Tạp chí Tư Tưởng Văn Hóa S.3, 2001
Về
việc ký hiệp định phân định vịnh bắc bộ và hiệp định hợp tác nghề cá
giữa Việt Nam và Trung quốc
Ngày 25 tháng 12 năm 2000,
tại Bắc Kinh Trung Quốc, Chính phủ Cộng hoà Xã hội chủ nghia Việt Nam và Cộng
hoà Nhân dân Trung Hoa đã ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp
tác nghề cá giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ. Theo yêu cầu của
bạn đọc, Tạp chí (Tư
Tưởng Văn Hóa S.3, 2001) tóm tắt sự kiện này như
sau:
A. Về Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ:
Vịnh Bắc Bộ có diện tích 126.250km2, chiều
ngang nơi rộng nhất khoảng 310km và nơi hẹp nhất khoảng 220km. Khác với biên
giới trên bộ, đuờng ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc từ trước
đến nay chưa được xác định. Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền Pháp và nhà
Thanh mới thoả thuận lấy đuờng kinh tuyến Paris 105 độ 04 3 Đông (kinh tuyến
Greenwich 108 độ 03 13” Đông) để quy thuộc chủ quyền của các đảo ở khu vực sát
cửa sông Bắc Luân.
Do đặc thù của Vịnh chưa phân định, nên toàn bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng luôn xảy
ra các tranh chấp giữa ta và Trung Quốc, nhất là về thăm dò tài nguyên dầu khí
và về đánh cá. Do đó, rất cần đàm phán để ký kết Hiệp định phân định giữa hai
nước. Vào những năm 70, ta và Trung Quốc đã có hai cuộc đàm phán về vấn đề
phân định Vịnh Bắc Bộ (vào năm 1974 và 1977 - 1978), nhưng chưa có kết quả.
Sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ, hai Đảng, hai nước đã quyết định
giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh
Bắc Bộ. Với chủ trương đó, ngày 19-10-1993 hai bên đã ký “Thoả thuận về những
nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghia Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”, trong đó quy định về
Vịnh Bắc Bộ là “Hai bên sẽ áp dụng luật quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế
theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh để đi
đến một giải pháp công bằng”. Từ đó đến nay, vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ đã
đuợc hai bên bàn bạc tại 7 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai
Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ, 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên và một số
vòng họp không chính thức giữa các chuyên viên phân định.
- Vào năm 1997, nhân dịp đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Trung Quốc và tháng
2-1999, nhân dịp đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm Trung Quốc, lãnh đạo
cao nhất của hai Đảng, hai nước đã thỏathuận tích cực thúc đẩy đàm phán để
hoàn thành việc phân định và ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm
2000.
- Trong quá trình đàm phán, hai bên đã căn cứ vào Công ước năm 1982 của Liên
hợp quốc về Luật biển, các nguyên tắc luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế
đuợc công nhận, cũng như tính đến các hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ,
thương lượng hữu nghị để giải quyết vấn đề một cách công bằng, hợp lý. Dưới sự
chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị và Chính phủ hai nước, cuối năm 2000 hai bên
đã hoàn thành việc phân định dẫn đến việc ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ
vừa qua.
- Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ là hiệp định phân định mang tính tổng hợp.
Xác định rõ biên giới lãnh hải của hai nước ở ngoài cửa sông Bắc Luân, cũng
như giới hạn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta và Trung Quốc ở
trong Vịnh Bắc Bộ. Về diện tích tổng thể, tính theo mực nước trung bình thì ta
đuợc 53,23%, Trung Quốc đuợc 46,77% diện tích Vịnh. Đuờng phân định cách đảo
Bạch Long Vi 15 hải lý (về phía bờ đảo Hải Nam). Đuờng đóng cửa Vịnh nối mui
Oanh Ca của Trung Quốc, qua đảo Cồn Cỏ đến bờ biển của Việt Nam. Hiệp định đã
khẳng định nghia vụ của hai bên tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền
tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
của mình theo đuờng phân định. Các trường hợp đuờng phân định đi qua các cấu
tạo địa chất có khả năng có dầu khí thì hai bên đã thoả thuận sau này nếu phát
hiện thấy dầu khí sẽ hợp tác phân chia lợi ích một cách công bằng khi khai
thác.
B. Về Hiệp định hợp tác nghề cá ở trong Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc:
Vào các năm 1957, 1961 và 1963, ta và Trung Quốc ký các thoả thuận cho phép
tàu thuyền đánh cá của hai bên đuợc đánh cá chung trong Vịnh ngoài phạm vi
tương ứng 3 hải lý, 6 hải lý và 12 hải lý tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên.
