người Trung Quốc.
Sự kiện những nhà lãnh đạo đảng CSVN ngang nhiên ký kết các văn kiện bán nước đã
làm phẩn nộ cả một dân tộc. Nhiều tiếng nói từ trong nội bộ đảng CSVN đã lên
tiếng. Nhiều cáo giáo, cảnh báo từ ngoài đảng, trong lẩn ngoài nước đã chất vấn
đảng CSVN. Mới đây, các ký giả quốc tế cũng đã hỏi thẳng nhà cầm quyền CSVN,
phát ngôn viên của Hà Nội bà Phan Thúy Thanh đã trả lời theo kiểu "biết rồi nói
mãi " trong cuộc họp báo như sau: " hai nước đã ký kết dựa trên tinh thần tôn
trọng và bỉnh đẳng lẫn nhau". Trong khi đó theo tin Người Việt, tờ L'Express,
tuần báo lớn ơ? Pháp trong số phát hành ngày 24 tháng 1 năm 2002 với tựa đề "Một
vụ nhượng bổ bỉ ổi" đã nhận định: " Tại vịnh Bắc Bộ, vùng có nhiều tài nguyên
hải sản và dầu khí, có ý nghĩa chiến lược, Hà Nội đã để mất đến 10.000km2, thậm
chí gấp đôi. Theo hiệp nướcPatenotre hồi 1885, Trung Quốc được chia 38% diện
tích của toàn vịnh thì nay họ chiếm đến 47%. Còn việc tranh chấp quần đảo Hoàng
Sa mà Trung Quốc chiếm năm 1974 và quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc chiếm năm
1988 - một vấn đề gai góc giữa hai nước đã bị gác lại do chưa có giải pháp"
Tướng nước Nam dưới triều Lý là Lý Thường Kiệt đã từng mang quân Nam đi đánh
Quảng Đông, quấy rối Quảng Tây và áp lực Quảng Châu. Sự kiện này đã làm vua tôi
Nhà Tống Trung Quốc bấy giờ phải một phen hồn vía lên mây. Năm 1076 quân Tống
quyết định Nam chinh. Đại Tướng Lý Thường Kiệt đã viết bốn câu thơ bất hủ để
động viên tinh thần kháng chiến dân tộc và nhờ đó nước Nam đã chận đứng mộng xâm
lược của nhà Tống.
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Đất nước của người Nam phải do người Nam cai tri.
Điều đó đã do ý trời định. Kẻ nghịch kia dám xâm phạm đất ta,
chỉ là mua lấy sự thất bại mà thôi)
Quân Tống thất bại đành phải rút về và chấp thuận ký các nghị ước giao hảọ Năm
1078, vua Lý Nhân Tông sai sứ đưa voi triều cống và đòi lại được những Châu,
Huyện ở miền Cao Bằng (Quảng Nguyên) đã bi. Tống chiếm giữ. Mùa hạ năm Giáp Tý
(1084) Lý triều lại phái Binh bô. Thi. Lang Lê văn Thịnh (thủ khoa đầu tiên của
nước Việt) sang yêu cầu Tống triều phải phân chia lại địa giới và trả nốt mấy
huyện mà Tống vẫn còn chiếm giữ. Vấn đề phân chia địa giới đối với thời bấy giờ
đáng kể là một việc quan trọng vì đến đời Lý, cương thô? Việt Nam chỉ mới rỏ rệt
về phương Nam vào khoảng Thanh Hóa, cách biệt với đất Chàm do dẫy núi Hoàng Sơn
và về phương Bắc từ Cao Bằng sang Đông. Điạ phận Đông Khê so sánh với ngày xưa
không khác lắm. Từ nơi này ra biển, Bắc ngạn sông Kỳ Cùng thuộc về Tống gồm có
châu Tây Bình, Lộc Châu và huyện Thanh Viễn rồi tới chổ gần bể, lĩnh thô? Việt
Nam còn ăn vào tới tỉnh Quảng Đông đến gần vịnh Khâm Châu.
Dưới các chế độ phong kiến, trải qua nhiều đời Vua, đất nước có lúc mạnh lúc yếu
nhưng người nước Nam chưa bao giờ chịu nhường một tấc đất cho Trung Quốc. Thậm
chí khi thế mạnh còn dám đem quân chinh phạt để đòi lại các lãnh thổ đã bị mất.
