|
Cuộc tranh chấp về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa đă kéo
dài hơn bốn chục năm rồị Ngoại trừ trận đụng độ lớn giữa hải quân Việt Nam
Cộng ḥa và hải quân Trung Cộng tại quần đảo Hoàng sa ngày 19 và 20 tháng 1
năm 1974, trong đó Trung Cộng với một lực lượng lớn hơn lại không bị phân
tán cũng như suy yếu v́ nội chiến nên đă cưỡng chiếm được quần đảo này, và
một trận nổ súng nhỏ ngày 14.3.1988 tại vùng quần đảo Trường sa giữa hải
quân của hai nước cộng sản Việt Nam và Trung Hoa, phần nhiều sự tranh chấp
đều diễn ra dưới h́nh thức tranh biện qua các lời tuyên bố, thông cáo, văn
thư hay bạchổ thư của các chính phủ Việt Nam và Trung Hoa thuộc cả hai phe
quốc gia và cộng sản. Ngoài ra, c̣n có nhiều bài báo, biên khảo hay sách
viết về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa của một số
học giả, nhà văn, nhà báo hai bên nữạ
Để biện minh hành động xâm lăng của ḿnh năm 1974 trái với tinh thần của bản
Hiến chương Liên hiệp quốc mà Trung Cộng từ khi gia nhập vào tháng 10 năm
1971 đă cam kết tôn trọng và bảo vệ,
Trung Cộng đă nại cớ hai quần đảo Hoàng sa (hay là Tây sa trong từ ngữ Trung
Hoa) và Trường sa (Trung Hoa gọi là Nam sa) vốn từ lâu là một phần lănh thổ
của Trung quốc nhưng đă bị Nhật bản xâm chiếm trong Thế chiến II và đă được
chính phủ Trung Hoa Dân quốc thu hồi lại năm 1946, sau khi trận chiến này
chấm dứt. Trung Hoa Dân quốc cũng đă phụ họa sự biện minh nàỵ Các luận cứ
của Trung Cộng c̣n được nhiều tài liệu ngoại quốc nhắc đi nhắc lạị
Trong bài này chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét về các luận cứ của các giới
trong chính phủ Trung Hoa, quốc gia lẫn cộng sản, đă cố gắng chứng minh chủ
quyền của Trung quốc trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sạ Tuy các phe
tranh chấp gồm có Việt Nam (trước là Việt Nam Cộng ḥa, sau là Cộng ḥa Xă
hội Chủ nghĩa Việt Nam), Trung quốc (cả Trung Hoa Dân quốc lẫn Trung
Hoa Nhân dân Cộng ḥa quốc), Phi luật tân, và gần đây lại c̣n thêm cả Mă lai
á, Brunei, v.v..., nhưng hai phe tranh chấp chính là Việt Nam và Trung Hoạ
Chúng tôi không nghiên cứu luận cứ của Việt Nam v́ nhiều người đă làm việc
này rồi, Trái lại, chúng tôi chỉ cứu xét luận cứ của Trung quốc thôi, v́
ngoài lư do Trung quốc là một trong hai phe tranh chấp chính ra mà c̣n v́ lư
do là dù là quốc gia hay cộng sản, Trung quốc vẫn có một ảnh hưởng và một
thế lực quan trọng tại Đông nam Á châụ
Mặt khác, chúng tôi cũng giới hạn thời gian nghiên cứu vào từ sau trận Thế
chiến thứ II trở lại đây thôi, không đề cập tới thời gian trước đó. Chỉ từ
khi vấn đề Hoàng sa và Trường sa được đề cập tới trong một hiệp ước quốc tế,
Hoà ước Cựu kim Sơn kư ngày 8 tháng 9 năm 1951, nhất là từ khi người ta t́m
thấy có nhiều túi dầu rất quan trọng ở trong vùng này, sự tranh chấp chủ
quyền mới trở nên ngày một mạnh. Thêm vào đó là biến cố Đảng Cộng sản Trung
quốc nắm được chính quyền ở Hoa lục ngày 1.10.1949, đă làm sôi động chính
trường quốc tế, nhất là ở vùng Đông Á và Đông nam Á châu, từ thập niên 1950
trở đị
Sau hết, bài này chỉ cứu xét các luận cứ chính thức của cả hai chính phủ
Trung Cộng và Đài loan thôị Luận cứ của các nhân vật hay cơ quan ngoài chính
quyền sẽ là đối tượng của một bài nghiên cứu khác.
Các tài liệu sử dụng trong bài này nếu là của chính phủ đều phát xuất từ Bắc
kinh hay Đài bắc. Nếu có nguyên bản Hoa văn th́ chúng tôi dùng làm tài liệu
chính; nếu không, chúng tôi dùng bản dịchổ Anh ngữ cũng của hai chính phủ
đó. Trong trường hợp không có hai loại tài liệu này, chúng tôi căn cứ vào
bản dịchổ Anh ngữ của nhiều nguồn khác, nhất là của Ṭa Tổng Lănh sự Hoa kỳ
tại Hương cảng (như các nhà nghiên cứu các vấn đề Hoa lục đă dùng trước năm
1971) hay của các đài phát thanh Hoa kỳ, Anh quốc,
v.v...
V́ sử dụng các tài liệu thuộc nhiều loại khác nhau như vậy nên không có sự
thuần nhất trong việc ghi chép nhiều địa danh và đặc biệt là nhân danh Trung
Hoạ Chúng tôi cố gắng ghi các từ đó bằng Việt ngữ. Tuy nhiên khi không biết
rơ một từ viết bằng Hoa ngữ như thế nào, chúng tôi sẽ không ghi bằng Việt
ngữ v́ sợ có thể ghi sai và bắt buộc giữ lại lối ghi âm trong tài liệu mà
chúng tôi dùng. Lối ghi âm này có khi là bằng pinyin (phan âm) được dùng ở
Hoa lục hay trong các tài liệu của các người hay cơ quan ngoại quốc biên
soạn từ thập niên 1980 trở đi, hoặc bằng phương pháp Wade Giles hiện vẫn
được dùng trong phần lớn các tài liệu phát xuất từ Đài loan hoặc của các
tác giả thuộc phe Trung Hoa Dân quốc cũng như trong các tài liệu ngoại quốc
trước thập niên 1980.
Ngoài ra, có một số danh từ riêng hay địa danh mà người Trung Hoa dùng khác
người Việt Nam. Trong tài liệu này, khi đứng về phương diện Trung quốc,
chúng tôi sẽ dùng các từ theo lối của người Hoa, c̣n khi đứng về phương diện
Việt Nam chúng tôi dùng các từ theo người Việt.
Chẳng hạn người Hoa nói Tây sa, Nam sa, Nam hải (hay Nam Trung quốc hải),
Quốc vụ Viện (Trung Cộng), Hành chính Viện (Đài loan), v.v..., c̣n người
Việt lại nói Hoàng sa, Trường sa, Đông hải (hay
biển Đông), Chính phủ...
oOo
Nhận xét về các luận cứ
Luận cứ của các chính phủ Trung Hoa Dân quốc (gọi tắt là Đài loan) và Trung
Hoa Nhân dân Cộng ḥa quốc (tức Trung Cộng) thường được phát biểu những khi
có một biến cố hay sự việc nào có liên quan tới vấn đề chủ quyền trên hai
quần đảo Hoàng sa và Trường sạ
Ị Phản ứng đối với lời tuyên bố của Tổng thống Phi luật tân Quirino (1951)
Năm 1945 Nhật bản bị các nước Đồng minh đánh bại ở Thái b́nh dương phải đầu
hàng. Một trong những việc nước này phải làm khi đầu hàng là từ bỏ các đất
đai ở ngoại quốc mà Nhật bản đă chiếm được trong thời kỳ toàn thịnh của chế
độ quân phiệt, trong đó có hai quần đảo Hoàng sa và Trường sạ Bốn năm sau,
Đảng Cộng sản Trung quốc chiếm được toàn thể Hoa lục và Trung Hoa Nhân dân
Cộng ḥa quốc ra chào đời ngày 1.10.1949, c̣n chính phủ Trung Hoa Dân quốc
phải lánh nạn sang Đài loan. Với hai biến cố trọng đại này vấn đề tranh chấp
chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa bắt đầu bước vào giai đoạn
mới.
Lần đầu tiên Trung
Cộng chính thức lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo này là khi
trong một cuộc họp báo ở Manila ngày 17.5.1951 Tổng thống Phi luật tân
Quirino đă tuyên bố là v́ quần đảo Trường sa ở kế cận quần đảo Phi luật tân
nên nó phải thuộc về Phi luật tân. Hai ngày sau, ngày 19 tháng 5, Bắc kinh
đă có phản ứng. Chính phủ Trung Cộng tuyên bố như sau:
"Lời tuyên truyền vô
lư của Chính phủ Phi luật tân đối với lănh thổ của Trung quốc rơ ràng là sản
phẩm chỉ thị của Chính phủ Hoa kỳ. Bọn khiêu khíchổ Phi luật tân và những k
Hoa kỳ ủng hộ chúng phải bỏ ngay mưu đồ mạo hiểm đó đi, nếu không th́ hành
động này có thể đưa tới những hậu quả nghiêm trọng. Nước Cộng ḥa Nhân dân
Trung Hoa không bao giờ để cho bất cứ một ngoại bang nào xâm lược quần đảo
Nam sa hay bất cứ đất đai nào khác thuộc về Trung quốc."(1)
Tuy nhiên Trung Cộng chỉ nói qua loa như vậy thôi chứ không đưa ra được một
bằng chứng nào, dù là lịch sử hay pháp lư, cho thấy Trường sa thuộc quyền
Trung Hoa làm chủ. Sự thiếu sót này kéo dài cho tới hiện tạị
IỊ Dịp có Hoà hội Cựu
kim sơn (1951)
Đến đầu tháng 9 năm 1951, theo lời mời của Chính phủ Hoa kỳ, năm mươi mốt
quốc gia trước kia đă từng tham gia hay có liên hệ tới cuộc chiến chống xâm
lăng Nhật bản từ năm 1939 đến năm 1945 đă tham dự Hội nghị Hoà b́nh nhóm họp
ở Cựu kim Sơn (Hoa kỳ) để thảo luận vấn đề chấm dứt t́nh trạng chiến tranh
và tái lập bang giao với Nhật bản. Điểm đáng chú ư là cả hai phe Quốc gia và
Cộng sản Trung Hoa đều không được mời tham dự hội nghị. Trong hội nghị, vấn
đề chính là thảo luận bản dự thảo ḥa ước do hai nước Anh và Hoa kỳ đề nghị
ngày 12.7.1951. Ngày 8.9.1951, ngoại trừ Liên sô và một số nước đàn em, các
nước tham dự hội nghị đă kư ḥa ước với Nhật bản(2).
V́ thấy ḿnh bị Hoa kỳ gạt ra ngoài hoà hội, các nhà lănh đạo Bắc kinh, ngay
từ cuối năm 1950, đă có phản ứng. Một mặt họ ra một số tuyên bố chính thức,
mặt khác họ cho phép đăng các bài báo để lên án việc không mời Trung Cộng
tham dự hoà hội và để tŕnh bày quan điểm của Bắc kinh về một số vấn đề cần
phải được thảo luận, trong đó có vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng sa và
Trường sạ V́ giới hạn của đề tài, ở đây chúng ta chỉ xét tới các luận cứ của
chính phủ Trung Cộng đối với vấn đề chủ quyền này thôị
Ngày 4.12.1950 Châu Ân lai, lúc đó là Bộ trưởng Ngoại giao, trong bản tuyên
bố đầu tiên của chế độ, đă nêu ra căn bản chính để kư một hoà ước với Nhật
bản:
"Bản Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản Tuyên ngôn Potsdam và các chính
sách căn bản đối với Nhật bản sau khi nước này đầu hàng đă được các quốc gia
trong y hội Vin đông thỏa thuận và thông qua ngày 19.6.1947 các văn kiện
quốc tế mà Chính phủ Hoa kỳ đă kư két là căn bản chính cho một ḥa ước liên
hợp với Nhật bản."(3)
Châu Ân lai c̣n nói thêm:
"Nhân dân Trung quốc rất ước muốn sớm có một hoà ước liên hợp với Nhật bản
cùng với các quốc gia đồng minh khác trong thời kỳ Thế chiến thứ haị Tuy
nhiên căn bản của hoà ước phải hoàn toàn thíchhợp với bản Tuyên cáo Cairo,
Thỏa ước Yalta, bản Tuyên ngôn Potsdam và các chính sách căn bản đối với
Nhật bản sau khi nước này đầu hàng được qui định trong các văn kiện nàỵ"(4)
Tuy bản tuyên bố trên của Trung Cộng không đề cập đến vấn đề chủ quyền đối
với Hoàng sa và Trường sa mà chỉ đề cập tới các vấn đề khác, nhưng v́ nó đă
nêu ra quan điểm chính yếu của Bắc kinh nên chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ
nó cùng với bản tuyên bố ngày 15.8.1951 là tuyên bố chính thức của Bắc
kinh về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa để t́m hiểu
giá trị các luận cứ của Trung Cộng.
Thực vậy, khi nghiên cứu dự thảo hoà ước Cựu kim sơn của Anh Mỹ gửi cho các
quốc gia được mời tham dự hoà hội, Chính phủ Trung Cộng thấy điều 2 của bản
dự thảo này không qui định là hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa mà Nhật bản
từ bỏ phải dược trao cho quốc gia nàọ V́ thế ngày 15.8.1951, sau khi đề cập
tới quan điểm của Trung Cộng về từng vấn đề một được nêu trong bản dự
thảo(5), Châu Ân lai đă tuyên bố:
"... Dự thảo Hiệp ước qui định là Nhật bản sẽ từ bỏ mọi quyền đối với đảo
Nam uy (đảo Spratly) và quần đảo Tây sa (quần đảo Paracel), nhưng lại cố ư
không đề cập tới vấn đề tái lập chủ quyền trên hai quần đảo nàỵ Thực ra,
cũng như các quần đảo Nam sa, quần đảo Trung sa và quần đảo Đông sa, quần
đảo Tây sa (quần đảo Paracel) và đảo Nam uy (đảo Spratly) lúc nào cũng là
lănh thổ của Trung quốc. Dù các đảo này đă có lúc bị Nhật bản chiếm đóng
trong một thời gian trong trận chiến tranh xâm lăng do đế quốc Nhật bản gây
ra, sau khi Nhật bản đầu hàng Chính phủ Trung Hoa đă thu hồi những đảo nàỵ
"Chính phủ Nhân dân Trung ương nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa do đó tuyên
bố: dù Dự thảo Hiệp ước Anh Mỹ có chứa đựng các điều khoản về vấn đề này hay
không và dù các điều khoản này có được soạn thảo như thế nào, chủ quyền bất
khả xâm phạm của nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa trên đảo Nam uy (đảo
Spratly) và quần đảo Tây sa (quần đảo Paracel) sẽ không v́ thế mà bị ảnh
hưởng."(6)
Họ Châu sau đó kết luận vấn đề này bằng Cách phủ nhận giá trị bất cứ một
thỏa ước nào kư với Nhật bản mà không có sự tham dự của Bắc kinh:
"Chính phủ Nhân dân Trung ương nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa một lần nữa
tuyên bố: Nếu không có sự tham dự của nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa trong
việc chun bị, soạn thảo và kư ḥa ước với Nhật bản dù nội dung và kết quả
một hiệp ước như vậy có như thế nào, Chính phủ Nhân dân Trung ương cũng coi
ḥa ước ấy hoàn toàn bất hợp pháp, và v́ vậy sẽ vô hiệụ"(7)
Tuy rằng lời kết luận này nhằm chung toàn thể ḥa ước với Nhật bản, nó cũng
bao trùm luôn cả vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sạ
Trong bản tuyên bố
này chúng ta nhận thấy có những điểm đáng chú ư sau:
Thứ nhất, tuy tuyên bố là đảo Nam uy và quần đảo Hoàng sa lúc nào cũng là
lănh thổ của Trung quốc, Châu Ân lai lại không nêu ra một chi tiết nào để
chứng minh chủ quyền của Trung quốc đối với các đảo nàỵ
Đành rằng trong một bản tuyên bố chính thức của chính phủ không thể nào kể
hết mọi chi tiết hay dẫn chứng, nhưng ít nhất nó cũng phải nêu ra một vài
thí dụ cụ thể để h trợ lời tuyên bố và để giúp người ngoại cuộc có thể hiểu
rơ một Cách kháchổ quan hơn những điều được tŕnh bày trong bản tuyên bố.
Làm thế nào người ngoại cuộc có thể thông cảm và ủng hộ lời tuyên bố nếu nó
không mang một chi tiết nào, dù là nhỏ nhất, để giúp người ngoại cuộc có thể
kiểm chứng tính Cách xác thực và chân thực của lời tuyên bố? Nếu tuyên bố
chỉ để tuyên bố th́ lời tuyên bố rất yếụ Chúng ta cũng nên biết rằng trong
bản tuyên bố này khi đề cập đến các vấn đề khác họ Châu đă nêu nhiều chi
tiết để chứng minh hay biện hộ.
V́ vậy sự không dẫn chứng của Châu Ân lai đối với vấn đề chủ quyền trên hai
quần đảo Hoàng sa và Trường sa thật đáng cho chúng ta phải ngạc nhiên và
khiến chúng ta phải tự hỏi phải chăng v́ biết Trung Cộng quả không có một
căn bản nào vững vàng, về pháp lư cũng như về lịch sử, để chứng minh chủ
quyền này nên Trung Cộng phải bỏ không viện dẫn chứng cớ?
Thứ hai, bản tuyên bố này, cũng như các bản tuyên bố khác sau này của Trung
Cộng, và cả của Đài loan, đă đề cập tới việc Chính phủ Trung Hoa thu hồi
Hoàng sa và Trường sa sau khi Nhật bản đầu hàng tháng 8 năm 1945.
Một câu hỏi được đặt ra: việc Chính phủ Trung Hoa (khi đó là Trung Hoa Dân
quốc) thu hồi hai quần đảo này có phải là một hành vi hợp pháp không?
Chúng ta biết rằng năm 1938, trước khi xy ra trận Thế chiến thứ II, Nhật bản
đă chiếm Lâm đảo thuộc quần đảo Hoàng sa, nói là để khai thác thương mại
nhưng thực ra chính là để lập căn cứ chiến lược làm bàn đạp tấn công vùng
Đông nam Á. Theo R. Serene th́ "Năm 1938 Nhật bản mượn cớ khai thác thương
mại đă chiếm Lâm đảo để bành trướng sự kiểm soát tới các đảo Cam tuyền và
Linh côn..."(8). Rồi đến ngày 31.3.1939, Bộ Ngoại giao Nhật bản ra một thông
cáo loan tin là ngày hôm trước, 30.3, Nhật bản đă quyết định đặt quần đảo
Trường sa duới quyền kiểm soát của Nhật bản v́ lư do tại đây đă thiếu một
chính quyền hành chính địa phương nên đă làm thiệt hại đến quyền lợi của
Nhật bản(9). Trong suốt thời gian của trận Thế chiến thứ II, Nhật bản đă
đóng quân trên hai quần đảo này cho tới khi đầu hàng quân đội Đồng minh.