Các thoả thuận này hết hiệu lực vào đầu những năm 70. Trong quá trình đàm phán
về phân định, phía Trung Quốc kiên trì đề nghị lập vùng đánh cá chung đồng
thời với việc phân định Vịnh. Nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho việc giải
quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía cạnh trong quan hệ
hai nước, luật pháp và thực tiễn quốc tế (gần ta nhất là thực tiễn ký Hiệp
định vùng đánh cá chung giữa Trung Quốc và Nhật Bản, giữa úc và
In-đô-nê-xi-a), ta đã đồng ý mở các cuộc đàm phán riêng về vấn đề hợp tác nghề
cá giữa hai nước ở trong Vịnh Bắc Bộ từ tháng 2/2000. Tháng 9/2000, nhân
chuyến thăm làm việc của Thủ tướng ta tại Trung Quốc, lãnh đạo cấp cao hai
nước khẳng định ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định nghề cá trong
Vịnh Bắc Bộ vào cuối năm 2000.
- Qua 6 vòng đàm phán, hai bên đã thống nhất Hiệp định về hợp tác nghề cá,
trong đó nội dung chính là lập vùng đánh cá chung noi tàu thuyền của cả hai
bên đều đuợc đánh bắt theo quy định của Uỷ ban Liên hợp về nghề cá: Vùng đánh
cá chung này nằm ở Nam vi tuyến 20 (phía Nam đảo Bạch Long Vi), có bề rộng là
30,5 hải lý kể từ đuờng phân định về mỗi phía và có tổng diện tích 33.500km2,
tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm.
Sau đó, việc hợp tác tiếp tục như thế nào là tuỳ hai bên hiệp thương thoả
thuận. Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là: vùng đặc quyền kinh tế của
nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát các tàu cá đuợc phép vào
vùng đánh cá chung; sản lượng và số tàu thuyền đuợc phép vào vùng đánh cá
chung là dựa trên nguyên tắc bình đẳng căn cứ vào sản lượng đuợc phép đánh
bắt, xác định thông qua điều tra liên hợp định ký; mỗi bên đều có quyền liên
doanh hợp tác đánh cá với nước thứ ba theo các quy định cụ thể của Hiệp định.
- Xuất phát từ tình hình đánh bắt của ngư dân Trung Quốc, hai bên đã đồng ý về
dàn xếp quá độ trong vùng đặc quyền kinh tế của mỗi bên nằm ở phía Bắc vi
tuyến 20 cho phép tàu thuyền hai bên đuợc tiếp tục hoạt động nghề cá trong
thời hạn là 4 năm tại khu vực này. Còn ở phía biển sát cửa sông Bắc Luân, hai
bên đồng ý lập một khu đệm dài 10 hải lý và rộng 6 hải lý (3 hải lý về mỗi
phía kể từ đuờng biên giới lãnh hải) nhằm tạo thuận lợi cho việc ra vào của
tàu thuyền hai bên.
C. Việc ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá
giữa Việt Nam và Trung Quốc là sự kiện quan trọng đối với nước ta cũng như
quan hệ Việt - Trung:
Với việc ký Hiệp định phân định, ta đã giải quyết dứt điểm đuợc vấn đề thứ hai
trong ba vấn đề biên giới, lãnh thổ tồn tại lâu nay với Trung Quốc (biên giới
trên bộ, Vịnh Bắc Bộ và Biển Đông). Việc phân định một cách rõ ràng biên giới
lãnh hải phía ngoài cửa sông Bắc Luân, phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa của hai nước trong Vịnh sẽ tạo thuận lợi cho vệc quản lý và duy trì ổn
định ở trong Vịnh, góp phần tăng cuờng sự tin cậy giữa hai bên, thúc đẩy quan
hệ hợp tác mọi mặt giữa hai nước.
Tiếp theo việc ký Hiệp ước và giải quyết vấn đề biên giới với Lào, phân định
vùng biển với Thái Lan, đang tích cực giải quyết một số vấn đề còn lại về biên
giới trên đất liền và đi tới giải quyết vấn đề trên biển với Cam-pu-chia, giải
quyết vùng chồng lấn với In-đô-nê-xi-a và đặc biệt là việc ký Hiệp ước biên
giới trên đất liền giữa ta và Trung Quốc năm 1999, việc ký các Hiệp định phân
định và hợp tác nghề cá ở trong Vịnh Bắc Bộ là bước tiến mới quan trọng trong
việc xây dựng môi trường hoà bình, ổn định xung quanh nước ta, tạo điều kiện
cho chúng ta tập trung sức lực vào việc xây dựng và phát triển đất nước.
Việc hai nước Việt Nam - Trung Quốc hoàn thành giải quyết vấn đề phân định
Vịnh Bắc Bộ góp phần tích cực vào việc củng cố hoà bình và ổn định ở khu vực.