Trước khí thế quật cường và không chịu đồng hóa của dân tộc Việt, thiên triều
Tống đã phải ngậm bồ hòn đồng ý đổi nước Nam từng coi như một quận của họ là
Giao Chi? Quận thành một nước có chủ quyền riêng biệt là An Nam Quốc, phong cho
vua Nam là An Nam Quốc Vương năm 1164. (Theo Việt Sư? Toàn Thư của Phạm Văn Sơn)
Năm 1206, Thành Cát Tư Hản đưa vó ngưa. Mông Cổ dẩm nát hơn 1/2 phần đất của thế
giới. Nhiều quốc gia Âu Châu và Á Châu đã bi. Mông Cổ chiếm giữ và cai tri. Cả
một đế quốc Trung Hoa dưới triều Tống cũng bị đại bại và thần phục dưới những
người lính Mông Cổ thiện chiến nhất hoàn cầu. Câu nói nổi tiếng của người Mông
Cổ đã được thế giới chứng nghiệm. "Nơi nào vó ngựa quân Mông Cổ đi qua thì cỏ
cây cũng hết sống".
Vậy mà vó ngưa. Mông Cổ đã bị đại bại dưới lòng can đảm và tài dụng binh có một
không hai của quân Tướng nước Nam. Gần 30 năm liên tục , không chỉ đem quân có
một lần, mà ba lần vượt biên giới Trung Viêt, ba lần quân nhà Nguyên (Mông Cổ)
đã phải ôm đầu máu chạy dài. Từ Thoát Hoan, Toa Đô cho đến Ô Mã Nhi, danh tướng
nhưng trở thành bại tướng, quân Mông Cổ, đoàn quân chưa bao giờ bại trận đã
kiêng phục và đại bại trước lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc Việt.
Cũng giống như một số lãnh đạo đảng CSVN hiện nay. Thời nào, thì đất nưóc cũng
có những người con bội phản tổ quốc. Thời đó, khi vua tôi nhà Trần lo chống đở
ngoại xâm, thì Trần ích Tắc, cùng một số vương tôn tham sống sợ chết cũng đã
dâng đất xin hàng. May lắm thay, Việt Nam nhờ có một Trần Hưng Đạo, bách chiến
bách thắng, nhờ có một Trần Thu? Độ một lòng báo quốc tận trung, đã nói câu nói
để đời trong lịch sư? Việt: "Đầu hạ thần chưa rơi xuống đất thì xin bệ hạ đừng
lo". Đọc sử sách gần 1000 năm trước mà rơi nước mắt. Ngày nay, địch chưa đánh
thì vua tôi CSVN đã hai tay, qùi gối ký văn kiện bán nước, xin nhường đất. Cả
một giải biên giới mênh mông, non sông gấm vóc của tổ tiên với nhiều di tích
lịch sữ đã biến mất trên bản đồ địa lý Việt Nam. Ai sẽ là một Lý Thường Kiệt,
Trần Hưng Đạo tân thời để trong nước thì dẹp lũ mãi quốc cầu vinh, ngoài nước
thì đòi lại đất đã và đang bị ngoại bang xâm chiếm? Ai sẽ trả lại cho dân tộc
Việt câu thuộc lòng lịch sử "Nước Việt Nam ta từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau".
Những nhà lãnh đạo đảng CSVN mắc một chứng bệnh mộng tưởng chính trị. Họ vẫn
thường cho là đất nước Việt Nam thuộc quyền sở hửu riêng của họ. Vì vậy, họ có
độc quyền sang nhượng, ký kết các vùng biển, hải đảo cho các giới thương gia
quốc tế hơn hàng chục năm để mang lại lợi nhuận riêng cho Đảng. Vì an toàn bản
thân và vì các mưu đồ chính trị hèn hạ khác, họ sẳn sàng nhượng đất cho ngoại
bang để giữ vững vị thế lãnh đạo. Điều 4 Hiến Pháp của CSVN đã cho phép và đã
thể hiện toàn bộ căn bệnh mộng tưởng ấy. Chưa hết, điều 17 trong Hiến Pháp còn
qui định rõ về quyền làm chủ của Đảng CSVN trên các tài nguyên quốc gia. Điều
này ghi như sau:" Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng
đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục điạ và vùng trời, phần vốn và tài sản do
Nhà Nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các nghành và lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng
các tài sản khác mà pháp luật qui định là của Nhà nước, đều thuộc sở hửu của
toàn dân." Sợ còn chưa hết ý nghĩa, trong điều 18 đã được nhắc lại cho rõ: " Nhà
nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật.... Nhà nước
giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dàị.."