Vào cuối năm 1943, trong lúc chiến tranh đang ở mức độ ác liệt nhất th́ các
nhà lănh đạo tối cao của Hoa kỳ, Anh và Trung Hoa Dân quốc đă bí mật gặp
nhau tại Cairo, thủ đô nước Ai cập, từ 23 đến 27 tháng 11(10) để thảo luận
các chiến lược tiêu diệt phe Trục (Đức Nhật). Ngày 26, Tổng thống Hoa kỳ
Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung
Hoa Dân quốc Tưởng Giới thạchổ đă kư một bản tuyên cáo chung (thường được
gọi là Tuyên cáo Cairo) trong đó có một đoạn như sau:
"Đối tượng của các nước này [tức là của ba nước Đồng minh] là phải tước bỏ
quyền của Nhật bản trên tất cả các đảo ở Thái b́nh dương mà nước này đă
cưỡng đoạt hay chiếm đóng từ khi có trận Thế chiến thứ I năm 1914 và tất cả
các lănh thổ Nhật bản đă cướp của người Trung Hoa, như là Măn châu, Đài loan
và Bành hồ, phải được hoàn trả Trung Hoa Dân quốc. Nhật bản cũng sẽ phải bị
trục xuất khỏi các lănh thổ khác chiếm được bằng vơ lực và ḷng tham."(11)
Đọc đoạn tríchổ dẫn trên chúng ta thấy Tuyên cáo Cairo có hai qui định quan
trọng. Thứ nhất, chỉ có các đất Măn châu, Đài loan và Bành hồ được qui hoàn
cho Trung quốc thôị Thứ hai, c̣n các lănh thổ khác mà Nhật bản chiếm được
th́ bản tuyên cáo này chỉ qui định việc trục xuất Nhật bản thôi, chứ không
hề nói
tới việc qui hoàn chúng cho Trung quốc. Chỉ có điều đáng tiếc, và đó cũng là
nguyên nhân gây ra những vụ tranh chấp về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng
sa và Trường sa sau này, là Tuyên cáo Cairo đă không nói các lănh thổ khác
ấy phải được qui hoàn cho nước nàọ
Quyết định này đă được Tổng Thư kư đảng Cộng sản Liên sô Joseph Stalin tán
thành. Trong một bữa ăn trưa công tác giữa ông, Tổng thống Roosevelt và Thủ
tướng Churchill tại Ṭa Đại sứ Liên sô ở Tehran (Ba tư) ngày 30.11.1943, khi
Churchill hỏi ông đă đọc bản Tuyên cáo Cairo chưa th́ Stalin cho biết ông
đă đọc rồi và c̣n nói thêm là mặc dù ông không thể cam kết điều ǵ, ông hoàn
toàn tán thành bản tuyên cáo và tất cả những điều nói trong đó. ng cho hay
việc hoàn Măn châu, Đài loan và Bành hồ lại cho Trung quốc là phải(12).
Ngoài ra, Stalin hoàn toàn không hề nói ǵ đến hai quần đảo Hoàng sa và
Trường sạ
Một năm rưỡi sau, quyết định của tam cường tại Hội nghị Cairo được tái xác
nhận trong một hội nghị thượng đỉnh tam cường khác nhóm tại Potsdam từ 17.7
đến 2.8.1945 để ấn định các điều kiện cho Nhật bản đầu hàng. Tổng thống Hoa
kỳ, Thủ tướng Anh (13) và Tổng thống Trung Hoa Dân quốc đă ra một tuyên ngôn
(thường gọi là Tuyên ngôn Potsdam) ngày 26.7.1945 trong đó có ghi là "Các
điều khoản của bản Tuyên cáo Cairo sẽ được thi hành"(14).
Tại hội nghị Potsdam này các nhà lănh đạo tam cường đă quyết định chia Đông
dương làm hai khu vực để cho tiện việc giải giới quân đội Nhật bản đóng tại
đâỵ V tuyến thứ 16 được chọn làm ranh giới: việc giải giới ở khu vực bắc v
tuyến ủy thác cho Quốc quân Trung Hoa và ở khu vực phía nam do liên quân Anh
n đảm nhận(15). V́ quần đảo Hoàng sa nằm ở giữa hai vĩ tuyến thứ 15 và 17
nên việc giải giới quân đội Nhật trú đóng ở đây thuộc thm quyền Quốc quân
Trung Hoạ Trái lại, việc giải giới ở quần đảo Trường sa phải do liên quân
Anh n đảm nhận do lẽ quần đảo này nằm giữa hai v tuyến thứ 8 và 12.
Nhật bản khi đầu hàng đă chịu điều kiện qui định trong bản Tuyên cáo Cairo
và ghi nhận trong Văn kiện Đầu hàng ngày 2.9.1945(16). Đồng thời, khi ra
lệnh cho quân đội Nhật bản ở ngoại quốc đầu hàng và nộp vũ khí cho quân đội
Đồng minh, Nhật hoàng Hirohito đă ban hành Tổng Mệnh lệnh số 1, trong đó
điều I khoản (a) qui định là:
"Các tư lệnh Nhật bản và tất cả lục, hải quân cùng các lực lượng phụ thuộc ở
trên đất Trung Hoa (ngoại trừ Măn châu),Đài loan và Đông Pháp ở 16 độ bắc v
tuyến đầu hàng Đại Nguyên soái Tưởng Giới thạch"(17).
Việc giải giới quân đội Nhật bản của Quốc quân Trung Hoa ở bắc v tuyến thứ
16 được coi là bắt đầu từ ngày 9.9.1945, khi Quốc quân Trung Hoa do Tướng Lư
Hán chỉ huy tiến vào thành phố Hà nội để thi hành nhiệm vụ này, và chấm dứt
vào cuối tháng 8 năm 1946 khi đội quân chiếm đóng Trung Hoa cuối cùng rời
khỏi Việt Nam(18) sau khi Trung Hoa Dân quốc đă kư với Pháp một thỏa ước
ngày 28.2.1946 nhường lại quyền giải giới cho quân đội Pháp(19). Tuy nhiên
theo Bành phẩm quang viết trong bài "Quần đảo Nam sa tiền đồn pḥng thủ lănh
hải" th́:
"Ngày 26.10.1946, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa Dân quốc gồm 4 chiến hạm,
mi chiếc chở một số đại diện của các bộ và 59 binh s thuộc trung đội độc lập
về cảnh vệ của hải quân (tiền thân của thủy quân lục chiến) từ cảng Ngô tùng
xuất phát ngày 29 tháng 10 và ngày 29 tháng 11 th́ các tàu Vnh hưng và Trung
kiện mới tới đảo Vnh hưng thuộc quần đảo Tây sa và đổ bộ lên đâỵ Ngày 4
tháng 12 chiến hạm Vnh hưng c̣n đi qua đảo La bột, đảo Ba bột v.v... rồi trở
lạị C̣n hai chiến hạm Thái b́nh và Trung nghiệp đến ngày 9 tháng 12 mới tới
quần đảo Nam sạ Tháng 12 hoàn tất công tác chiếm đóng đảo Thái b́nh,
ngày 15 tháng 1 chiến hạm Thái b́nh tới các đảo I thái, Đế đô, Song tử, Nam
cực, v.v... rồi trở về. Đến đây công tác chiếm đóng và tiếp thu quần đảo Tây
sa và Nam sa đă hoàn tất và lần lượt trở về cảng Du lâm."(20)
Như vậy việc Quốc quân Trung Hoa đổ bộ lên hai quần đảo này, mà cả hai Chính
phủ Trung Hoa Dân quốc và Trung Cộng gọi là "tiếp thu", là một hành vi bất
hợp pháp v́ nhiều lư do:
a) Theo quyết định của hội nghị Potsdam, Quốc quân Trung Hoa chỉ có quyền
giải giới quân đội Nhật bản ở trên quần đảo Hoàng sa chứ không có quyền ở
trên quần đảo Trường sa vốn thuộc thẩm quyền liên quân Anh n. Chúng tôi
không biết và cũng không thấy có tài liệu nào cho thấy là liên quân Anh n
hay chính phủ hoàng gia Anh đă ủy thác việc giải giới quân đội Nhật bản ở
đây cho Quốc quân Trung Hoạ
b) Việc giải giới phải thực hiện trước cuối tháng 8/1946. Tuy nhiên Quốc
quân Trung Hoa lại đổ bộ quân lính lên hai quần đảo này vào hai tháng 11 và
12 năm 1946 và tháng 1 năm 1947, như thế là đă làm một hành vi xâm lược chứ
không phải là hành vi thụ ủy hợp pháp, v́ từ tháng 8/1946 hành vi giải giới
của Quốc quân Trung Hoa không c̣n căn bản pháp lư nữạ
Thực vậy, theo Hiệp
ước Về Việc Pháp Khước từ Trị ngoại Pháp quyền và các Quyền Liên hệ khác ở
Trung quốc, do Đại sứ Pháp tại Trung Hoa là Jacques Meyrier kư với Bộ trưởng
Ngoại giao Trung Hoa Dân quốc Wang Shih chieh ngày 28.2.1946 và có hiệu lực
từ ngày 8.6.1946, lănh thổ của Quốc dân Chính phủ Trung Hoa là Trung Hoa Dân
quốc (nghĩa là Hoa lục và các đảo lân cận) và của Chính phủ Cộng ḥa
Pháp là Pháp quốc, Algeria, tất cả các thuộc địa, các
xứ bảo hộ ở hải ngoại cùng là các thác quản địa của Pháp (điều 1). Mặt
khác, theo văn thư trao đổi cùng ngày, việc quân đội Pháp thay thế Quốc quân
Trung Hoa (lúc đó đang chiếm đóng ở Viêt nam phiá bắc v tuyến thứ 16) để
canh giữ tù binh Nhật bản, duy tŕ an ninh trật tự được thực hiện từ ngày 1
đến ngày 15 tháng 3 và chấm dứt tr nhất là ngày 31 tháng 3.
Trong khi đó, theo Hoà ước Pháp Hoa do Khâm sai Đại thần Thanh triều là Tổng
đốc Trực lệ Lư Hồng chương kư với đại diện Pháp là Trung tá Hải quân
Fournier tại Thiên tân ngày 11.5.1884, Trung quốc khước bỏ mọi quyền đối
với Việt Nam và Việt Nam từ ngày đó trở đi không c̣n là một thuộc quốc của
Trung Hoa nữạ
Hoà ước này được tái xác nhận hơn một năm sau trong một ḥa ước khác kư
ngày 9.6.1885. Mặt khác, sau khi Thế chiến thứ II chấm dứt, hoàng đế Việt
Nam khi đó là Bảo đại (1925 1945) ngày 11.3.1945 đă hủy bỏ tất cả các hiệp
ước bảo hộ Pháp Việt và tuyên bố Việt Nam độc lập. Nền độc lập của Việt Nam
được tái xác nhận ngày 2.9.1945 khi Đảng Cộng sản Việt Nam nắm chính quyền
(19.8.1945). Chính nước Pháp cũng công nhận nền độc lập của Việt Nam trong
điều 1 của Tạm ước Pháp Việt kư ngày 6.3.1946. Nói Cách khác, kể từ
11.3.1945 trở đi lănh thổ của nước Việt Nam độc lập gồm giải đất từ ải Nam
quan đến mũi
Cà mâu và các đảo phụ thuộc Việt Nam ở ngoài khơi, kể cả hai quần đảo Hoàng
sa và Trưởng sạ Như vậy đối với cả hai nước Pháp và Trung Hoa, Việt Nam
không phải là thuộc quốc của nước nào cả.
Do đó, việc "tiếp thu" hay "giải giới" của Quốc quân Trung Hoa do Bành phẩm
quang báo cáo kể trên, dù là để thi hành quyết định của các quốc gia đồng
minh trong trận Thế chiến thứ II, đúng là một hành vi bất hợp pháp, trái với
các nguyên tắc căn bản của luật quốc tế. Nó đă vi phạm đến chủ quyền của
nước
Việt Nam độc lập.
c) Bản Tuyên cáo Cairo và Tuyên ngôn Potsdam hoàn toàn không đề cập tới vấn
đề trao hoàn cho Trung quốc hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa mà Nhật bản
cưỡng chiếm vào đầu trận thế chiến thứ IỊ Sự thiếu sót này có phải là do các
nhà lănh đạo đồng minh sơ ư hay quên không? Lẽ d nhiên là không. Trái lại,
chúng ta phải giải thíchlà các vị ấy đă không quan niệm hai uần đảo này là
phần lănh thổ của Trung quốc. Điểm đặc biệt đáng chú ư hơn nữa là chính Tổng
thống Trung Hoa Dân quốc, Đại Nguyên soái Tưởng Giới thạch, đă tham dự cả
hai hội
nghị và đă kư vào cả Tuyên cáo Cairo lẫn Tuyên ngôn Potsdam, chứ không phải
một người đại diện nào khác để bảo là có thể đă không thi hành đúng chỉ thị
của Chính phủ Trung Hoa Dân quốc. Nếu hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa
thực sự thuộc chủ quyền của Trung quốc th́ không có lư ǵ họ Tưởng chỉ đ̣i
trao
hoàn có Măn châu, Đài loan và Bành hồ thôi mà lại không đ̣i luôn Hoàng sa và
Trường sạ Hơn nữa, trong bản văn của Tuyên cáo Cairo và Tuyên ngôn Potsdam
chúng ta cũng không thấy từ "vân vân" để có thể nói là vấn đề đă dược bao
hàm trong hai văn kiện nàỵ
Mười hai năm sau khi tham dự Hội nghị Cairo và kư bản Tuyên cáo, gày
8.2.1955 Tưởng Giới thạchổ vẫn c̣n nhắc lại là:
"Trong thông cáo công bố vào lúc bế mạc hội nghị, chúng tôi đă tuyên bố là
tất cả các lănh thổ do Nhật bản 'cướp' của Trung Hoa, kể cả Đông tam tỉnh,
Đài loan và Bành hồ phải được trao hoàn lại cho Trung Hoa Dân quốc. Lời
tuyên bố này đă được bản Tuyên ngôn Potsdam công nhận và Nhật bản chấp nhận
khi nước này đầu hàng."(21)
Một lần nữa, ông hoàn toàn không nói ǵ đến việc phải trao hoàn hai quần đảo
Hoàng sa và Trường sa cho Trung quốc. Vào lúc ông nói lời trên ông không
phải là không biết có sự tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo này mà
cả chính phủ của ông lẫn chính phủ của Mao Trạchổ đông đang đ̣ị
d) Giải giới quân đội
Nhật bản ở Hoàng sa và Trường sa không thể hiểu là tiếp thu hay thu hồi
được. Hai hành động này có bản chất khác nhaụ Giải giới chỉ có nghĩa
là tước bỏ tất cả vũ khí của một đội quân nào để cho đội quân đó không thể
dùng vào việc chiến tranh được nữạ Dù việc giải giới đó được thực hiện trên
phần lănh thổ của một nước khác vớI nước có phận sự giải giới nó cũng không
thể là lư do để cho nước giải giới chiếm lănh thổ đó được, trừ phi trong
hiệp định ủy thác việc giải giới đó có qui định thêm cho phép nước giải giới
được chiếm lấy lănh thổ đó. Ngược lại, tiếp thu ay thu hồi ngụ ư chỉ nước
làm công việc này tiếp nhận lạI phần lănh thổ của ḿnh trước đó đă bị một
nước khác chiếm đoạt.
Như chúng ta được biết, cả Tuyên cáo Cairo lẫn Tuyên ngôn Potsdam chỉ cho
phép Trung Hoa Dân quốc giải giới quân đội Nhật bản ở quần đảo Hoàng sa
thôi, chứ không hề cho phép Trung Hoa Dân quốc thu hồi quần đảo này cùng là
giải giới quân đội Nhật bản ở quần đảo Trường sa hay thu hồi quần đảo đó. V́
thế việc chiếm đóng và thu hồi hai quần đảo này của Trung Hoa Dân quốc là
bất hợp pháp và vi phạm trầm trọng luật quốc tế v́ đi trái với quyết định
của Tuyên cáo Cairo và Tuyên ngôn Potsdam.
V́ các lư do vừa kể trên, chúng ta phải nh́n nhận rằng lờI tuyên bố ngày
15.8.1951 của Châu Ân lai đă mâu thuẫn với lờI tuyên bố ngày 4.12.1950 cũng
của họ Châụ Một đằng Trung Cộng đ̣i các quốc gia phải tuân theo hai văn kiện
quốc tế này và các chính sách căn bản đối với Nhật bản sau khi nước này đầu
hàng, trong đó việc chia đôi Đông dương để giải giới quân đội Nhật bản đóng
tại đây cũng là một chính sách căn bản, một đằng lại cho việc tiếp thu hai
quần đảo không hề được qui định trong hai văn kiện quốc tế là một hành vi
hợp pháp.
Thứ ba, Trung Cộng coi bất cứ một ḥa ước nào kư với Nhật Bản mà không có sự
tham dự của Trung Cộng vào việc chuẩn bị, soạn thảo và kư kết là bất hợp
pháp và vô hiệụ Ḥa ước Cựu kim sơn ngày 8.9.1951 kư với Nhật bản có phải là
một ḥa ước bất hợp pháp và vô hiệu không?
Theo định nghĩa của luật quốc tế, một hiệp ước bị coi là bất hợp pháp khi
nào nó nhằm theo đuổi một đối tượng vô luân, khi nào nó tạo ra những nghĩa
vụ bất hợp pháp trái với các nguyên tắc của luật quốc tế đă được mọi quốc
gia công nhận, trái với nhân quyền, trái với các nguyên tắc căn bản của Hiến
chương Liên hiệp quốc, hoặc giả một hiệp ước mà sự thi hành sẽ tạo nên một
bất công pháp lư cho một quốc gia đệ
tam, hoặc khi nó được được kư kết bất xứng hay mâu thuẫn với các nghĩa vụ
của hiệp ước có trước mà tất cả hay một trong các nước kết ước đă kư (22).
Chính Trung Cộng cũng chấp nhận giải thíchnày và quan điểm của Trung Cộng
được hai học giả luật quốc tế nổi tiếng là Thiệu Kim phủ và Trần Thể cường
tŕnh bày trong hai bài biên khảọ
Khi bàn về Ḥa ước Cựu kim sơn, Trần Thể cường đă nhắc lạI định nghĩa của
luật quốc tế là "một quốc gia có bổn phận không được kư các hiệp ước nào
không phù hợp với các nghĩa vụ của các hiệp ước có trước. Việc kư kết những
hiệp ước như vậy là một hành vi bất hợp pháp không thể tạo nên những kết quả
hợp pháp có lợi cho quốc gia vi phạm luật.(23)
Mặt khác, trong bài "'Lưỡng Cá Trung Quốc' Mậu Luận Ḥa Quốc Tế Pháp Nguyên
Tắc"(24), Thiệu Kim phủ đă viện dẫn lời của L. Oppenheim cho rằng "Hiệp ước
phải phù hợp với luật pháp, biểu hiện trong các nguyên tắc của luật quốc tế
được công nhận một Cách phổ biến cũng như trong các tập tục của các quốc
gia"(25) và "các nghĩa vụ mâu thuẫn với các nguyên tắc của luật quốc
tế đă được mọi quốc gia công nhận th́ không thể là đối tượng của một hiệp
ước được."(26) Ngoài ra, ông cũng viện dẫn điều 103 của Hiến chương Liên
hiệp quốc nói rằng khi có sự phân tranh giữa các nghĩa vụ của một quốc
gia hội viên Liên hiệp quốc theo Hiến chương này và các nghĩa vụ do
hiệp ước quốc tế khác tạo nên, nghĩa vụ theo Hiến chương Liên hiệp
quốc sẽ ưu thắng. Rồi ông kết luận là hiệp ước nào không phù hợp với Hiến
chương Liên hiệp quốc sẽ bị coi là vô hiệu không thể chấp hành được.