Một mặc công nhận các quyền trên thuộc Nhà Nước và sở hửu của toàn dân, nhưng
mặc khác thi minh thi quyền của Đảng có tính cách tối thượng. Điều 4 Hiến Pháp
đã nói lên bản chất của chế độ, vì đã khẳng định vai trò chủ nhân ông duy nhất
của đảng CSVN trên toàn bộ cơ chế chính trị, xã hội của Việt Nam kể cả các chủ
thể do CSVN đặt ra như Nhà Nước, Quốc Hội v.v.... Điều 4 đã khẳng quyết rất rõ,
không mập mờ, không che đậy bản chất gì cả: " Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo
(duy nhất) Nhà nước và xã hộị.."
Như vậy, điều 4 đã bao trùm toàn bộ căn bản pháp lý cho phép đảng CSVN, với danh
nghĩa lưc lượng lãnh đạo Nhà Nước (duy nhất) để ký kết các văn kiện bán nước, ký
kết các văn kiện chuyển nhượng đất đai để làm giàu cho ngân qủy kinh tài. Ngày
nào điều 4 còn hiện hữu trong bản Hiến Pháp của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, ngày đó đảng CSVN còn có thẩm quyền nhân danh Việt Nam để ký kết thêm các
văn kiện bán nước, các giao dịch chuyển nhượng đất đai khác nữa.
Trong bối cảnh chính trị trên, đốn ngã điều 4 là đốn ngã vị trí hợp hiến và lực
lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước. Tạo điều kiện chiến thuật cho Quốc Hội (bù
nhìn) và các chủ thể khác như Nhà nước (bù nhìn) được nâng cấp và bình đẳng về
mặt chính trị với đảng CSVN. Vì vậy, đảng CSVN mất vị thế đơn phương là đại diện
duy nhất của Việt Nam khi ký kết các văn kiện có tầm vóc liên hệ đến chủ quyền
quốc gia. Các văn kiện đã ký kết trước kia nhân danh Đảng, vô hình chung bị giãm
giá trị pháp lý. Trên căn bản có cơ sở để phủ nhận những văn kiện bán nước, Việt
Nam và Chính Quyền Tư. Do Dân Chủ trong tương lai có đủ thẩm quyền và tư thế để
biện minh cho tính vô lý của các văn kiện trên về mặt công ước quốc tế.
Đốn ngã điều 4 cũng tạo điều kiện và cơ hội cho các tiếng nói đối lập, các tổ
chức không trực thuộc quyền kiểm soát của đảng và nhà nước xuất hiện hợp pháp và
hợp hiến để công khai hoá các áp lực đấu tranh. Nói một cách bạch hoá, đòi huỷ
bỏ điều 4 chính là đòi công khai hóa và hợp thức hóa vị trí của đối lập, đối
trọng về mặt chính trị. Có sự hiện diện của nhiều tiếng nói đối lập, đảng CSVN
có muốn bán nước cũng không đủ tư cách và vị thế để bán nước thêm lần nữa. Tính
công khai về mặt chính trị dù không đủ mạnh để áp lực chế độ, nhưng đủ vị trí để
làm các thế lực độc tài, bạo quyền phải e dè, cân nhắc trước khi có các quyết
định quan trọng.
Ông Nguyễn Kiến Giang trong tiểu luận bàn về tính bí mật và công khai khi phân
tích về bản chất của tính này đối với chế độ cực quyền đã nhận xét chính xác:
"tính công khai đụng tới tất cả các mặt của đời sống, không có ngoại lệ...chẳng
hạn quốc phòng và an ninh là những lãnh vực có nhiều bí mật nhất, những vẫn
không phải là khu vực bí mật tuyệt đốị..".Tính công khai sẽ đụng đến các vấn đề
sau: "Đánh giá sự thật của các mặt đời sống xã hội, những mặt tích cực cũng như
tiêu cực; Chuẩn bị và thông qua những quyết định quan trọng, có liên quan đến
lợi ích của nhân dân; Lựa chọn người vào các chức vụ quan trọng trong bộ máy của
đảng và nhà nước, trước hết là các cơ quan được bầụ.."
Nhiều người vẫn cho là bản Hiến Pháp của CSVN chỉ là miếng giấy không hơn không
kém, vì vậy không cần phải đặt vấn đề thay điều này, sửa điều nọ cho mất thời
giờ. Phải xoá bỏ toàn bộ bản Hiến Pháp trên thì mới giải quyết rốt ráo vấn nạn
Việt Nam. Điều này trên thực tế, chỉ có thể phù hợp đối với những người đang đấu
tranh an toàn tại hải ngoại, đã không hoặc chưa bao giờ bị áp lực của chế độ khi
phải đương đầu với các điều khoản, hoặc cơ chế của Hiến Pháp CS ngay tại Việt
Nam. Hảy cứ thử đi về trong nước, hảy cứ thử xin giấy chiếu khán, hảy cứ thử làm
thủ tục xuất nhập khẩu, hảy cứ thử chuyển giao tài liệu quốc cấm, hảy cứ thử
liên hệ với các thành phần phản kháng, hảy cứ thử đừng ra nước ngoài để công
khai lên tiếng chống lại chế độ, hảy cứ thử đặt mình trong hoàn cảnh của các
nhân vật đối lập quả cảm .... Có như vậy, thì chúng ta mới hiểu được nổi khó của
những người đấu tranh trong và ngoài nước đã và đang bị áp lực của cái gọi là
Hiến Pháp CSVN như thế nào. Và phải hiểu tại sao một cá nhân không tất sắt trong
tay, lại mạnh miệng đòi hủy bỏ toàn bộ bản Hiến Pháp, trong khi nhiều đoàn thể,
nhiều tập hợp, có nhiều nhân sự, nhiều phương tiện lại chủ trương đấu tranh tiệm
tiến.
Vấn nạn của chúng ta là bằng cách nào để xóa bỏ hiệu quả toàn bộ bản Hiến Pháp
của CSVN, dựa vào căn bản của yếu tố nàỏ tiền của nàỏ người nàỏ, lãnh tụ nàỏ lực
lượng nàọ... Thực tế đấu tranh lúc nào cũng khắc nghiệt và nhiều khi đối chọi
lại với ao ước. Bản Hiến Pháp 1992 của CSVN vẫn có giá trị để đảng CSVN đại diện
Việt Nam ký kết các văn kiện bán nước cho dù chúng ta chấp nhận hay không. Bản
Hiến Pháp trên cũng vẫn mang đầy đủ áp lực và hiệu lực để bóp chặt các tiếng nói
đối lập đang hoạt động nguy hiểm trong nước, để trấn áp các hoạt động bí mật và
công khai đang tìm cách đẩy chế độ đi bên lề lịch sử. Bản Hiến Pháp này với các
điều khoản vô lý chính là cái vòng kim cô thắt chặt lên đầu của hơn 75 triệu
nhân dân Việt Nam. Không ai muốn mang nó, và cũng không ai chấp nhận nó cả. Tuy
nhiên, phải vất bỏ nó ngay lập tức thì chúng ta chưa đủ pháp thuật thần thông.
Trong hoàn cảnh hiện tại, mọi pháp thuật nhằm làm giảm giá trị bản Hiếp Pháp
1992, làm thay đổi một cách tiệm tiến để có lợi cho tiến trình dân chủ, làm vô
hiệu hoá từng điều khoản vô lý để phủ nhận vai trò lãnh đạo đảng CSVN, để bác bỏ
tính hợp hiến của chế độ trong việc ký kết các văn kiện bán nước đều cần thiết,
cấp bách và cần được tiếp trợ. Nhờ vậy, vòng kim cô trên đầu dân tộc Việt mới
mỗi lúc một mất đi sức mạnh để cho tiến trình dân chủ hoá sớm được thành hình
Ngô Hoàng Minh