Đem áp dụng các định nghĩa nêu trên vào Ḥa ước Cựu kim sơn, chúng ta
thấy các quốc gia kư ḥa ước với Nhật bản là để chấm dứt t́nh trạng chiến
tranh có từ khi xảy ra trận Thế chiến thứ II, khôi phục địa vị của Nhật trên
trường quốc tế, làm giảm t́nh trạng căng thẳng trên thế giới ngơ hầu xúc
tiến việc tạo dựng và duy tŕ ḥa b́nh trên thế giới, v.v... Như vậy các
quốc gia này đă tuân thủ các nguyên tắc căn bản của Hiến chương Liên hiệp
quốc và theo đuổi một đối tượng cao quư, chứ không phải là vô luân. Riêng
đối với Trung Cộng, nếu muốn, nước này có thể viện cớ không được mời tham dự
ḥa hội Cựu kim sơn để coi hoà ước không thể chấp hành đối với ḿnh thôi,
chứ không thể coi nó là ḥa ước bất hợp pháp
và vô hiệu được.
Ngược lại, đứng về phương diện hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa, chính
Trung Cộng đă có hành vi bất hợp pháp khi nhà cầm quyền Bắc kinh cổ vơ và
biện minh cho việc Trung Hoa Dân quốc đem quân đến chiếm hai quần đảo Hoàng
sa và Trường sa dưới danh nghĩa tiếp thụ
Thực vậy, điều 2 của Hoà ước Cựu kim sơn sau khi đă nói về việc Nhật từ bỏ
mọi quyền, danh nghĩa và đ̣i hỏi đối với tất cả các lănh thổ nào không
phải là lănh thổ chính của Nhật bản mà nước này đă chiếm được từ khi có trận
Thế chiến thứ I cho đến khi chấm dứt trận Thế chiến thứ II đă qui định thêm
trong đoạn (f) như sau:
"Nhật bản khước từ mọi quyền, danh nghĩa và đ̣i hỏi trên quần
đảo Trường sa và quần đảo Hoàng sạ"
Các qui định trong điều 2 như vậy đă theo đúng với quyết định của Hội
nghị Cairo năm 1943 được diễn tả trong bản Tuyên cáo Cairo mà Trung Cộng vẫn
luôn đ̣i phải được coi là căn bản chính cho một ḥa ước kư với Nhật bản đă
nói ở bên trên. Nói Cách khác, chính Trung Cộng đă coi quyết định của các
đại cường là hợp lư, hợp t́nh và hợp pháp.
Về giá trị của bản Tuyên cáo Cairo và Tuyên ngôn Potsdam, cả hai phe Quốc
Cộng Trung Hoa đều nh́n nhận là có hiệu lực. Chúng ta có thể nêu ra vài thí
dụ.
Về phía Trung Hoa Dân quốc, ngày 8.2.1955, khi duyệt xét t́nh h́nh thế giới,
Tổng thống Tưởng Giới thạch, đă nói như sau:
"Tôi c̣n nhớ rằng năm 1945, cố Tổng thống Hoa kỳ Roosevelt và đương kim Thủ
tướng Anh Churchill đă cùng tôi họp hội nghị ở Cairo để thảo luận về các vấn
đề liên quan tới việc tiến hành chiến tranh chống Nhật bản và hậu quả của
nó. Trong thông cáo công bố vào lúc bế mạc hội nghị, chúng tôi đă tuyên bố
là tất cả các lănh thổ do Nhật bản 'cướp' của Trung quốc kể cả Đông Tam
tỉnh, Đài loan và Bành hồ phải được trao hoàn cho Trung Hoa Dân quốc. Lời
tuyên bố này đă được bản Tuyên ngôn Potsdam công nhận và Nhật bản chấp nhận
khi nước này đầu hàng. Như vậy giá trị của nó, tức là của bản Tuyên cáo
Cairo, dựa trên một số thỏa thuận và không ai có thể hoài nghi được
...........
"Có ngưới phủ nhận giá trị của bản Tuyên cáo Cairo ... Nếu người ta có thể
phủ nhận giá trị của bản Tuyên cáo Cairo, th́ bản Tuyên ngôn Potsdam và tất
cả các hiệp ước, thỏa ước quốc tế được kư kết từ khi chấm dứt Thế chiến thứ
II sẽ ra saỏ Có thể phủ nhận giá trị của những văn kiện này được không?
Nếu như các nước dân chủ không thừa nhận bản Tuyên cáo Cairo mà chính họ đă
kư kết th́ làm thế nào mà bây giờ hay trong tương lai họ có thể chỉ tríchổ
khối Cộng sản xâm lăng xé bỏ các hiệp ước, thỏa ước được?..."(27)
Về quan điểm của Bắc kinh đối với vấn đề giá trị của hai văn kiện quốc tế
quan trọng này, chúng ta đă thấy (a) khi cuộc tranh luận tại Liên hiệp quốc
về địa vị của đảo Đài loan đang tiến hành, ngày 24.8.1950 nhà cầm quyền Cắm
thành đă gửi một bức công điện cho tổ chức quốc tế này trong đó có đề cập
tới Tuyên cáo Cairo và Tuyên ngôn Potsdam coi là "những thỏa ước có ước thúc
lực" mà các quốc gia kư kết phải tôn trọng và tuân hành(28), (b) hoặc như
qua lời tuyên bố ngày 4.12.1950 của Châu Ân lai nói trên, (c) cũng như trong
lời tuyên bố ngày 15.8.1951 của Châu Ân lai như sau:
"Dù xét về thủ tục mà ḥa ước được chun bị hay về nội dung, ta thấy Dự thảo
Ḥa ước Anh Mỹ trắng trợn vi phạm các thỏa ước quốc tế quan trọng, mà Anh Mỹ
đều là phe kết ước, như là ... bản Tuyên cáo Cairo, ... bản Tuyên ngôn
Potsdam ... Vi phạm sự thỏa thuận theo bản Tuyên cáo Cairo và bản Tuyên ngôn
Potsdam, Dự thảo Ḥa ước chỉ qui định là Nhật bản sẽ khước từ các quyền đối
với Đài loan và Bành hồ..."(29)
Bên cạnh quan điểm của nhà cầm quyền Bắc kinh c̣n có quan điểm của học giả
nữạ Chẳng hạn Trần Thể cường đă viết một bài nhan đề "Đài loan đíchổ Chủ
quyền Thuộc ư Trung quốc," trong đó ông có nói:
"Bản Tuyên cáo Cairo ... là một văn kiện quốc tế 'ràng buộc về pháp lư
các quốc gia đương sự.' Hơn nữa, bản Tuyên ngôn Potsdam do Trung quốc, Hoa
kỳ và Anh quốc kư ngày 26 tháng 7 năm 1945 để thúc Nhật bản đầu hàng đă tái
xác định các nghĩa vụ trong bản Tuyên cáo Cairọ Bản Tuyên ngôn Potsdam
qui định là 'các điều khoản của bản Tuyên cáo Cairo sẽ được th́ hành.' Câu
'sẽ được thi hành' như vậy chứng tỏ rằng bản Tuyên cáo Cairo là một văn kiện
tạo nên nghĩa vụ quốc tế, chứ không phải chỉ là lời tuyên
bố về các ư định của các người kư ...
Đứng về phương diện
học lư của luật quốc tế, không thể nào nghi ngờ hiệu lực ước thúc của bản
Tuyên cáo Cairo, một hiệp ước quốc tế ." (30)
Như vậy là cả hai phe Quốc Cộng Trung Hoa đều đồng ư là bản Tuyên cáo Cairo
có hiệu lực đối với các quốc gia kết ước. Trung Hoa, một trong những quốc
gia đó, có bổn phận phải tuân thủ những điều cam kết. Do đó, tuy không tham
dự việc chun bị, soạn thảo và kư Ḥa ước Cựu kim sơn, Trung Cộng không thể
nào coi ḥa ước này bất hợp pháp được v́ lẽ nó đă qui định đúng những quyết
định của bản Tuyên cáo Cairo mà Trung Cộng vẫn đ̣i mọi quốc gia kết ước phải
tuân theọ Nói Cách khác, v́ Ḥa ước Cựu kim sơn là một văn kiện quốc tế nhằm
thi hành những quyết định của Hội nghị Cairo 1943, nó cũng phải có hiệu lực
như bản Tuyên cáo Cairo, kể cả đối với Trung Cộng vốn tự nhận là "đại diện
duy nhất chân chính của nhân dân Trung Hoạ"
Hơn một tháng sau khi
lên tiếng ngày 15.8.1951 về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và
Trường sa nói trên, khi b́nh luận về việc kư Ḥa ước Cựu kim sơn, trong một
thông cáo của Bộ Ngoại giao Bắc kinh ngày 18.9.1951, Châu Ân lai không hề
nói ǵ về vấn đề hai quần đảo này cả mà chỉ lập lại lập trường cũ, phủ nhận
giá trị và hiệu lực của ḥa ước v́ đă được kư kết mà không có sự tham dự của
Trung Cộng(31).
Sự im lặng này càng khó hiểu hơn nữa khi chắc chắn là Trung Cộng phải biết
rằng ḥa hội Cựu kim sơn đă bác bỏ đề nghị của phái đoàn Nga sô đ̣i trao trả
hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa cho Trung Cộng và về phản ứng của phái
đoàn Quốc gia Việt Nam(32).
Thực vậy, ngày 5.9.1951, trong phiên họp khoáng đại hội nghị thứ 2 của Ḥa
hội Cựu kim sơn, đại biểu Nga sô Andrei Ạ Gromyko sau khi chỉ tríchổ tính
Cách bất hợp pháp và sự vô nghĩa cùa bản dự thảo ḥa ước của Anh Mỹ để
kư với Nhật bản đă đưa ra một đề nghị 7 điểm gọi là để hướng dẫn việc kư kết
ḥa ước thực sự với Nhật bản. Điểm 6 đề nghị trao trả hai quần đảo này cho
Trung Cộng. Hai ngày sau, 7.9.1951 Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần văn Hữu,
trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, đă
lên tiếng tái xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng sa và
Trường sạ
Về đề nghị của
Gromyko, chính phủ Bắc kinh không chính thức lên tiếng. Chỉ có bán nguyệt
san Anh ngữ của Trung Cộng Peoplés China (Nhân dân Trung quốc) tường thuật
lại trong một bài nhan đề "At the San Francisco 'Conferencé" (Tại "Hội nghị"
Cựu kim sơn), trong đó có ghi điểm 6 của đề nghị Nga Sô như sau:
"Qui hoàn Đài loan, quần đảo Bành hồ (Pescadores), quần đảo Tây sa và các
lănh thổ Trung Hoa khác cho nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoạ" (33)
Ngoài điểm này ra, bài tường thuật cũng không đả động ǵ đến việc ḥa hội
bác bỏ đề nghị của Nga sô và phản ứng của Quốc gia Việt Nam. Sự im lặng này
đáng lạ v́ bài tường thuật được viết trong khoảng thời gian giữa các ngày
5.9.1951 (ngày Gromyko nêu đề nghị 7 điểm), ngày 7.9.1951 (ngày trưởng phái
đoàn Quốc gia Việt Nam tái xác định chủ quyền của Việt Nam) và ngày
16.9.1951 (ngày báo phát hành). Như vậy không thể nào Trung Cộng không
biết ǵ đến phản ứng của Việt Nam đối với đề nghị của Nga sô và không có lư
nào nhà cầm quyền Cấm thành lại quên được, nhất là bài báo nói trên trước
khi được in đă phải được nhà cầm quyền Trung Cộng kiểm duyệt và cho phép.
Một điểm khác chúng ta cũng nên nhớ là bất cứ một hành vi nào của Quốc
gia Việt Nam (và sau này của Việt Nam Cộng ḥa) đều bị Trung Cộng theo dơi
rất kỹ và, khi thấy thuận tiện, phê b́nh, chỉ tríchổ rất nặng nề. Nếu quả
thực hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là của Trung quốc th́ việc trưởng
phái đoàn
Quốc gia Việt Nam tái xác định chủ quyền trong ḥa hội không thể nào mà
không bị Trung Cộng chỉ tríchổ dữ dội và lên án, đe dọa như sau này Trung
Cộng sẽ làm.
Sự im lặng lại càng trở nên khó hiểu hơn nữa khi trong bản tuyên bố ngày
5.5.1952(34) về ḥa ước mà Trung Hoa Dân quốc đă kư với Nhật bản ngày
28.4.1952, Châu Ân lai không nói ǵ đến hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa,
mặc dù hai quần đảo này đă được đề cập tới trong điều 2 của ḥa ước như sau:
"Điều 2. Hai bên nh́n nhận là theo điều 2 Ḥa ước vớ i Nhật bản kư ngày 8
tháng chín năm 1951 tại Cựu kim sơn ở Hoa kỳ, Nhật bản đă khước từ mọi
quyền, danh nghĩa hay đ̣i hỏi liên quan đến Đài loan (Formosa) và Bành
hồ (the Pescadores), cũng như quần đảo Trường sa và Hoàng sạ"(35)
Theo điều khoản này, Nhật bản chỉ nhắc lại việc khước từ thôi chứ không nói
rơ là Nhật bản qui hoàn hai quần đào này cho Trung Hoa Dân quốc. Có một sự
khác biệt rất lớn giữa hai hành động khước từ và qui hoàn. Khước từ là một
hành động tiêu cực do đó người (hay nước) khước từ nh́n nhận là từ ngày có
(hay kư) quyết định khước từ người (hay nước) ấy sẽ không c̣n bất cứ một thứ
quyền hợp pháp nào đối với vật mà người (hay nước) ấy từ bỏ. Tuy nhiên,
người (hay nước) này không chuyển giao hay chuyển nhượng vật đó cho một
người (hay nước) khác. Trái lại, qui hoàn là một hành động tíchổ cực, có
nghĩa là người chiếm hữu một vật ǵ, dù là chiếm hữu hợp pháp hay là
bất hợp pháp, trả vật đó lại cho sở hữu chủ hợp pháp của nó. Sở hữu chủ của
vật được qui hoàn là đối tượng xác định của hành động qui hoàn.
V́ mục đíchổ của chúng tôi trong bài biên khảo này chỉ là t́m hiểu các luận
cứ của Trung quốc về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường
sa thôi nên chúng tôi không t́m hiểu nguyên nhân của sự im lặng của Trung
Cộng.
IIỊ Phản ứng của Trung quốc đối với việc Phi luật tân lại đ̣i chủ quyền trên
quần đảo Trường sa (1956)
Sau khi ḥa hội Cựu kim sơn bế mạc, cả Trung Cộng lẫn Đài loan không có dịp
nào để lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa
cho tới năm 1956 khi Phi luật tân lên tiếng đ̣i chủ quyền trên quần đảo
Trường sạ Trong hai năm 1949 và 1950, Tomas Cloma, chủ một đội
ngư thuyền và thương thuyền và giám đốc một trường hàng hải(36) đă khám phá
thấy một nhóm đảo lớn nhỏ ở Cách đảo Palawan của Phi luật Tân(37) khoảng 400
dặm về phía tâỵ ng hy vọng lập một nhà máy
nước đá và một nhà máy đóng đồ hộp ở trên một ḥn đảo lớn nhất ở đây, cũng
như là khai thác phân chim trong những ḥn đảo kế cận.
Tuy nhiên, măi đến đầu năm 1956 Cloma mới lại tiếp tục khám phá những ḥn
đảo này trong một chuyến du hành 38 ngàỵ Ngày 15.3.1956, chiếc tàu PMI IV
vẫn được dùng để huấn luyện các sinh viên
trường hàng hải của Cloma do thuyền trưởng Filemon Cloma, em trai Tomas
Cloma, điều khiển đă lên đường ra các ḥn đảo này chiếm đóng(38). 40 thủy
thủ trên tàu, tất cả đều có quốc tịchổ Phi luật tân, đă dựng quốc kỳ Phi
luật tân trên một ḥn đảo và chính thức tuyên bố chiếm hữu đảo này theo tục
lệ quốc tế. Tại mi ḥn đảo họ tới chiếm đóng, họ đều niêm yết cáo thị
chiếm hữụ Họ đặt tên những ḥn đảo ở đây, tất cả có 53 đảo và cù lao với
diện tíchổ tổng cộng 64.976 dặm vuông, là "Freedomland" hay Đất Tự do(39).
Ngày 15.5.1956 Cloma chính thức thông báo cho Phó Tổng thống kiêm Ngoại
trưởng Phi luật tân Carlos P. Garcia hay là một số công dân Phi luật tân đă
quan sát, trắc lượng và chiếm hữu "một lănh thổ ở Nam hải, bên ngoài hải
phận Phi luật tân và không thuộc thm quyền quản hạt của nước nàọ"(40) Cloma
cũng nói thêm là lănh thổ này đă được Cloma và các đồng sự tuyên bố chiếm
hữụ Mặt khác, Cloma đă gửi "cáo thị" về việc chiếm hữu này tới
báo chí trong và ngoài nước, yêu cầu đăng tải theo thủ tục luật quốc tế. Cáo
thị nhấn mạnh là sự tuyên bố này căn cứ vào quyền khám phá và/hay chiếm hữu
công khaị Sáu ngày sau, ngày 21.5.1956, Cloma gửi một bức thư thứ nh́
cho Bộ Ngoại giao Phi luật tân để thông báo cho Chính phủ Phi luật tân hay
là lănh thổ mà ông tuyên bố chiếm hữu được đặt tên là "Freedomland." Kềm
theo thư là danh sách các đảo và cù laọ Trong thư Cloma c̣n nói
thêm là:
"Kính xin lưu ư là sự tuyên bố này do 'các công dân Phi luật tân' làm chứ
không phải là 'nhân danh Chính phủ Phi luật tân' bởi v́ chúng tôi không được
phép làm như vậỵ Tuy nhiên việc này có hậu quả là lănh thổ trở thành một
phần của Phi luật tân. V́ lư do đó chúng tôi hy vọng và thỉnh cầu Chính phủ
Phi luật tân ủng hộ cùng là bảo vệ sự tuyên bố của chúng tôi và xin cũng
đừng đưa một tuyên bố nào khác ra Liên hiệp quốc để tránh khỏi khuyến khích,
xúi giục sự phản đối của các nước khác."(41)
Sau đó Cloma chính thức tuyên bố thành lập một chính quyền riêng biệt cho
quần đảo Freedomland và gửi một bản tuyên cáo về việc thành lập chính quyền
này cho Ngoại trưởng Phi luật tân ngày 6.7.1956. Bản tuyên bố c̣n yêu cầu
Phi luật tân cho quần đảo hưởng qui chế bảo hộ.
Vấn đề rắc rối thêm khi Ngoại trưởng Phi luật tân trong thư trả lời Cloma đă
viết:
"Về phần Bộ Ngoại giao, thiểm Bộ coi các đảo, cù lao, ám sa san hô, thiển
than và các băi cát bao gồm ở trong vùng mà ông mệnh danh là "Freedomland",
ngoại trừ nhóm 7 ḥn đảo mà quốc tế thường gọi là quần đảo Spratly, là đất
vô chủ, có cái mới nổi lên, có cái đă được ghi chú trên bản đồ quốc tế chưa
thám sát và sự hiện hữu đáng nghi ngờ, và tất cả đều chưa có ai tới chiếm
hữu, chưa có ai cư ngụ; nói một Cách khác, điều đó có nghĩa là mọi
công dân Phi luật tân có quyền tự do khai thác kinh tế và lập nghiệp như
công dân bất cứ quốc gia nào khác, ngày nào mà chủ quyền chuyên hữu của bất
cứ quốc gia nào trên những đảo này không được thiết lập theo các nguyên tắc
vẫn được luật quốc tế chấp nhận hay được cộng đồng các quốc gia thừa nhận.
"C̣n về nhóm 7 ḥn đảo mà quốc tế thường gọi là quần đảo Spratly, Chính phủ
Phi luật tân coi những đảo này như là ở trong chế độ giám hộ trên thực tế
của các quốc gia đồng minh thắng trận Thế chiến thứ 2 do kết quả của Ḥa ước
Nhật bản kư tại Cựu kim sơn ngày 8.9.1951 do đó Nhật bản khước từ mọi quyền,
danh nghĩa và đ̣i hỏi trên quần đảo Spratly và quần đảo Paracel và cho
tới nay các quốc gia đồng minh chưa có một vụ dàn xếp đất đai nào về hai
quần đảo nàỵ V́ thế ngày nào mà nhóm các đảo đó c̣n ở trong t́nh trạng này,
mọi công dân hay nhân viên các quốc gia đồng minh có quyền khai thác kinh tế
và
lập nghiệp trên căn bản b́nh đẳng cơ hội và đối đăi về các vấn đề xă hội,
kinh tế và thương mại liên quan tới hai quần đảo nàỵ
"Phi luật tân là một trong những quốc gia đồng minh đă đánh bại Nhật bản
trong trận Thế chiến thứ 2 và cũng là quốc gia kư Ḥa ước Nhật bản đă nói
bên trên.
"Về phương diện vị trí địa dư của những ḥn đảo và cù lao bao gồm trong
"Freedomland", v́ chúng kế cận biên giới lănh thổ Phi luật tân về phía tây,
v́ những quan hệ lịch sử và địa chất của chúng đối với quần đảo Phi luật
tân, v́ giá trị chiến lược lớn lao của chúng đối với nền quốc pḥng và an
ninh của chúng ta, ngoài tiềm năng kinh tế đáng kể về ngư nghiệp, sản phẩm
san hô, hải sản và phốt phát, chắc chắn là Chính phủ Phi luật tân không coi
thường sự khai thác kinh tế và lập nghiệp của các công dân Phi luật
tân tại những nhóm đảo và cù lao này ngày nào họ c̣n theo đuổi những mục
đíchổ hợp pháp."(42)
Ngoài ra, trong một buổi họp báo tại Manila ngày 19.5.1956, ông Carlos P.
Garcia cũng tuyên bố là một nhóm đảo ở Nam hải, kể cả đảo Thái b́nh và đảo
Trường sa, đúng lư ra phải thuộc về Phi luật tân v́ chúng kế cận nước nàỵ
Các sự kiện và lời tuyên bố này đă đưa đến những phản ứng mănh liệt trên thế
giớị V́ đề tài của bài này, ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới phản ứng của
Trung quốc thôi chứ không đề cập tới phản ứng của Việt Nam và của các quốc
gia khác.
Ngày 29.5.1956 Bộ Ngoại giao Trung Cộng đă ra một tuyên bố về vấn đề chủ
quyền trên hai quần đảo, nội dung như sau:
"Theo tin gần đây của một vài hăng thông tấn ngoại quốc Bộ trưởng Ngoại giao
Phi luật tân Carlos Garcia đă tuyên bố trong một cuộc họp báo là nhóm các
đảo ở Nam Trung quốc hải kể cả đảo Thái b́nh và đảo Nam uy 'đúng lư ra phải
thuộc về Phi luật tân v́ chúng ở kế cận.' Các báo cáo của các hăng thông tấn
ngoại quốc c̣n tiết lộ là Chính phủ Phi luật tân hiện đang tiếp xúc với bề
lũ Tưởng Giới thạchổ ở Đài loan mưu toan 'dàn xếp' cái gọi là vấn đề chủ
quyền trên quần đảo Nam sạ Về vấn đề này, Chính phủ nước Cộng ḥa Nhân dân
Trung Hoa thấy cần phải tuyên bố như sau:
"Đảo Thái b́nh và đảo Nam uy ở Nam hải nói trên, cùng với những đảo nhỏ ở
lân cận đều được gọi chung là quần đảo Nam sạ Quần đảo này lúc nào cũng là
một phần lănh thổ của Trung quốc. Nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa có chủ
quyền bất khả tranh nghị và hợp pháp đối với quần đảo nàỵ Ngay từ ngày
15.8.1951, Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa Châu Ân lai
trong bản Tuyên bố về Dự thảo Ḥa ước kư với Nhật bản của Anh Mỹ và Hội nghị
Cựu kim sơn đă long trọng vạchổ rơ rằng: 'Cũng như toàn thể quần đảo Nam sa,
quần đảo Trung sa và quần đảo Đông sa, quần đảo Tây sa (quần đảo Paracel) và
đảo Nam uy (đảo Spratly) lúc nào cũng là lănh thổ của Trung quốc. Mặc
dù đă có thời kỳ những đảo này bị Nhật bản chiếm đóng trong trận chiến tranh
xâm lăng do đế quốc Nhật bản gây ra, sau
khi Nhật bản đầu hàng, Chính phủ Trung Hoa lúc bấy giờ đă thu hồi lạị' Cớ do
Chính phủ Phi luật tân nêu ra để che đậy ư đồ xâm chiếm lănh thổ của Trung
quốc, quần đảo Nam sa, hoàn toàn không thể biện minh được.
"Chính phủ nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa long trọng tuyên bố: sự xâm phạm
chủ quyền hợp pháp của Trung quốc đối với quần đảo Nam sa của bất cứ quốc
gia nào, v́ bất cứ lư do nào, và bằng bất cứ phương tiện nào, cũng tuyệt đối
không thể dung thứ được."(43)
Một lần nữa chúng ta thấy bản tuyên bố vừa kể trên cũng không nêu ra một chi
tiết cụ thể nào để chứng minh chủ quyền của Trung quốc đối với quần đảo
Trường sa, và cả Hoàng sa nữa. Vẫn chỉ là sự tái khẳng định chủ quyền
đó một Cách vu vơ thôị Về phía Đài loan, Chính phủ Trung Hoa Dân quốc,
qua đại sứ ở Manila, đă phản kháng mạnh mẽ cùng Chính phủ Phi luật tân và
viện vào cớ là quần đảo này thuộc về Trung quốc từ thế kỷ thứ 15. Chúng tôi
rất tiếc không được rơ nội dung sự phản kháng này nên không biết luận cứ của
Đài loan ra sao và căn cứ vào đâu Đài loan cho là chủ quyền đó có từ thế k
thứ 15.
Song song với việc phản kháng tại Manila, phát ngôn viên Đài loan
c̣n loan tin Đài loan phái một lực lượng đặc nhiệm tới quần đảo Trường sa
"có thể và chắc chắn sẽ xảy ra" và quả thực một hạm đội Đài loan đă được
phái tới nơi trong một thời gian ngắn để ngăn chặn mọi việc không hay xảy rạ
Nhận được tin này, Ngoại trưởng Phi luật tân vội vàng chỉ thị cho Đại sứ Phi
luật tân tại Đài bắc là Narciso Ramos báo cho Chính phủ Đài loan "không nên
quá e ngại về diễn biến của t́nh h́nh." Ngoài ra ông cũng loan báo là Chính
phủ Phi luật tân chưa có một thái độ chính thức nào về những lời tuyên bố
của Cloma và tuy Phi luật tân chưa thăm ḍ ư kiến với Chính phủ Hoa kỳ về
vấn đề này, ông ngh rằng nếu sau này cần có một trung gian ḥa giải th́ Hoa
kỳ sẽ là "một trọng tài công minh chính trực" v́ Hoa kỳ có quan hệ thân hữu
với cả hai nước.
Trong khi đó, ngày 8.6.1956 Cloma lại phái một đoàn thứ 2 mang thực phẩm ra
tiếp tế cho 29 thủy thủ đă ở lại quần đảo trong chuyến đi thứ nhất.
đảo Thái b́nh, các thủy thủ của Cloma thấy hải quân Đài loan đă bốc rỡ những
mốc bia đánh dấu mà họ dựng lên trên đảo trong chuyến đi thứ nhất và đă dựng
một dấu hiệu của Trung Hoa Dân quốc trên mốc bia cũ của Nhật bản và cũng vẽ
dấu hiệu Trung Hoa trên tường một căn nhà đổ nát trước kia thuộc trại lính
Nhật bản.
Cuộc chạm trán đầu tiên giữa đội của Cloma và hải quân Đài loan xảy ra ngày
1.10.1956. Lúc thuyền trưởng Filemon Cloma đang ở trên tàu PMI IV bỏ neo ở
ngoài khơi đảo Ciriaco th́ có hai chiếc tàu của Đài loan từ phía nam tiến
lại gần. Thuyền trưởng Cloma được mời lên tàu của Đài loan để thuơng nghị
với thuyền trưởng họ Hồ. Cuộc thảo luận kéo dài 4 tiếng đồng hồ. Sau đó một
đoàn thủy quân Đài loan lên tàu của Cloma kiểm soát trong hai tiếng đồng hồ.
Họ tịchổ thu tất cả súng ống, vơ khí, bản đồ và các tài liệu trên tàụ Mặc dù
có phản kháng, thuyền trưởng Cloma vẫn bị giữ trên tàu măi đến 9 giờ đêm hôm
đó.
Hôm sau, thuyền trưởng Cloma lại dược mời lên tàu Đài loan. Tuy từ chối
không chịu nhận Freedomland là lănh thổ của Trung Hoa và không chịu kư vào
tờ tuyên bố là ông và các thủy thủ sẽ rời Freedomland không bao giờ trở lại,
nhưng ông không bị bắt buộc phải nộp vơ khí cho các viên chức Đài loan. Ngày
3.10.1956 tàu của Đài loan rời khu vực nàỵ
Nói tóm lại, cả Bắc kinh lẫn Đài bắc đều nhận hai quần đảo Trường sa và
Hoàng sa là lănh thổ của Trung quốc. Tuy nhiên, cả hai chính phủ Quốc Cộng
Trung Hoa lại vẫn không đưa ra dược một dẫn chứng cụ thể nào để bênh vực
quan điểm của ḿnh mà chỉ biết dùng vơ lực để ép người khác phải nh́n nhận
quan điểm của họ. Chính sách sử dụng vơ lực này 18 năm sau (1974) đă được
Trung quốc dùng tới một lần nữa, lần này đến phiên Trung Cộng.
IV. Dịp Việt Nam Cộng ḥa bắt giữ ngư dân Trung Cộng (1959)
Ngót ba năm sau, năm 1959, lại có một biến cố khác đă xảy ra khiến cho Trung
quốc có dịp lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và
Trường sạ
Đêm ngày 20 rạng ngày
21.2.1959, một đơn vị hải quân Việt Nam Cộng ḥa đóng tại quần đảo Hoàng sa
phát giác thấy Trung Cộng đă lén đưa ngư dân đổ bộ lên các đảo Cam tuyền
(Robert), Duy mộng (Drummond) và Quang ḥa (Duncan) trong nhóm Nguyệt thiềm
(Crescent) thuộc quần đảo Hoàng sa với mục đíchổ chiếm lấy quần đảọ Đây
không phải là lần đầu họ làm như vậỵ Năm 1956 các ngư dân Trung Cộng đă lén
lút đổ bộ lên Lâm đảo (Wooded Island) và đảo Linh côn (Lincoln Island), cũng
thuộc nhóm Nguyệt thiềm, và sau được thay thế bằng quân chính qui của Trung
Cộng. Tuy nhiên lần đổ bộ này họ không thành công. Hải quân Việt Nam
Cộng ḥa đă ngăn chặn các ngư thuyền của họ và ra lệnh cho họ rút luị Khi họ
từ chối và kháng cự, các lực lượng hải quân Việt Nam Cộng ḥa đă bắt giữ 82
ngư dân và 5 ngư thuyền. Vài bữa sau họ được thả.
Ngót một tuần sau, Bắc kinh mới phản ứng. Trong một bản tuyên bố ngày
27.2.1959, Bộ Ngoại giao Trung Cộng đă vu cáo là hải quân VNchổ đă xâm nhập
bất hợp pháp quần đảo Hoàng sa, bắt cóc 82
ngư dân và chiếm giữ 5 ngư thuyền cùng các tài sản khác của ngư dân Trung
Cộng. Bản tuyên bố c̣n nói thêm là:
"Quần đảo Tây sa là một phần của lănh thổ Trung quốc. Chính phủ nước Cộng
ḥa Nhân dân Trung Hoa đă long trọng tuyên bố về sự kiện này ngày 15.8.1951
và ngày 29.5.1956. Bây giờ hải quân Nam Việt đă vi phạm sự toàn văn lănh thổ
của Trung quốc và bắt cóc các ngư dân, ngư thuyền Trung Hoạ Điều này làm cho
nhân dân Trung Hoa hết sức tức giận.
"Bộ Ngoại giao nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa long trọng cảnh cáo nhà cầm
quyền Nam Việt phải phóng thíchngay những ngư dân Trung Hoa bị bắt cóc, trao
trả tất cả các ngư thuyền và tài sản khác đă bị chiếm mang đi, bồi thường
thiệt hại cho những người này và bảo đảm không để cho những việc bất hợp
pháp tương tự tái diễn trong tương laị Nếu không, nhà cầm quyền Nam
Việt sẽ phải chịu tráchổ nhiệm về tất cả các hậu quả."(44)
Bản tuyên ngôn này, cũng như biết bao bản tuyên ngôn trước đó, không hề đưa
ra một chi tiết nào để chứng minh Hoàng sa, và cả Trường sa nữa, là một phần
lănh thổ của Trung quốc. Tuy nhiên, bản tuyên bố cũng mang một vài điểm đáng
cho chúng ta chú ư.
Thứ nhất, khác với những lần trước Trung Cộng chỉ nói đến chủ quyền của
Trung quốc trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa và sự không dung thứ
những hành vi nào mà Trung Cộng cho là vi phạm đến chủ quyền đó thôi, lần
này bản tuyên bố đă đe dọa rằng nhà cầm quyền Nam Việt, một danh từ Trung
Cộng thường dùng để gọi Việt Nam Cộng ḥa, "sẽ phải chịu tráchổ nhiệm về tất
cả những hậu quả." Lời đe dọa đó sau này được Trung Cộng thực hiện bằng việc
đánh chiếm quần đảo Hoàng sa năm 1974.
Thứ hai, Trung Cộng đă coi việc hải quân Việt Nam Cộng ḥa đóng tại quần đảo
Hoàng sa là xâm nhập bất hợp pháp quần đảo Hoàng sa và vi phạm sự toàn văn
lănh thổ của Trung quốc. Tuy nhiên, điều đáng nói là không phải chỉ đến ngày
20 và 21.2.1959, nghĩa là ngày xảy ra biến cố bắt giữ ngư dân Trung
Cộng, hải quân Việt Nam Cộng ḥa mới tới đồn trú tại đây; trái lại họ đă đồn
trú ở đó từ lâu rồị Một việc quan trọng như vậy, đến độ Trung Cộng phải ghép
vào loại "vi phạm sự toàn văn lănh thổ của Trung quốc" chắc chắn là cả Trung
Cộng lẫn Đài loan đều phải biết. Trái lại, theo sự khảo cứu của chúng tôi,
cả
Trung Cộng lẫn Đài loan không hề lên tiếng phản đối việc đồn trú nàỵ Phải
đợi đến khi ngư dân Trung Cộng bị bắt giữ th́ Trung quốc mới có phản ứng.
Hơn nữa, chỉ có nhà cầm quyền Bắc kinh mới lên tiếng kết tội Việt Nam Cộng
ḥạ Trái lại Đài loan hoàn toàn im lặng, không ra một lời tuyên bố nào, dù
là chính thức hay bán chính thúc, về việc hải quân Việt Nam Cộng ḥa đồn trú
tại quần đảo Hoàng sa cũng như về việc bắt giữ ngư dân, ngư thuyền Trung
Cộng.
Thứ ba, Trung Cộng đă vu cáo hải quân Việt Nam Cộng ḥa "bắt cóc ngư dân,
ngư thuyền Trung Hoạ" Sở d chúng tôi phải dùng từ "vu cáo" ở đây là v́ Trung
Cộng đă dùng từ "bắt cóc" gán ghép cho hành động của hải quân Việt Nam Cộng
ḥạ
Theo định nghĩa "bắt cóc" là tội bắt giữ người một Cách bất hợp pháp
và di chuyển người đó đi nơi khác. Theo luật quốc nội cũng như luật quốc tế,
đây là một h́nh tộị Muốn bị kết tội bắt cóc, ngưới bắt giữ phải phạm những
yếu tố sau đây: cố ư phạm tội, bắt giữ nạn nhân bất hợp pháp, và di chuyển
nạn nhân đi chổ khác.
Cố ư phạm tội có nghĩa là người bắt cóc phải đă có ư định bắt cóc nạn
nhân trước khi thực hiện ư định đó. Trong việc bắt giữ các ngư nhân Trung
Cộng, hải quân Việt Nam Cộng ḥa không hề có ư định bắt giữ họ từ trước mà
chỉ giữ họ lại khi họ không chịu rời khỏi các đảo Cam tuyền, Duy mộng và
Quảng
ḥa theo như yêu cầu của hải quân Việt Nam Cộng ḥa thôị
Bắt cóc là một hành vi bất hợp pháp. Tuy nhiên, nếu người bắt giữ người khác
do tráchổ nhiệm, bổn phận của ḿnh trong phạm vi pháp luật cho phép, dù là
pháp luật quốc nội hay pháp luật quốc tế, người bắt giữ không làm hành vi
bất hợp pháp. Trong vụ bắt giữ ngư dân Trung Cộng, hải quăn Việt Nam Cộng
ḥa hỉ thi hành nhiệm vụ của ḿnh là bảo vệ lănh thổ quốc giạ Đó là một
nhiệm vụ mà bất cứ quân nhân nuớc nào trên thế giới, kể cả Trung Cộng, cũng
phải thi hành. Hơn nữa, nếu người bắt giữ không chịu thả nạn nhân khi nạn
nhân có quyền được thả ra th́ mới có thể bị coi là phạm tội bắt cóc. đây,
hảị quân Việt Nam Cộng ḥa đă thả các ngư dân Trung Cộng ngay sau khi đă làm
các hành vi thuộc bổn phận của ḿnh nên cũng không thể coi là bắt cóc họ.
Nói Cách khác, họ chỉ bắt giữ theo luật định chứ không bắt cóc.
Ngoài ra, việc bắt cóc ngụ ư chỉ người làm ra hành động giới hạn sự di
chuyển của nạn nhân, không cho nạn nhân đi đâu hết. Trái lại, nếu chỉ ngăn
chặn không cho nạn nhân tới một chổ nào v́ một lư do hợp pháp nào th́ việc
đó không phải là bắt cóc. Mặt khác, nếu nạn nhân có Cách thoát khỏi sự
giam giữ mà không nguy hại đến tính mệnh của ḿnh, việc bắt giữ nạn nhân
cũng không thể coi là bắt cóc được. Trong vụ này các ngư dân Trung Cộng đă
được hải quân Việt Nam Cộng ḥa đồn trú tại ba ḥn đảo nơi xảy ra biến cố,
mà Việt Nam Cộng ḥa cho là phần lănh thổ của ḿnh và ủy thác cho hải quân
Việt Nam Cộng ḥa bảo vệ và canh giữ, để cho tự do đi bất cứ nơi nào khác
ngoại trừ đổ bộ lên ba ḥn đảo này nếu không có phép của Việt Nam Cộng ḥạ
Như vậy khi hải quân Việt Nam Cộng ḥa bắt giữ các ngư
dân Trung Cộng không chịu rút lui khỏi ba đảo họ không bắt cóc các ngư
dân đó.
Sau hết, cũng nên nói thêm là Trung Cộng đă dùng sai từ "bắt cóc". Bắt cóc
đ̣i hỏi việc di chuyển nạn nhân đi một nơi khác với nơi bị bắt giữ và nơi đó
không được tiết lộ. Ở đây các ngư dân Trung Cộng không hề bị hải quân Việt
Nam Cộng ḥa di chuyển đi dâu cả, mà chỉ bị ngăn không được lưu lại ba ḥn
đảo thôị Hành vi của hải quân Việt Nam Cộng ḥa không thể bị ghép tội bắt
cóc được.
Thứ tư, chính quyền Bắc kinh đ̣i Vi(r)t nam Cộng ḥa chẳng những là
phải "phóng thíchngay những ngư dân Trung Hoa bị bắt cóc" mà c̣n phải "trao
Dụng ư của Trung Cộng * đây khi vu cáo như vậy là có ư muốn tỏ cho thế
gi3/4i biết rằng hải quân Việt nam Cộng ḥa đă có hành dộng bất hợp pháp của
những tên hải tặc chuyên môn đánh cướp trên mặt bể, chứ không phải là hành
dộng hợp pháp của
các quân nhân bảo v(r) lănh thổ quốc giạ Tuy nhiên, sự vu cáo này của Trung
Cộng cũng không đáng cho mọi người ngạc nhiên v́ Trung Cộng có thói quen vu
cáo và lăng nhục những nước hay những
người đối nghịchổ với Trung Cộng và thói quen đó đă nổi tiếng trên thế giớị
Thứ tư, chính quyền Bắc kinh đ̣i Việt Nam Cộng ḥa chẳng những là phải
"phóng thíchngay những ngư dân Trung Hoa bị bắt cóc" mà c̣n phải "trao trả
tất cả các ngư thuyền và tài sản khác đă bị chiếm mang đi". chổ
này Trung Cộng vu cáo quá lố. Hải quân Việt Nam Cộng ḥa chỉ giữ các ngư dân
Trung Cộng và ngư thuyền thôi và không hề lấy một chút tài sản nào khác chứ
đừng nói là "chiếm mang đị" rả tất cả các ngư thuyền và tài sản khác
đă bị chiếm mang đi". Dụng ư của Trung Cộng ở đây khi vu cáo như vậy là có ư
muốn tỏ cho thế giới biết rằng hải quân Việt Nam Cộng ḥa đă có hành dộng
bất hợp pháp của những tên hải tặc chuyên môn đánh cướp trên mặt bể, chứ
không phải là hành dộng hợp pháp của các quân nhân bảo vệ lănh thổ quốc giạ
Tuy nhiên, sự vu cáo này của Trung Cộng cũng không đáng cho mọi người ngạc
nhiên v́ Trung Cộng có thói quen vu cáo và lăng nhục những nước hay những
người đối nghịchổ với Trung Cộng và thói quen đó đă nổi tiếng trên thế giớị
V. Phản ứng đối với
lời tuyên bố của Tổng thống Phi luật tân về chủ quyền trên quần đảo Trường
sa (1971)
Mười hai năm lại trôi qua đi không có dịp nào dể các nhà cầm quyền Bắc kinh
và Đài bắc lên tiếng về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và
Trường sa, cho tới năm 1971.
Trong một buổi họp báo tại điện Malacanang(45) ngày 10.7.1971, trước buổi
khai mạc hội nghị kỳ thứ 6 của Hiệp hội các Quốc gia Á châu và Thái b́nh
dương trên cấp bậc Tổng trưởng tại Manila, Tổng thống Phi luật tân Ferdinand
Marcos tố cáo quân đội Đài loan, lúc đó đang chiếm đóng ở đảo Thái b́nh (Itu
Aba, hay Ligaw theo tên Phi luật tân), đă đặt những ổ trọng pháo để tăng
cường sự pḥng thủ đảo này và trong một vài trường hợp đă bắn cảnh cáo vào
những phi cơ và tàu của Phi luật tân đi trinh sát trong vùng. ng cũng nói
thêm là Hội đồng An ninh Quốc gia
Phi luât tân trong phiên họp ngày hôm đó đă đồng thanh cho rằng v́ những
diễn biến nhanh chóng xảy ra trong vùng và v́ đảo này ở kế cận lănh thổ Phi
luật tân nên việc một nước ngoài chiếm đóng ở đây là một mối đe dọa trầm
trọng cho nền an ninh của Phi luật tân(46). Ngoài ra, ông c̣n nhắc lại quan
điểm
của Phi luật tân (đă nói ở đoạn III bên trên) là quần đảo Trường sa đang ở
trong chế độ giám hộ trên thực tế của các quốc gia đồng minh theo Ḥa ước
với Nhật bản kư tại Cựu kim sơn ngày 8.9.1951. Trong ḥa ước này Nhật bản
khước từ mọi quyền, danh nghĩa và đ̣i hỏi đối với quần đảo nàỵ Vẫn
theo lời Marcos, v́ quần đảo Trường sa ở dưới chế độ giám hộ, không nước nào
có quyền mang quân đội vào bất cứ ḥn đảo nào trong nhóm quần đảo này nều
không có phép và sự thỏa thuận của các quốc gia đồng minh. Sau hết, ông loan
báo thêm là v́ Đài loan thiết lập một đồn binh tại đảo Thái b́nh không có
phép và sự thỏa thuận của các quốc gia đồng minh nên Phi luật tân đă yêu cầu
Chính phủ Đài bắc rút quân đội khỏi nơi nàỵ
Lời tuyên bố cùa Marcos đă gây ra phản ứng tại nhiều quốc giạ Vài ngày sau
khi có lới tuyên bố này, các Chính phủ Anh và Hoà lan loan báo hai nước
khước từ quyền giám hộ trên quần đảo Trường să47). Chính phủ Việt Nam Cộng
ḥa, qua lời tuyên bố của Ngoại trưởng Trần văn Lắm ngày 13.7.1971, tái
khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường sa mà các dữ kiện
lịch sử và pháp lư chứng tỏ là thuộc về Việt Nam, ít nhất là từ thế k thứ
18. ng cũng nhắc lại lời tuyên bố của cựu Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần
văn Hữu tại Hoà hội Cựu kim sơn ngày 7.9.1951 (đă nói ở phần II bên trên).
Về phần Đài loan, Ngoại trưởng Châu Thư giai đă tuyên bố rằng quần đảo Nam
sa từ thời xa xưa vẫn thuộc về Trung Hoa và quân đội Đài loan đă chiếm đóng
quần đảo này hơn 20 năm quạ Sau đó ông đă hội đàm với Ngoại trưởng Phi luật
tân Carlos Romulo, nhưng nội dung không được tiết lộ.
Đáng tiếc là Châu ngoại trưởng đă không đưa ra một chi tiết hay một thí dụ
nào để chứng minh chủ quyền của Trung quốc đối với quần đảo này "từ thời xa
xưa" và cũng không cho biết là "thời xa xưa" ấy là từ bao giờ. Chúng tôi xin
mở dấu ngoặc ở đây để nói thêm là Đài loan đă cho leo thang thời gian chủ
quyền. Trong lần phản ứng năm 1956 (nói ở phần II bên trên), Đài loan nói là
Trung quốc có chủ quyền trên hai quần đảo này từ thế k thứ 15, nay lại đổi
thành từ thời xa xưạ Hơn nữa, ông lại cố t́nh che dấu tính Cách bất hợp pháp
của việc Quốc quân Đài loan chiếm đóng ở đây như chúng tôi đă tŕnh bày
trong đoạn II bên trên.
Mặt khác, trong vụ này nhà cầm quyền Bắc kinh đă không chính thức lên tiếng
mà chỉ cho phép hăng thông tấn nhà nước là Tân Hoa xă phổ biến ngày
16.7.1971 một bài nhan đề là "Philippine Authorities Openly Violate Chinás
Territorial Sovereignty by Occupying Islands of Chinás Nansha Islands" (Nhà
Cầm Quyền Phi luật tân Công khai Vi phạm Chủ quyền Lănh thổ của Trung quốc
Bằng Cách Chiếm đóng
Các Đảo thuộc Quần đảo Nam sa của Trung quốc), để lên án việc Phi luật tân
phái quân tới chiếm đóng vài ḥn đảo trong quần đảo Nam sa, cho "đó là một
biến cố trầm trọng của một sự vi phạm trắng trợn chủ quyền lănh thổ của
Trung quốc của nhà cầm quyền Phi luật tân trong lúc theo đuổi chính sách xâm
lược và mưu đồ chiến tranh ở Á châu của đế quốc Mỹ." Bài này nói là:
"Quần đảo Nam sa gồm đảo Thái b́nh, đảo Nam uy, đảo Trung nghiệp, đảo Mă
hoan và nhiều cù lao khác ở Nam hảị Những đảo này lúc nào cũng là phần lănh
thổ của Trung quốc. Nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa có quyền bất khả tranh
nghị và hợp pháp trên những đảo nàỵ Mặc dù quần đảo Nam sa đă có lần rơi vào
tay đế quốc Nhật bản sau khi nước này tung ra trận chiến tranh xâm lăng, khi
Nhật bản đầu hàng Ch́nh phủ Trung Hoa lúc bấy giờ đă thu hồi lại quần đảo
nàỵ(48)
Sau khi nhắc lại các lời tuyên bố ngày 15.8.151 của Châu Ân lai và ngày
29.5.1956 của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Cộng là "tuyệt đối không
nước nào được phép vi phạm chủ quyền hợp pháp của Trung quốc trên quần đảo
Nam sa v́ bất cứ lư do nào và dưới bất cứ h́nh thức nào", bài của Tân Hoa xă
c̣n cảnh cáo:
"Chính phủ và nhân dân Trung Hoa tuyệt đối không thể nào dung thứ việc chính
phủ Phi luật tân công khai vi phạm chủ quyền lănh thổ của Trung quốc. Chính
phủ Phi luật tân phải ngưng ngay việc vi phạm chủ quyền lănh thổ của Trung
quốc và rút nhân viên ra khỏi quần đảo Nam sạ"(49)
Điểm đáng chú ư là bài này làm ngơ không đả động ǵ đến việc Đài loan chiếm
đóng đảo Thái b́nh và tuyên bố chủ quyền của Trung quốc trên quần đảo Trường
sạ
Một lần nữa, Trung Cộng, giống Đài loan, không đưa ra được bằng chứng nào mà
chỉ nói vu vơ là quần đảo Trường sa thuộc về Trung quốc thôị
VỊ Luận cứ nêu ra trong vụ đụng độ hải quân với Việt Nam Cộng ḥa (1974)
Vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa bước sang một giai
đoạn mới vào tháng giêng năm 1974, lần này đưa đến việc giải quyết bằng vũ
lực qua một cuộc đụng độ hải quân công khai và trực tiếp giữa Việt Nam Cộng
ḥa và Trung Cộng tại quần đảo Hoàng sạ V́ là một nước rất nhỏ bé, về
địa dư cũng như về nhân số, so với Trung Cộng, v́ không được sự giúp đỡ tận
t́nh của các quốc gia tự nhận là đồng minh, v́ bị thế giới làm ngơ và v́
kiệt sức trước cuộc chiến tranh trong nước đă kéo dài ngót 30 năm, Việt Nam
Cộng ḥa chỉ chống lại Trung Cộng được có hai ngày để rồi cuối cùng nh́n
thấy quần đảo Hoàng sa rơi vào tay Trung Cộng mà hậu quả c̣n kéo dài tới
ngày naỵ
Biến cố này xảy ra sau khi Chính phủ Việt Nam Cộng ḥa đă quyết định sáp
nhập quần đảo Trường sa vào xă Phước hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước tuy, ngày
6.9.1973(50).
Đây không phải là lần đầu tiên có sự sáp nhập hai quần đảo Hoàng sa và quần
đảo Trụng sa vào các đơn vị hành chính nội địa ở Việt Nam. Thực vậy, trong
thời Pháp thuộc, ngày 21.12.1933 quần đảo Trường sa đă được sáp nhập vào địa
phận tỉnh Bà rịa (51) và ngày 30.3.1938 quần đảo Hoàng sa được sáp nhập vào
tỉnh Thừa thiên(52). Từ khi Việt Nam giành được độc lập khỏi tay thực dân
Pháp, quần đảo Hoàng sa dược tổ chức thành xă Định hải, do một phái viên
hành chính cai trị và trực thuộc quận Hoà vang, tỉnh Quảng nam ngày
13.7.1961(53), rồi đến ngày 21.10.1969 xă Định hải (tức quần đảo Hoàng sa)
sáp nhập vào xă Ḥa long cùng quận Ḥa vang, tỉnh Quảng nam(54); c̣n quần
đảo Trường sa được đặt thuộc tỉnh Phước tuy (tên mới của tỉnh Bà rịa) ngày
22.10.1956(55). Nghị định ngày 6.9.1973 chỉ đổi quận trực tiếp quản trị quần
đảo Trường sạ
Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy là trong các việc sáp nhập hai quần đảo Hoàng
sa và Trường sa trước đây các chính phủ Trung Hoa không hề lên tiếng phản
đối ǵ cả. Chỉ đến lần cuối cùng, năm 1973, th́ cả Bắc kinh lẫn Đài loan mới
có phản ứng.
Ạ Phản ứng của Trung Cộng
1. Tuyên bố ngày 1.1.1974
Điều chúng ta không hiểu rơ là v́ lư do ǵ mà măi hơn 4 tháng sau khi có
việc sáp nhập quần đảo Trường sa vào quận Đất Đỏ Bắc kinh mới có phản ứng.
Ngày 11.1.1974 Bộ Ngoại giao Trung Cộng đă ra một bản tuyên bố(56), mở đầu
như sau:
"Cách đây không lâu, nhà cầm quyền Sài g̣n ở Nam Việt đă trắng trợn loan báo
đặt hơn mười đảo thuộc quần đảo Nam sa của Trung quốc, kể cả Nam uy và Thái
b́nh, dưới quyền quản trị của tỉnh Phước tuy ở Nam Việt. Đây là một sự xâm
phạm điên cuồng đến sự toàn văn lănh thổ và chủ quyền của Trung quốc."
Sau khi nhắc lại lời tuyên bố đă từng được nói tới nhiều lần là "cũng giống
như các quần đảo Tây sa, Trung sa và Đông sa, quần đảo Nam sa luôn luôn là
lănh thổ của Trung quốc," bản tuyên bố đă tố cáo đây không phải là lần đầu
Việt Nam Cộng ḥa đă có hành động như vậy:
"Trong những năm gần đây nhà cầm quyền Sài g̣n đă gia tăng xâm chiếm vài ḥn
đảo trong quần đảo Nam sa và Tây sa, trong nhiều trường hợp đă ồn ào đ̣i chủ
quyền trên hai quần đảo này, ngay cả dựng các "bia chủ quyền" trên đó. Giờ
đây nhà cầm quyền Sài g̣n lại đi thêm bước nữa, công khai sáp nhập hơn mười
đảo, kể cả đảo Nam uy và Thái b́nh, vào ranh giới của ḿnh. Hành động này
tạo nên một bước mới nhằm nắm vnh vin quần đảo Nam sa của Trung quốc."
Đoạn bản tuyên bố nhắc lại lập trường cũ của Trung Cộng:
"Chính phủ nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa nhắc lại ở đây rằng các quần đảo
Nam sa, Tây sa, Trung sa và Đông sa tất cả đều là phần của lănh thổ
Trung quốc. Nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa có chủ quyền bất khả tranh nghị
trên những quần đảo nàỵ"
Sau hết bản tuyên bố đă kết luận bằng Cách phủ nhận giá trị hành động của
Việt Nam Cộng ḥạ
"Quyết định của nhà cầm quyền Sài g̣n đem sáp nhập đảo Nam uy, Thái b́nh và
các đảo khác ở quần đảo Nam sa vào Nam Việt là bất hợp pháp và vô hiệu lực.
Chính phủ Trung Hoa sẽ không bao giờ dung thứ việc xâm phạm đến sự văn toàn
lănh thổ và chủ quyền nào do nhà cầm quyền Sài g̣n gây rạ"
Bản tuyên bố ngày 11.1.1974 này vẫn không đưa ra bằng chứng nào để chứng
minh hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa thuộc về Trung quốc. Tuy nhiên, bản
tuyên bố đó có mấy điểm đáng cho chúng ta chú ư.
Thứ nhất, không giống các lần tuyên bố trước, lần tuyên bố này có giọng điệu
gay gắt hơn ("trắng trợn loan báo," "xâm phạm điên cuồng," "ồn ào đ̣i chủ
quyền") như báo hiệu trước những biện pháp mạnh của Trung Cộng sẽ dùng tớị
Thứ hai, trong những bản tuyên bố trước Trung Cộng chỉ nói đến việc các nước
vi phạm chủ quyền lănh thổ của Trung quốc thôi, lần này Trung Cộng lại vu
cáo Việt Nam Cộng ḥa gia tăng xâm chiếm hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa
trong mưu đồ nắm vnh vin hai quần đảo nàỵ Sự vu cáo đó dường như nhằm đánh
lạc hướng dư luận quốc tế, qui tội xâm lăng cho Việt Nam Cộng ḥa trước, để
cho việc đánh chiếm hai quần đảo này của Trung Cộng trở nên hợp pháp, nghĩa
là muốn chứng minh Trung Cộng chỉ dùng vơ lực để bảo vệ lănh thổ, chủ quyền
của ḿnh thôị Nhận xét này đă được chứng minh rơ ràng sau ngày
19 và 20.1.1974. Khi Trung Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng sa, thế giới đă
hoàn toàn im lặng, không một nước nào lên tiếng. Ngay cả Liên
hiệp quốc, một tổ chức quốc tế có bổn phận duy tŕ an ninh thế giới, cũng
giữ thái độ im lặng khó hiểụ Ngoài
ra, sau biến cố này Việt Nam Cộng ḥa tính đưa nội vụ ra trước Liên hiệp
quốc và chun bị hồ sơ kiện tại Toà Án Quốc tế, nhưng một số nước vẫn nhận là
đồng minh của Việt Nam Cộng ḥa đă t́m Cách ngăn cản để cho Việt Nam Cộng
ḥa không thể làm được việc nàỵ Đấy là chưa kể vào thời gian xảy ra vụ Trung
Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng sạ Đệ Thất Hạm đội của Hoa kỳ đang tuần tiu
và hoạt động ở quanh vùng biển Đông, gọi là để bảo vệ Việt Nam Cộng ḥa,
cũng không có một phản ứng nào trước hành động của Trung Cộng.
Thứ ba, từ năm 1956 trở đi, mỗi khi nói đến chủ quyền của Trung quốc trên
hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa, Trung Cộng bao giờ cũng dùng từ "chủ
quyền bất khả tranh nghị và hợp pháp" hay "chủ quyền hợp pháp". Tuy
nhiên trong lần tuyên bố ngày 11.1.1974 này và cả những lần sau đó,
như chúng ta sẽ thấy Trung Cộng chỉ nói tới "chủ quyền bất khả tranh
nghị" hay "chủ quyền bất khả
xâm phạm" thôi và hoàn toàn không dùng từ "hợp pháp" nữạ Có lẽ Trung Cộng đă
yên chí là thế giới đă mắc phải bả của ḿnh rồi nên thấy không cần dùng từ
này nữa!
Thứ tư, lần đầu tiên Trung Cộng đă công khai bộc lộ rơ nguyên nhân thầm kín
thúc đẩyviệc tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa:
đó là nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng nàỵ Thực vậy, bản tuyên bố ngày
11.1.1974 có câu:
"Các tài nguyên thiên nhiên trong các vùng biển quanh các quần đảo này cũng
thuộc về Trung quốc."
Điểm đáng chú ư ở đây là sự sử dụng chữ của Trung Cộng. Bản tuyên bố
không nói là những tài nguyên thiên nhiên trên càc quần đảo này mà lại nói
tới "những tài nguyên thiên nhiên trong các vùng biển quanh các quần đảo
này" cũng thuộc về Trung quốc. Như vậy, Trung Cộng cố đ̣i cho kỳ
được chủ quyền đối với Hoàng sa và Trường sa không phải chỉ v́ chổ phân
chim, phốt phát hay các tài nguyên khác t́m thấy trên hai quần đảo mà chính
là nhằm vào những túi dầu có ở quanh hai quần đảo đương tranh. Đây mới là
động lực chính thúc đẩy Trung cộng ra tay hành động mạnh.
Tưởng cũng cần nhắc lại là Trung Cộng chỉ lên tiếng với các lời lẽ gay gắt
hơn và sau này đi đến h́nh thức tranh chấp cực đoan hơn bằng Cách dùng đến
vơ lực để chiếm quần đảo Hoàng sa, sau khi mấy công ty dầu ngoại quốc đă kư
giao kềo khai thác dầu ở ngoài khơi Việt Nam với chính phủ Việt Nam Cộng ḥạ
Giả thử quanh hai quần đảo này không có các túi dầu quan trọng th́ chưa chắc
Trung Cộng đă làm ǵ, có lẽ vẫn giữ nguyên thái độ cũ là chỉ tuyên bố, đe
dọa suông như mọi lần, chứ không đánh chiếm quần đảo Hoàng sạ V́ vậy chúng
ta có thể đề quyết không sợ bị sai lầm là chính v́ các túi dầu của Việt
Nam Cộng ḥa mà Trung Cộng đă ra taỵ
2. Tuyên bố ngày 20.1.1974
Tuy nhiên bản tuyên bố ngày 11.1.1974 mới chỉ là màn giáo đầụ Tám ngày sau
đă xảy ra một cuộc hải chiến hai ngày 19 và 20.1.1974 tại vùng quần đảo
Hoàng sa giữa Việt Nam Cộng ḥa và Trung Cộng. Điều chúng ta thắc mắc là
không hiểu tại sao Trung Cộng không chọn quần đảo Trường sa để ra tay mà lại
chọn quần đảo Hoàng sạ Phải chăng v́ quần đảo này ở gần hải phận của Việt
Nam Dân chủ Cộng ḥa (Bắc Việt) hơn nên các cuộc hành quân của Trung Cộng
không bị trở ngại và c̣n được Bắc Việt chống lưng cho hơn là một cuộc hành
quân ở quần đảo Trường sa nằm măi sâu xuống phía nam và gần hải phận của
Việt Nam Cộng ḥả
Sau khi có trận hải chiến ở vùng Hoàng sa ngày 20.1.1974 Bộ Ngoại giao Trung
Cộng đă tung ra một bản tuyên bố khác(57). Bản tuyên bố này rất quan trọng
v́ đă đề cập tới một số dữ kiện không hề nói tới trong những bản tuyên bố
khác. Chúng ta sẽ lần lượt cứu xét những dữ kiện đó.
Trước hết, theo đường lối vu khống cố hữu của Trung Cộng, bản tuyên bố ngày
20.1.1974 đă che dấu sự thật và vu cáo là hải quân và không quânViệt Nam
Cộng ḥa đă có hành động trước như là tấn công các ngư thuyền của Trung Cộng
và chiếm hai đảo trong quần đảo Hoàng sa ngày 15.1.1974, tấn công các đảo
khác ngày 19.1.1974 và bắn vào các chiến hạm Trung Cộng đang đi tuần tiụ
Rồi để biện minh hành động quân sự của ḿnh, nhà cầm quyền Trung Cộng đă
tuyên bố:
"V́ bị đẩy tới quá mức chịu đựng nên các đơn vị hải quân, ngư dân và dân
binh của chúng ta [tức là của Trung Cộng] mới anh dũng chống trả để tự vệ và
để trừng phạt đíchổ đáng quân địch xâm lăng."
Sau khi vu cáo "nhà cầm quyền Sài g̣n ở Nam Việt đă từ lâu định xâm chiếm
hai quần đảo Tây sa và Nam sa của Trung quốc" và nhắc lại việc Việt Nam Cộng
ḥa sáp nhập hơn mười đảo thuộc quần đảo Trường sa như đă nói tới trong bản
tuyên bố ngày 11.1.1974, Bộ Ngoại giao Bắc kinh đă lên án là Việt Nam Cộng
ḥa "giờ đây c̣n trắng trợn khiêu khíchổ Trung quốc về quân sự và chiếm lănh
thổ của Trung quốc bằng vơ lực. Đó là điều táo gan đến cùng cực."
Nói Cách khác, bản tuyên bố này cố vẽ một Việt Nam Cộng ḥa hiếu chiến, đă
có những hành động gấy hấn trước và một Trung Cộng hiếu ḥa, chỉ ra tay hành
động khi không thể chịu đựng sự khiêu khíchổ và xâm lăng của Việt Nam Cộng
ḥa được nữạ Mục đíchổ của lời vu cáo này hiển nhiên là nhằm vào dư luận thế
giới nói chung và Hoa kỳ nói riêng hầu chặn trước không cho một nước nào
phản đối Trung Cộng đă vi phạm Hiến chương Liên hiệp quốc, mà Trung Cộng là
một hội viên trước đó ba năm, bằng việc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng sạ Về
điểm này Trung Cộng đă thành công. Không một nước nào trong Liên hiệp quốc
dă lên tiếng cả.
Bản tuyên bố c̣n phê b́nh các hành động của Việt Nam Cộng ḥa là:
"Đồng thời với việc xâm nhập vơ trang vào lănh thổ Trung quốc, nhà cầm quyền
Sài g̣n lại c̣n dùng đến chiến thuật 'k có tội đâm đơn kiện trước,' bịa đặt
là Trung quốc 'đột nhiên thách thức' chủ quyền của chúng trên quần đảo
Tây sa nhằm cố gắng làm rối loạn dư luận quần chúng và lại c̣n khẳng định là
Sài g̣n hoàn toàn có chủ quyền trên quần đảo Tây sa và không một quốc gia
nào tham dự Hội nghị Cựu kim sơn năm 1951 lại phản đối việc chúng đ̣i chủ
quyền."
Tới đây Bộ Ngoại giao Bắc kinh nhắc lại lời tuyên bố cố hữu là: "Như mọi
người đều biết, quần đảo Tây sa cũng như các quần đảo Nam sa, Trung sa và
Đông sa luôn luôn là lănh thổ của Trung quốc." Điểm đáng nói ở đây là sau
khi tuyên bố chủ quyền này là "một sự thực bất khả tranh nghị" bản tuyên bố
của Bắc kinh đă gài thêm một câu là "mọi người Trung Hoa đều chủ trương như
vậỵ"
Câu này nhằm chặn họng trước Đài loan để đề pḥng trường hợp Đài loan, v́
nhu cầu muốn duy tŕ sự giao hảo với Việt Nam Cộng ḥa vào lúc các quốc gia
khác dần dần bỏ rơi Đài loan sau khi Trung Cộng được gia nhập Liên hiệp quốc
năm 1971 và đang được Hoa kỳ o bế, và v́ vốn có cừu thù với Trung Cộng, coi
việc ǵ Trung Cộng làm cũng là trái với quyền lợi của Trung quốc, quay ra
chống đối hành động cưỡng chiếm Hoàng sa của Trung Cộng, khiến cho Đài loan
không thể làm ǵ khác được. Hơn nữa, câu này c̣n có ư thách thức Đài
loan có dám đi ngược lại với quyền lợi của Trung quốc không.
Về điểm này Trung Cộng cũng đă thành công. Đài loan không những đă phụ họa
với Trung Cộng trong việc đ̣i chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường
sa mà lại c̣n phái thêm quân đến chiếm đóng vài ḥn đảo thuộc quần đảo
Trường sa của Việt Nam Cộng ḥa để sn sàng chống lại khi cần.
Mặt khác, trái với các tuyên bố trước đây chỉ đề cập tới việc quần đảo Hoàng
sa (và cả Trường sa) bị Nhật bàn chiếm đóng trong thời Thế chiến thứ II và
sau đó Chính phủ Trung Hoa Dân quốc đă thu hồi lại, lần này bản tuyên bố
ngày 20.1.1974 đưa ra một chi tiết tuy không mới lạ đối với Việt Nam nhưng
lại mới đối với các người ngoại cuộc: đó là việc Pháp chiếm đóng quần đảo
Hoàng sạ
"Mặc dù vài ḥn đảo thuộc quần đảo Tâ sa có một thời kỳ trước Thế chiến thứ
II đă bị Pháp chiếm đóng và sau đó đến lượt Nhật bản, nhưng sau Thế chiến,
quần đảo Tây sa cũng như các đảo khác trong Nam hải đă được Chính phủ Trung
Hoa lúc bấy giờ chính thức thu hồị"
Chúng ta tự hỏi tại sao Trung Cộng lần này lại đề cập tới việc Pháp chiếm
đóng quần đảo Hoàng sả Câu hỏi này thật khó trả lờị
Nếu bảo rằng đó chỉ là để đáp lại lời tuyên bố của Việt Nam Cộng ḥa ngày
12.1.1974 và 16.1.1974 trong đó đă nêu việc trong thời gian Việt Nam bị Pháp
đô hộ (1862 1945) "nhân danh vương quốc Việt Nam, Chánh phủ Pháp đă thực
hiện việc chiếm cứ chính thức đảo Hoàng sa"(58) và đặt "quần đảo Hoàng sa
thành đơn vị hành chánh sáp nhập vào tỉnh Thừa thiên" cùng "thiết lập hai
đơn vị hành chánh tại quần đảo Hoàng sa là đơn vị Croissant và đơn vị
Amphytrite"(59) để chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo th́ lập
luận này không đúng. Tại saỏ Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam Cộng
ḥa đă đưa ra bằng chứng nàỵ Thực vậy, suốt từ khi có Ḥa hội Cựu kim sơn
năm 1951, và nhất là từ năm 1956, trở đi, Việt Nam Cộng ḥa đă nhiều lần
nhắc tới việc Pháp đă nhân danh Việt Nam chiếm hữu hai quần đảo Hoàng sa và
Trường sa để chứng minh chủ quyền của ḿnh. Lại nữa, trong vụ Phi luật tân
đ̣i chủ quyền trên quần đảo Trường sa năm 1976 (đă nói ở đoạn III bên trên),
Xử lư Thường vụ Toà Đại sứ Pháp tại Manila ngày 9.6.1956 đă thông báo cho Bộ
Ngoại giao Phi luật tân về việc Pháp chiếm hữu hai quần đảo Hoàng sa và
Trường să60). Như vậy không phải là Trung Cộng không biết đến việc Pháp
chiếm hữu hai quần đảọ
Câu hỏi là tại sao trong mọi lần trước Trung Cộng không đả động ǵ đến sự
kiện này mà nay lại nhắc tớỉ Phải chăng đó là v́ Trung Cộng muốn leo thang
việc chứng minh chủ quyền của Trung quốc trên quần đảo đương tranh có từ
trước Thế chiến thứ II nhưng đă bị Pháp chiếm mất? Không chắc như vậỵ Một
luận cứ kiểu này không thể nào đánh đổ được luận cứ của Việt Nam Cộng ḥa về
tính Cách hợp pháp của chủ quyền của Việt Nam Cộng ḥa trên quần đào này
cũng như trên quần đảo Trường sa, và cũng không thể nào chứng minh được chủ
quyền của Trung Cộng. Vả lại, nếu đúng v́ mục đíchổ này th́ tại sao trong
các lần tuyên bố trước Trung Cộng không hề nêu yếu tố Pháp ra, mà chỉ nói
tới yếu tố Nhật bản chiếm đóng Hoàng sa và Trường sa thôỉ
Hay là v́ những lần trước Trung Cộng đă không biết đến yếu tố Pháp nàỷ Càng
không đúng nữa v́ các tuyên bố của Việt Nam Cộng ḥa về vấn đề chủ quyền
trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa từ 1951 đến nay luôn luôn đề cập tới
yếu tố Pháp. Chắc chắn Trung Cộng đă nghiên cứu kỹ lưỡng các tuyên
bố của Việt Nam Cộng ḥạ V́ thế không có lư do ǵ để tin được là Trung Cộng
đă không biết đến yếu tố nàỵ
Cũng không thể cho rằng Trung Cộng đă coi thường yếu tố nàỵ Không một nhà
hoạchổ định chính sách của một quốc gia nào có thể và có quyền coi thường
bất cứ một chi tiết nào, dù là cỏn con, để có ảnh hưởng tai hại cho quốc giạ
Điều này lại càng đúng hơn nữa đối với Cộng sản nói chung và Trung Cộng
nói riêng, vốn có thói quen "cái tóc chổ tư" trong việc nghiên cứu bất cứ
vấn đề nàọ
Mặt khác, trong bản tuyên bố ngày 20.1.1974 này Trung Cộng đă chú trọng đến
bản chất và giá trị cái mà họ gọi là sự thu hồi hai quần đảo Hoàng sa và
Trường sa của Chính phủ Trung Hoa sau khi Thế
chiến thứ II chấm dứt. Các bản tuyên bố trước chỉ nói là "Chính phủ Trung
Hoa lúc bấy giờ đă thu hồi" hai quần đảo thôị Lần này bản tuyên bố đi xa hơn
bằng Cách thêm trạng từ "chính thức" để làm nổi bật giá trị hành vi của
Trung Cộng và đồng thời để biện minh sự đ̣i hỏi chủ quyền của ḿnh.
Hơn nữa, sau khi lập lại lời tuyên bố ngày 15.8.1951 của Châu Ân lai như mọi
lần trước, bản tuyên bố ngày 20.1.1974, để biện hộ cho việc cưỡng chiếm quần
đảo Hoàng sa của ḿnh, đă viện dẫn đến chiêu bài là:
"Trung quốc là một quốc gia xă hội chủ nghĩa Chúng tôi không bao giờ chiếm
đóng lănh thổ của nước khác, nhưng chúng tôi cũng sẽ không để cho các nước
khác chiếm đóng lănh thổ của chúng tôị"
Ngoài ra, làm như có sự đồng nhất quan niệm và chính sách của nhà cầm quyền
Cấm thành và nhân dân Trung quốc trong mọi việc, bản tuyên bố này c̣n gài
thêm một câu là:
"Để bảo vệ sự toàn văn lănh thổ và chủ quyền của Trung quốc, Chính phủ và
nhân dân Trung Hoa có quyền làm mọi hành vi cần thiết để tự vệ."
Trước đây các lănh tụ Trung Cộng chỉ nói đến chính phủ không thôị Từ bản
tuyên bố này trở đi nhân dân Trung quốc được chính quyền Bắc kinh đoái hoài
tới trong vụ tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sạ
Sau hết, bản tuyên bố ngày 20.1.1974 lại một lần nữa đă cố tô vẽ một Việt
Nam Cộng ḥa hiếu chiến dám chống đối một lân bang khổng lồ bằng Cách đ̣i
"Nhà cầm quyền Sài g̣n phải ngưng ngay lập tức mọi khiêu khíchổ quân sự
chống Trung quốc" với mục đíchổ chứng minh cho thế giới biết rằng chỉ có
Trung Cộng mới hiếu ḥa thôị Bản tuyên bố kết thúc bằng một sự đe dọa quen
thuộc: "Nếu không, họ sẽ phải chịu mọi hậu quả do các hoạt động này gây
nên."
3. Bài tường thuật nội vụ trận hải chiến tại Hoàng sa
Cùng lúc với bản tuyên bố ngày 20.1.1974 trên, guồng máy tuyên truyền của
Trung Cộng đă cho phổ biến một bài tường thuật nội vụ cuộc hải chiến nhan đề
"Saigon Authorities Invade Chinás Hsisha Islands and Provoke Armed
Conflicts"(61).
Bài tường thuật này bổ túc bản tuyên bố nói trên. Nó đă xuyên tạc mọi chi
tiết, bóp méo hay thổi phồng các dữ kiện hay sự kiện trong một mục đíchổ
chung là tô vẽ hai h́nh ảnh. Một h́nh ảnh Việt Nam Cộng ḥa hiếu chiến đă
"trắng trợn xâm phạm sự toàn văn lănh thổ và chủ quyền của Trung quốc cùng
là điên
cuồng khiêu khíchổ nhân dân Trung Hoa," với những hành động nào là "mặt dạn
mày dày phái chiến thuyền và phi cơ xâm nhập lănh hải và lănh không của
Trung quốc ở chung quanh và phía trên quần
đảo Tây sa, cưỡng chiếm quần đảo của Trung quốc và nổ súng bắn vào các ngư
dân Trung Hoa đang làm công tác sản xuất và vào hải hạm Trung Hoa đang đi
tuần tiu theo thường lệ," nào là "khuấy rối và phá hoại ngư thuyền Trung
Hoạ..đang làm công tác sản xuất ở gần đảo Cam tuyền, bắn lên đảo có treo
quốc kỳ của nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa và vô lư ép ngư thuyền Trung
Hoa phải rời hải vực của ḿnh," nào là "chiếm đảo Cam tuyền và om ṣm hạ
quốc kỳ của Trung Hoa ở đó," nào là "đâm vào các ngư thuyền Trung Hoa một
Cách tàn bạo và vô lư," nào là "tiếp tục gia tăng khiêu khíchổ và không thềm
để ư đến những lời cảnh cáo liên tiếp của Trung quốc," nào là "bắn chết và
gây trọng thương cho một số [ngư dân Trung Hoa]," nào là "dội bom san bằng
đảo," v.v... H́nh ảnh khác là một Trung Cộng hiếu ḥa,
với những hành động như là "đấu tranh chính đáng bằng cách lư luận với họ
[tức là quân s Việt Nam Cộng ḥa] và yêu cầu họ rời khỏi lănh thổ của Trung
quốc, "rồi chỉ chống trả lại khi "bị dồn ép đến quá mức chịu đựng" và "để tự
vệ."
Bài tường thuật c̣n nhắc lại lời vu cáo là "Nhà cầm quyền Sài g̣n ở Nam Việt
đă từ lâu nuôi ư đồ thôn tính các ḥn đảo của Trung quốc ở Nam hải và đă
chiếm đóng một Cách bất hợp pháp một vài ḥn đảo thuộc quần đảo Nam sa và
Tây sa của Trung quốc" và bản tuyên bố ngày 11.1.1974 của phát ngôn viên bộ
Ngoại giao Trung Cộng đă "nghiêm khắc lên án sự xâm lấn vô luân của nhà cầm
quyền Sài g̣n vào sự toàn văn lảnh thổ và chủ quyền của Trung quốc và tái
khẳng định là Trung quốc có chủ quyền bất khả tranh nghị trên các quần đảo
Nam sa, Tây sa, Trung sa và Đông sạ" Tuy nhiên, vẫn theo bài tường thuật,
"dù chính phủ Trung Hoa đă liên tiếp cảnh cáo, chúng [tức là Việt Nam Cộng
ḥa] vẫn phái quân lực tới lấn chiếm lănh thổ của Trung quốc và gây chiến
... khiến cho nhân dân Trung Hoa hết sức phẫn nộ."
Bài tường thuật kết thúc bằng câu đe dọa là "Nếu nhà cầm quyền Sài g̣n nhất
quyết cố ư hành động như vậy, không chịu ngưng ngay việc lấn chiếm lănh thổ
của Trung quốc th́ nhất định chúng sẽ phải ăn trái đắng của chính chúng."
4. Tuyên bố ngày 4.2.1974
Để đề pḥng mọi bất trắc có thể xảy ra, ngày 1.2.1974 Chính phủ Việt Nam
Cộng ḥa đă phái một đội đặc nhiệm hải quân tới tăng viện pḥng thủ năm đảo
thuộc quần đảo Trường sa và dựng bia chủ quyền tại đâỵ V́ thế, ngày
4.2.1974, Bộ Ngoại giao Trung Cộng lại ra một bản tuyên bố(62) tố cáo hành
động này, coi đó là "một sự xâm lấn điên cuồng đến sự toàn văn lănh thổ và
chủ quyền của Trung quốc và một khiêu khíchổ quân sự mới chống lại nhân dân
Trung Hoa" do đó "Chính phủ và nhân dân Trung quốc cực lực lên án và phản
đối [hành động này]."
Hơn nữa, bản tuyên bố
c̣n nói rằng:
"Chính phủ Trung Hoa đă nhiều lần tuyên bố là các quần đảo Nam sa, Tây sa,
Trung sa và Đông sa tất cả đều là phần lănh thổ của Trung quốc và nước Cộng
ḥa Nhân dân Trung Hoa có chủ quyền bất khả tranh nghị đối với các quần đảo
này và các hải khu chung quanh các quần đảo đó."(nhấn mạnh thêm)
Đoạn bản tuyên bố kết thúc bằng lời tuyên bố cố hữu là:
"Chính phủ nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa nhất quyết không để cho nhà cầm
quyền Sài g̣n xâm lấn vào sự toàn văn lảnh thổ và chủ quyền của Trung quốc
v́ bất cứ lư do ǵ. Lập trường này của Chính phủ Trung Hoa cương quyết không
thể lay chuyển được."
Tuy bản tuyên bố vẫn mang những vu cáo quen thuộc và những luận điệu cũ
ríchổ nhưng nó cũng có một điểm mới đáng nóị Đó là nó đă nới rộng phạm vi
tranh chấp chủ quyền.
Trong những lần tuyên bố trước, Trung Cộng chỉ nói rằng các quần đảo Tây sa,
Nam sa, Trung sa và Đông sa là phần lănh thổ của Trung quốc mà Trung quốc có
chủ quyền bất khả tranh nghị (có khi
lại nói là chủ quyền bất khả xâm phạm) không thôị Lần này, bản tuyên bố ngày
4.2.1974 c̣n nới rộng thêm ra và cho rằng cả các hải khu chung quanh các
quần đảo đó cũng thuộc chủ quyền của Trung quốc.
Như đă nói ở một đoạn bên trên, lư do sự tranh chấp chủ quyền trên các quần
đảo Hoàng sa và Trường sa (và cả Trung sa lẫn Đông sa nữa) là các túi dầu ở
đâỵ Lư do này một lần nữa được Trung Cộng để lộ cho thấy, dù chỉ là gián
tiếp, trong bản tuyên bố ngày 4.2.1974 này, khi Bắc kinh c̣n đ̣i thêm
cả chủ quyền ở các vùng biển chung quanh các quần đảo, nơi gần dây
người ta t́m thấy có những túi dầu quan trọng.
B. Phản ứng của Đài loan
Về phần Đài loan, chính phủ của Tưởng Giới thạchổ đă nhiều lần lên tiếng về
vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa trong thời gian có
trận hải chiến ngày 19 20.1.1974. Trong số những tuyên bố này, có hai tuyên
bố đáng cho chúng ta xét ở đâỵ
1. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Đài loan ngày 7.2.1974
Tuyên bố thứ nhất là của Bộ Ngoại giao Đài loan vào ngày 7.2.1974, nội dung
như sau:
"Gần đây Chính phủ Việt Nam Cộng ḥa tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Nam sa
(Spratly). Đối với lời tuyên bố này, Chính phủ Trung Hoa Dân quốc đă cực lực
phản kháng với Chính phủ Việt Nam và tái khẳng định lập trường là quần đảo
này là phần lănh thổ cố hữu của Trung Hoa Dân quốc và không ai có thể nghi
ngờ chủ quyền của Trung Hoa Dân quốc đối với quần đảo nàỵ
"Quần đảo này đă bị Nhật bản chiếm đóng trong trận Thế Chiến thứ II và được
qui hoàn Trung Hoa Dân quốc khi, sau chiến tranh, vào tháng 12 năm 1946,
Chính phủ Trung Hoa đă phái một hải đội tới thu hồi khỏi tay Nhật bản. Từ đó
trú quân thường trực Trung Hoa đă tới đóng ở đó. Hơn nữa, ngày 1.12.1947,
Chính phủ Trung Hoa Dân quốc đă loan báo cùng thế giới tên tiêu chun của các
đảo, cù lao, ám tiêu, thiển than trong quần đảọ
"Những đảo này, tạo thành phần hoàn chỉnh lănh thổ Trung Hoa, là một sự
thực bất khả tranh nghị. Chính phủ Trung Hoa Dân quốc v́ vậy cương quyết tái
khẳng định chủ quyền của Trung Hoa trên
quần đảo Nam sạ Lập trường này k hông thể bị bất cứ nước nào thay đổi bằng
bất cứ biện pháp nàọ"(63)
Về tuyên bố của Đài loan chúng ta có mấy nhận xét sau quần đảo nàỵ:
Thứ nhất, bản tuyên bố đă đề cập tới việc hải quân Trung Hoa tới thu hồi
quần đảo Trường sa khỏi tay người Nhật vào tháng 12 năm 1946 và từ đó có
quân trú đóng tại đâỵ
Trong phần II bên trên chúng tôi đă tŕnh bày tính Cách bất hợp pháp của sự
tiếp thu quần đảo Trường sa do hải quân Trung Hoa Dân quốc thực hiện
nên không cần nhắc lại ở đâỵ V́ hành vi tiếp thu Trường sa bất hợp pháp nên
luận cứ này của Đài loan không có giá trị nữạ
Thứ hai, ngày 1.12.1947 Chính phủ Đài loan đă thông tri cho thế giới hay
việc đặt tên tiêu chun cho các đảo, cù lao, ám tiêu, thiển than trong quần
đảo Trường sạ Vấn đề đặt ra là việc đật tên đó có phải là yếu tố cần thiết
không có không được để chứng minh quần đảo Trường sa thuộc Trung quốc hay
không.
Đứng về phương diện thực tế, việc đật tên cho một vật ǵ chẳng qua chỉ là để
cho người khác hiểu được người nói muốn ám chỉ, đề cập tới vật đó thôị Nó
không có tính cách bắt buộc. Đứng về mặt pháp lư cũng vậy, việc một người
hay một quốc gia đặt tên cho một vật ǵ không có nghĩa là vật đó đương
nhiên thuộc quyền sở hữu hay thuộc chủ quyền của người hay quốc gia đặt tên
cho nó. Nếu không th́ bất cứ một người hay quốc gia nào cũng có thể đặt tên
cho một vật rồi chiếm ngay lấy vật đó làm vật sở thuộc của ḿnh. Giả thử nếu
Việt Nam đật một tên tiêu chun cho đảo Đài loan rồi tuyên bố cùng thế giới
hay rằng Đài loan thuộc chủ quyền của Việt Nam th́ Đài loan sẽ ngh saỏ Nếu
Hoa kỳ, Nga, Anh, Pháp, v.v..., mi nước cũng đặt cho Đài loan một tên
rồi bảo nó thuộc chủ quyền của ḿnh, như vậy có được không?
V́ lư do này, luận cứ thứ 2 của Đài loan không đứng vững và không có giá
trị.
Thứ ba, căn cứ vào hai sự kiện nêu trên (tiếp thu và đặt tên), Đài loan
tuyên bố rằng quần đảo Trường sa là một phần lănh thổ của Trung Hoa Dân quốc
và sự thực này bất khả tranh nghị.
Chúng ta thấy điều tuyên bố này không có ǵ mới lạ. Nó chỉ là nhắc lại những
lời tuyên bố của Trung Cộng từ trước tới naỵ Cũng giống trường hợp các tuyên
bố của Trung Cộng, nó thiếu sót các chứng liệu để chứng tỏ rằng chủ quyền
của Trung quốc đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là bất khả tranh
nghị. Sự thiếu sót này làm cho luận cứ của Đài loan, cũng như của Trung
Cộng, không có giá trị về thực tế cũng như về pháp lư.
2. Tuyên bố của Tưởng Kinh quốc ngày 24.2.1974
Mười bảy ngày sau khi Bộ Ngoại giao Đài bắc ra bản tuyên bố nói trên, Tưởng
Kinh quốc, con trai của Tưởng Giới thạchổ và lúc đó đang giữ chức Hành chính
viện Viện trưởng tức Thủ tướng Chính phủ Đài loan, trong một cuộc phỏng vấn
dành cho kư giả Roy Rowan của tạp chí Time ngày 24.2.1974 tại Đài bắc cũng
đă đề cập tới vấn đề Hoàng sa và Trường sa như sau(64):
Hỏi: Xin Thủ tướng cho rơ quan điểm của ngài về vụ tranh chấp đối với hai
nhóm quần đảo Paracel và Spratlỵ Liệu quí quốc có pḥng vệ đội trú quân đóng
ở quần đảo Spratly của quí quốc khi bị tấn công không?
Đáp: Chúng ta cần phải duyệt lại lịch sử các quần đảo nàỵ Cách đây nhiều
năm, Chính phủ chúng tôi đă duy tŕ lực lượng tại quần đảo Paracel. Lực
lượng này chỉ là một phần của hệ thống pḥng thủ đảo Hải nam. Việc chúng tôi
rút các lực lượng đó đi không có nghĩa là chúng tôi từ bỏ chủ quyền
của chúng tôi
trên quần đảo Paracel. Việc này chằng qua cũng giống như việc chúng tôi từ
bỏ chủ quyền của chúng tôi trên đảo Hải nam. Quần đảo Spratly được qui hoàn
cho Trung Hoa Dân quốc đồng thời với việc quang phục Đài loan khỏi tay Nhật
bản. Từ nhiều năm rồi binh s của chúng tôi đă trú đóng ở trên ḥn đảo chính
của nhóm Spratlỵ Chúng tôi cuơng quyết làm những ǵ có thể được để pḥng vệ
quần đảo nàỵ Tôi thấy cần phải nói rơ là quân đội của chúng tôi có bổn phận
pḥng vệ lănh thổ ủy thác cho họ.
Hỏi: Liệu có thể có việc Trung Cộng tấn công nhóm Spratly không?
Đáp: V́ Cộng sản có thể tính toán lầm nên chúng tôi không thể gạt bỏ việc đó
được.
Có bốn điểm đáng nói trong các câu trả lời của Tưởng Kinh quốc:
Thứ nhất, Tưởng Kinh quốc làm như hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa đương
nhiên thuộc về Trung quốc rồi nên không đưa ra một bằng chứng nào để chứng
minh chủ quyền thuộc về Trung quốc. Cũng v́ thế tuy ông ta nói là "Chúng ta
cần phải duyệt lại lịch sử các quần đảo này," nhưng nói xong bỏ đấy, ông
không đề cập tới lịch sử đó mà chỉ nói về sự từ bỏ chủ quyền trên Hoàng sa
và việc thu hồi cùng bảo vệ Trường sạ Do đó, những ai muốn t́m hiểu xem v́
lư do nào Đài loan nhận có chủ quyền trên hai quần đảo này không c̣n Cách
nào biết được.
Thứ hai, việc Trung Hoa Dân quốc duy tŕ lực lượng tại quần đảo Hoàng sa và
Trường sa mà Tưởng Kinh quốc nói ở đây chính là việc mà Bành phẩm quang
tường thuật trong một bài báo chúng ta đă xem qua trong phần IỊ Chỉ có một
chi tiết mới là theo họ Tưởng, lực lưọng trú đóng ở Hoàng sa là một phần của
hệ thống pḥng thủ đảo Hải nam của Trung quốc.
Thứ ba, cũng v́ lư do này, theo ông, việc Đài loan từ bỏ chủ quyền đối với
quần đảo Hoàng sa cho Trung Cộng cũng giống việc từ bỏ chủ quyền đối với đảo
Hải nam. Nó không có nghĩa là Đài loan từ bỏ chủ quyền trên quần đảo
nàỵ Nói Cách khác, Tưởng Kinh quốc ngụ ư là dù cho quần đảo Hoàng sa có rơi
vào
tay Trung Cộng th́ nó vẫn c̣n thuộc chủ quyền của Trung quốc, chứ không phải
là của nước khác, không đi đến đâu mà thiệt.
Thứ tư, ông cũng đề cập tới việc quần đảo Trường sa qui hoàn Trung Hoa Dân
quốc và pḥng thủ Trựng sa, không có thêm chi tiết ǵ mới lạ. Có lẽ ông
không biết, hay biết mà lờ không nói, đến tính Cách bất hợp pháp của cái ông
gọi là "qui hoàn" nàỵ
VIỊ Các tuyên bố của Trung quốc từ sau trận hải chiến tháng 1/1974
Sau khi quần đảo Hoàng sa rơi vào tay Trung Cộng tháng 1/1974, các chính phủ
Trung Hoa, cả cộng sản lẫn quốc gia, mi khi có dịp vẫn tiếp tục lên tiếng về
vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường să65). Tuy nhiên, với
thời gian các tuyên bố của chính phủ đó ngày một thưa dần, nhường chổ cho
các tư nhân lên tiếng thay thế. Tất cả những tuyên bố này đều nhắc lại gần
như nguyên văn các tuyên bố chúng ta đă xét trên đây, không có ǵ khác biệt
hay mới lạ. Trong phần này chúng tôi chỉ nêu ra
phải thí dụ điển h́nh thôị
Ạ Tuyên bố ngày 30.3.1974
Cuối tháng 3 năm 1974, trong khóa họp thứ 30 của Hội nghị Á châu Vin đông
Kinh tế y hội (hay Á Vin Kinh ủy hội) thuộc Liên hiệp quốc nhóm tại Colombo,
thủ đô xứ Tíchổ lan (Sri Lanka), khi phái đoàn Việt Nam Cộng ḥa lên án vụ
Trung Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng sa của Việt Nam, đại biểu của Trung
Cộng là Chi Lung đă lên tiếng ngày 30.3.1974(66).
Chi Lung bác bỏ lập luận của phái đoàn Việt Nam Cộng ḥa mà ông gọi là "chủ
trương vô liêm sỉ" và tái xác định lập trường của Trung Cộng về chủ quyền
bất khả tranh nghị của Trung quốc đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa
cùng là các hải khu quanh đó. ng nói thêm là điều 4 chương tŕnh nghị sự của
khóa họp hiện tại đă ghi hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là các khu đảo
cận hải của nhà cầm quyền Sài g̣n ở Nam Việt và c̣n ghi thêm là "đă có khế
ước thám sát và phát triển khoảng 30 khu [như vậy] ở Nam hảị" Đoạn Chi Lung
tuyên bố:
"Quần đảo Tây sa và quần đảo Nam sa ở Nam hải vốn d là một phần bất khả phân
của lănh thổ Trung quốc. Nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa có chủ quyền bất
khả tranh nghị trên những quần đảo này cũng như là các hải khu quanh đó. Mặt
khác, vào ngày 15.8.1951, trong một Tuyên bố về Dự thảo Ḥa ước với
Nhật bản của Anh Mỹ và Hội nghị Cựu kim sơn, Ngoại trưởng Châu Ân lai đă
long trọng tuyên bố là 'cũng như các quần đảo Nam sa, Trung sa và Đông sa,
quần đảo Tây sa và đảo Nam uy lúc nào cũng là lănh thổ của Trung quốc. Mặc
dù những đảo này đă có lúc bị Nhật chiếm đóng một thời gian trong trận chiến
tranh xâm lăng của đế quốc chủ nghĩa Nhật bản, sau khi Nhật bản đầu
hàng Chính phủ Trung Hoa
đă thu hồi những quần đảo nàỵ' Từ đó trở đi Chính phủ Trung Hoa đă nhiều lần
nhắc lại lập trường nàỵ
"Việc văn pḥng hội nghị ghi trong tài liệu nói trên rằng quần đảo Tây sa và
Nam sa của Trung quốc là các đảo cận hải của chính quyền Sài g̣n ở Nam Việt
là một việc sai lầm. Phái đoàn Trung quốc yêu cầu văn pḥng áp dụng mọi biện
pháp để sửa lại li lầm này để sau này không tái diễn việc tương tự nữạ"
Trước lời phản đối kịchổ liệt của đại biểu Việt Nam Cộng ḥa, mà Trung Cộng
gọi là "gào" đ̣i "chủ quyền" trên quần đảo Hoàng sa và "khả ố tấn công Trung
quốc", Chi Lung lại lên tiếng cho rằng hành động của Việt Nam Cộng ḥa chỉ
cốt để "che đậy sự xâm lăng của ḿnh một Cách lăo luyện". ng nói thêm
rằng "Nhà cầm quyền Sài g̣n từ lâu đă muốn chiếm quần đảo Tây sa và quần đảo
Nam sa của Trung quốc" bằng Cách "chẳng những là đă sáp nhập vào lănh thổ
của chúng hơn mười đảo của Trung
quốc, kể cả đảo Nam uy và đảo Thái b́nh thuộc nhóm quần đảo Nam sa, mà lại
c̣n công khai khiêu khíchổ vơ trang chống Trung quốc và chiếm lănh thổ Trung
quốc bằng vơ lực," một việc Chi Lung coi là "hết sức mặt dạn mày dầỵ" Đoạn
ông ta "tái khẳng định chủ quyền bất khả tranh nghị của Trung quốc đối với
những quần đảo này và những hải khu chung quanh đó" và kết luận là "Chính
phủ Trung Hoa sẽ không bao giờ để cho nhà cầm quyền Sài g̣n xâm lấn chủ
quyền lănh thổ của Trung quốc bằng bất cứ lư
do ǵ" và "Lập trường này của Chính phủ Trung Hoa cương quyết và bất di bất
dịch."
Ngoài những lời lẽ thô bỉ và kém l độ không xứng đáng với tư Cách đại diện
quốc gia tại hội nghị quốc tế (chủ trương vô liêm xỉ, gào đ̣i chủ quyền, khả
ố tấn công, hết sức mặt dạn mày dầy), lời tuyên bố của Chi Lung chẳng qua
chỉ là nhắc đi nhắc lại những luận cứ cũ ríchổ của Trung Cộng và không mang
thêm một chi tiết mới lạ nào cả. Tiện đây chúng ta cũng cần nói thêm là kể
từ khi có trận hải chiến tháng 1/1974 và sau vụ cưỡng chiếm quần đảo
Hoàng sa, trong các tuyên bố chính phủTrung Cộng, về vấn đề chủ quyền trên
hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa cũng như về bất cứ vấn đề ǵ khác có liên
quan
tới Việt Nam Cộng ḥa, đă càng ngày càng dùng nhiều lời lẽ thô bỉ đối với
Việt Nam Cộng ḥạ Sở d nhà cầm quyền Cấm Thành phải dùng đến thái độ này có
lẽ là v́ họ biết rằng họ bị đuối lư không thể tranh luận một Cách đứng đắn
với Việt Nam Cộng ḥa về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và
Trường sa nên đành phải dùng đến h́nh thức này, một h́nh thức Trung Cộng tỏ
ra rất điêu luyện.
B. Tham luận ngày 2.7.1974
Ngoài ra, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Luật Biển kỳ 2 nhóm tại Caracas,
thủ đô nước Venezuela, từ 20.6 đến 29.8.1974, trong một bài tham luận đọc
trước hội nghị ngày 2.7.1974, Trưởng phái đoàn Trung Cộng tham dự hội nghị
là Thứ trưởng Ngoại thương Sài Thụ phiên đă bác bỏ những lời tố cáo của phái
đoàn Việt Nam Cộng ḥa về việc Trung Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng sa và
khẳng định là "Quần đảo Tây sa và Nam sa ở biển Nam xưa nay vẫn là một phần
lănh thổ không thể chia cắt của Trung quốc, quyết không cho phép nhà cầm
quyền Sài g̣n v́ bất cứ cớ nào xâm phạm chủ quyền lănh thổ của Trung
quốc."(67)
Giống như các tuyên bố khác của Trung Cộng, tham luận của họ Sài không nêu
ra một bằng chứng nào để cho hội nghị thấy rơ chủ quyền trên hai quần đảo
Hoàng sa và Trường sa quả thực thuộc về Trung quốc. Lời khẳng định của họ
Sài không có ǵ đáng chúng ta chú ư, ngoại trừ từ "xưa nay" được gài thêm mà
trong các tuyên bố trước đây không có. Từ này được thêm có lẽ v́ từ vụ hải
chiến tháng 1/1974 Việt Nam Cộng ḥa đă đưa ra nhiều bằng chứng lịch sử và
pháp lư để chứng minh chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trụng sa thực
sự thuộc về Việt Nam từ mấy thế k rồi nên Trung Cộng phải thêm từ "xưa nay"
hầu để chứng minh chủ quyền của Trung quốc cũng có từ lâụ Tuy nhiên, bài
tham luận của họ Sài, cũng như tất cả những bản tuyên bố khác của Trung
Cộng, vẫn chỉ nói mập mờ như vậy thôi, chứ
không hề nêu ra được một thí dụ điển h́nh nào cả.
C. Các tuyên bố trong năm 1979
Mặt khác, từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm được Nam Việt (30.4.1975)
bang giao Việt Hoa, vốn không mấy tốt đăp từ thập niên 1960 trở đi nên dù
vẫn được các nhà lănh đạo Bắc kinh ví như quan hệ giữa môi và răng, môi hở
th́ răng lạnh, đă trở nên suy sụp nhanh quá mức, biến thành bang giao giũa
hai quốc gia thù nghịch. Ngoài những vụ Việt Nam đuổi các Hoa kiều cư trú
hay sinh trưởng ở Việt Nam ra khỏi nước Việt, đưa đến việc Trung Cộng xua
quân vượt biên giới đánh chiếm mấy tỉnh ở miền Bắc, việc tranh chấp về chủ
quyền đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa cũng leo thang. Trong năm
1979 có ít nhất là 8 lần vấn dề này được nêu rạ
Quan trọng nhất có ba
lần.
1. Tuyên bố của Ngoại trưởng Trung Cộng ngày 16.3.1979
Trong một buổi họp báo ở Bắc kinh ngày 16.3.1979(68), ngoại trưởng Trung
Cộng Hoàng Hoa đă có mấy lời tuyên bố hết sức phi lư, không thể chấp nhận
được.
Thực vậy, khi nói về vấn đề tranh chấp biên giới Việt Hoa, Hoàng Hoa đă nh́n
nhận với các kư giả ngoại quốc là có thể có nhiều điều đáng nghi ngờ về vấn
đề sở hữu "vài chục cây số vuông" dọc biên giới Hoa Việt được qui định trong
hiệp ước giữa triều đ́nh Măn Thanh và nhà cầm quyền đô hộ Pháp kư vào cuối
thế k thứ 19(69). Câu nói của họ Hoàng phải hiểu là v́ ngu dốt không biết ǵ
về lịch sử, địa lư và chính trị
Việt Nam (điều này có thể có được, nhưng khó tin) hoặc v́ để lấy ḷng nhà
cầm quyền Măn Thanh hầu thu hoạchổ được lợi lớn hơn (có lẽ đây là nguyên
nhân chính), Pháp đă trao vài chục cây số vuông lănh thổ của Việt Nam cho
Trung quốc cuối thế k thứ 19. Cái phi lư và trơ trẽn của Hoàng Hoa là ông ta
đă tiêu biểu cho thái độ Trung quốc khinh thị các nước nhỏ bé.
Đành rằng con số vài chục cây số vuông lănh thổ của một quốc gia quả có nhỏ
bé thực, nhất là so với một nuớc có lănh thổ bao la như Trung quốc, nhưng nó
vẫn là một vấn đề trọng đại đối với Việt Nam. Đáng lư ra Hoàng Hoa, với chức
vụ ngoại trưởng của ḿnh, nghĩa là đại diện cho Trung quốc về phương
diện ngoại giao cũng như bang giao quốc tế, phải thẳng thắn tuyên bố
nh́n nhận chủ quyền của Việt Nam đối với vài chục cây số vuông đó, phải tỏ
ra là Trung quốc hối tiếc về sự lầm lẫn này đă làm tổn hại rất lâu cho một
quốc gia vốn có mấy ngàn năm bang giao với Trung quốc và quan hệ Việt Hoa
đó, như trên đă nói, vẫn được Trung quốc coi rất mật thiết giống như quan hệ
giữa răng và môi, và phải đưa ra những đề nghị để giải quyết vấn đề, dù chỉ
là đề nghị sơ khởi và trên lư thuyết. Đằng này họ Hoàng chỉ nói khơi khơi
rằng đó không phải là một điểm tranh chấp quan trọng. Nói Cách khác, tuy
nh́n nhận sự sai lầm, Trung Cộng vẫn cứ chiếm giữ phần đất đó một cách bất
hợp pháp như thường và bất chấp dư luận quốc tế.
Mặt khác, về vấn đề Hoàng sa và Trựng sa, Hoàng Hoa c̣n nói thêm rằng
vào thời kỳ có hiệp ước nói trên Trung quốc không thể cùng Pháp ấn định ranh
giới miền lănh hải và v́ thế không thể nào có sự nghi ngờ về quyền sở hữu
của Trung quốc trên hai quần đảo Tây sa vá Nam sa v́ đă có rất nhiều chứng
cớ lịch sừ chứng minh.
Điều đáng tiếc là Hoàng Hoa đă không cho biết v́ những lư do nào vào cuối
thế k thứ 19 Trung quốc không thể ấn định ranh giới miền lănh hải với Pháp
được. Mặc dù chúng ta có thể suy luận ra được các nguyên nhân, nhưng ở đây
chúng ta không cần nói đến v́ không phải là mục đíchổ của bài nàỵ Điểm chúng
ta cần nhấn mạnh là sự biện hộ rất phi lư của Hoàng Hoạ Chúng ta không thể
nào viện cớ v́ không thể ấn định ranh giới lănh hải của một quốc gia để bảo
quốc gia đó có quyền sở hữu một phần lănh thổ nào đó. Nếu biện luận theo
kiểu họ Hoàng th́ chúng ta cũng có thể nói được rằng v́ không thể ấn
định ranh giới được nên không thể có sự nghi ngờ nào về quyền sở hữu của
Việt Nam ở ngay chính đại lục Trung Hoa, trên một giải dất chạy dài từ hồ
Động đ́nh (tỉnh Hồ nam) ở phía bắc và từ tỉnh Tứ xuyên ở phía tây xuống tới
phần lănh thổ Việt Nam hiện tại v́ đă có nhiều chứng cớ lịch sử chứng minh.
Các nhà lănh đạo Cấm Thành nói chung và Hoàng Hoa nói riêng ngh sao về biện
luận nàỷ Trung quốc có chịu nh́n nhận chủ quyền của Việt Nam đó không? Hơn
nữa, nói theo kiểu Hoàng Hoa th́ Trung quốc phải nh́n nhận chủ quyền của
Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa mới đúng v́ đă có rất nhiều
chứng cớ lịch sử chứng minh chủ quyền nàỵ Các chứng cớ đó Việt Nam Cộng ḥa
đă viện dẫn minh bạchổ rất nhiều lần và ai muốn cũng có thể kiểm chứng được,
chứ không chỉ nói mù mờ như Hoàng Hoa và các nhà lănh đạo khác của Trung
Cộng đă làm.
Sau hết, cũng cần nói thêm là trong buổi họp báo này Hoàng Hoa c̣n cho biết
thêm là chính Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa năm 1958 đă nh́n nhận chủ quyền của
Trung Cộng nhưng vào mùa hề năm 1977 Thủ
tướng Việt Nam Phạm văn Đồng đă phủ nhận sự nh́n nhận ấỵ
2. Giác thư của Phó Thủ tướng Trung Cộng ngày 23.3.1979
Một tuần sau buổi họp báo của Hoàng Hoa, tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn
luận của Đảng Cộng sản Trung quốc ở Bắc kinh, đă đăng tải nguyên văn bức
giác thư của Phó Thủ tướng Trung Cộng Lư Tiên niệm gửi Thủ tướng Việt Nam
Phạm văn Đồng ngày 10.6.1977 trong đó có ghi rơ bối cảnh các vụ tranh chấp
biên giới giữa Trung quốc và Việt Nam theo quan điểm của Trung Cộng (70).
Một trong những điểm nêu ra trong bức giác thư này có liên quan đến vấn đề
chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sạ
Theo bức giác thư, ngày 15.6.1956 một thứ trưởng ngoại giao Việt Nam đă
chính thức nói với Trung Cộng rằng "đứng về quan điểm lịch sử" th́ hai quần
đảo Hoàng sa và Trường sa "là lănh thổ của Trung quốc." Hơn nữa, trong các
văn thư ngoại giao và tuyên cáo ngày 14.9.1958 và 9.5.1965 chính phủ Cộng
sản Việt Nam cũng đă chấp nhận chủ quyền của Trung quốc trên hai quần đảo
nàỵ
Qua hai chi tiết này chúng ta biết thêm được rằng một luận cứ khác của Trung
Cộng đối với vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là
chính Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa cũng đă nh́n nhận chủ quyền đó thuộc Trung
quốc. Có điều đáng tiếc là bức giác thư này không nói rơ tên của viên thứ
trường ngoại giao Việt Nam đă nh́n nhận chủ quyền của Trung quốc và ông ta
đă tuyên bố như vậy trong trường hợp nào, ở đâu, ngày nào, với ai, và nguyên
văn lời tuyên bố đó ra saọ Hơn nữa v́ bức văn thư ngoại giao và tuyên cáo
ngày 14.9.1958 và 9.5.1965 của Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa không hề được công
bố nên chúng ta không thể kiểm chứng những điều bức giác thư nêu ra xem có
đúng sự thực không hay đă bị bóp méo, sửa đổi cho hợp với lập luận hay mục
đíchổ của Trung Cộng.
Tuy nhiên, dù bức giác thư có tríchổ dẫn đứng đắn các lời tuyên bố của
Hà nội, chúng ta thấy việc nh́n nhận của Hà nội không phản ảnh quan điểm
thực và lâu dài của nhà cầm quyền Hà nội, mà chỉ là nh́n nhận có tính Cách
giai đoạn thôị Thực vậy, vẫn theo bức giác thư, Phạm văn Đồng đă có lần giải
thíchlà những lời tuyên cáo ủng hộ chủ quyền của Trung quốc đối với Hoàng sa
và Trường sa này được đưa ra chẳng qua là v́ trong thời gian kháng chiến(71)
"lẽ d nhiên là chúng tôi phải đặt việc chống đế quốc chủ nghĩa Hoa kỳ
lên trên mọi việc khác." Về giải thíchnày, Lư Tiên niệm đă đáp lại là các
vấn đề chủ quyền lănh thổ phải được cứu xét một Cách nghiêm túc.
Ngoài ra, Lư Tiên niệm c̣n cho biết là sự thay đổi lập trường của Hà nội đă
xảy ra vào năm 1974 và 1975 khi Việt Nam đă "lợi dụng cơ hội giải phóng miền
nam Việt Nam để xâm chiếm sáu đảo trong nhóm quần đảo Nam sa của Trung
quốc." Cũng cần nói thêm ở dây là bức giác thư c̣n nói là thái độ của Liên
sô về vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Nam sa và Tây sa cũng đă thay đổi
vào năm 1975.
3. Phản đề nghị của Trung Cộng ngày 26.4.1979
Để trả lời một đề nghị của Hà nội nhằm giải quyết cuộc tranh chấp, ngày
26.4.1979, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Cộng Hàn Niệm long đă đưa ra một phản
dề nghị của Bắc kinh(72). Trung Cộng đề nghị là trong khi chờ đợi một cuộc
dàn xếp về vấn đề biên giói trên căn bản Ḥa ước Trung Pháp(73), hai nước
Việt và Hoa nên tôn trọng ranh giới đă được đôi bên đồng ḷng thỏa thuận năm
1957 là lănh hải nên được hoạchổ định một Cách công bằng và hợp lư theo các
nguyên tắc hiện tại của luật quốc tế và Việt Nam phải "quay trở lại lập
trường trước."
đây chúng ta không cần nói tới đề nghị dàn xếp vấn đề biên giới Việt Hoa
trên căn bản Hoà ước Pháp Hoa mà chỉ bàn tới vấn đề chủ quyền trên hai quần
đảo Hoàng sa và Trường sạ Về điểm này, chúng ta nhận thấy có sự mâu thuẫn và
phi lư trong luận cứ của Trung Cộng. Trung Cộng một mặt chủ trương giải
quyết vấn đề ranh giới lănh hải, hay nói Cách khác là chủ quyền lănh hăi,
một Cách công bằng và hợp lư theo các nguyên tắc hiện tại của luật quốc tế,
nhưng mặt khác lại đ̣i Việt Nam phải quay trở lại lập trường trước, tức là
phải công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường
sạ
Một trong những nguyên tắc căn bản và sơ đẳng của việc giải quyết một tranh
chấp, một mâu thuẫn hay một xung đột nào, dù là ở trên lănh vực quốc gia hay
trong lănh vực quốc tế, là hai bên đương tranh phải giữ nguyên hiện trạng
vào lúc đưa việc tranh chấp, mâu thuẫn hay xung đột ra giải quyết. Đối tượng
của sự giải quyết ở đây là sự bất đồng, nó là nguyên nhân hay nguyên động
lực của sự tranh chấp, mâu thuẫn hay xung đột.
Nếu một bên đương
tranh bị bắt buộc phải công nhận trước quan điểm hay đ̣i hỏi của bên kia
trước khi cuộc tranh chấp, mâu thuẫn hay xung đột được mang ra giải quyết
th́ sự giải quyết không c̣n đối tượng nữạ Nếu có giải quyết th́ chẳng qua
chỉ là làm một việc thừạ Hơn nữa, giải quyết theo kiểu này th́
đâu có công bằng và hợp lư nữả
Sở d Trung Cộng đ̣i hỏi một Cách phi lư và mâu thuẫn như vậy có lẽ là v́
Trung Cộng biết rằng nếu áp dụng một Cách đứng đắn, công bằng và hợp lư các
nguyên tắc của luật quốc tế đối với vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng
sa và Trường sa th́ Trung Cộng sẽ bị thua do lẽ Trung Cộng, và cả Đài loan
nữa, không thể nào chứng minh một Cách đứng đắn, thành thực và phi chính trị
được là chủ quyền đó thuộc về Trung quốc. Đấy là chưa kể một nguyên nhân
khác là Trung Cộng biết rằng khi đó Việt Nam, vốn bị cô lập trên trường quốc
tế, vẫn cần đến sự giúp đỡ và chống lưng của Trung Cộng nên dù đ̣i hỏi của
Trung Cộng có phi lư và mâu thuẫn thế nào đi chăng nữa, Việt Nam cũng sẽ bắt
buộc phải chịu theọ
4. Tuyên bố tháng 9/1983
Vào đệ tam tam cá nguyệt 1983, trong một buổi họp báo hàng tuần tại Bắc
kinh(74), phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Cộng là Qi Huaiyuan đă cho hay
là gần đây có quân lính ngoại quốc chiếm đóng bất hợp pháp ám tiêu
Danwan(75) và nột vài quốc gia đă liên tiếp đ̣i chủ quyền lănh thổ trên một
vài ḥn đảo và ám tiêu thuộc nhóm quần đảo Nam sạ V́ vậy, ông nhắc lại lập
trường cố hữu của Trung Cộng là chủ quyền của Trung quốc trên quần đảo Nam
sa ở Nam hải không thể để cho bất cứ nước nào vi phạm, v́ bất cứ lư do ǵ
hay bằng bất cứ Cách nàọ Đoạn ông nói thêm là:
"Bộ Ngoại giao nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa nhắc lại là Trung quốc có
chủ quyền bất khả tranh nghị trên quần đảo Nam sa cùng các hải khu lân cận,
và các tài nguyên thiên nhiên ở những vùng này thuộc về Trung quốc."
Tuy lời tuyên bố trên không có ǵ mới lạ nhưng chúng ta thấy Trung Cộng đă
càng ngày càng để lộ rơ lư do Trung quốc cố đ̣i chủ quyền trên quần đảo
Trường sa, cũng như quần đảo Hoàng sa: đó là kho tài nguyên thiên nhiên, hay
nói cho đúng hơn là những túi dầu, ở vùng nàỵ V́ vậy, trong lần tuyên bố
này,
Trung Cộng đă nhấn mạnh bằng Cách thêm câu "các tài nguyên thiên nhiên ở
những vùng này thuộc về Trung quốc" sau khi nói về chủ quyền bất khả tranh
nghị của Trung quốc trên quần đảo và những hải khu lân cận.
Hơn nữa, trong khi
những tuyên bố trước chỉ nói đến tính cách bất hợp pháp của việc bất cứ quốc
gia nào khác chiếm đóng hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa thôi, lần này Qi
Huaiyuan c̣n nói đến tính Cách bất hợp pháp và không thể chấp nhận của sự
khai thác các tài nguyên thiên nhiên ở đây cùng những hoạt
động khác nữạ
"Việc bất cứ một quốc gia nào khác chiếm đóng bất cứ một ḥn đảo nào trong
quần đảo Nam sa và khai thác cũng như các hoạt động khác ở những vùng này là
việc làm bất hợp pháp và không thể chấp nhận được."
Kết luận
Qua việc nghiên cứu các lời tuyên bố của hai chính phủ Bắc kinh và Đài bắc
liên quan đến vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa từ
năm 1951 đến nay, chúng ta nhận thấy rằng cả hai chính phủ này có luận cứ vu
vơ, mơ hồ và vơ đoán. Họ chỉ nói đi nói lại nhiều lần là Trung quốc có chủ
quyền bất khả tranh nghị hay chủ quyền hợp pháp và chủ quyền đó có từ xa xưa
lắm rồi, nhưng lại không đưa ra được một bằng chứng cụ thể nào, căn cứ vào
các tiêu chun lịch sử, địa lư hay luật quốc tế, để chứng minh là chủ quyền
đó thuộc về Trung quốc. V́ vậy những luận cứ đó hoàn toàn không có
tính Cách thuyết phục, dù là đối với những người đ tính nhất. Cái lầm lớn
nhất của cả Bắc kinh lẫn Đài bắc là cứ làm như chủ quyền đó là vấn đề đương
nhiên, không cần biện minh. Sở d chúng tôi bảo là sai lầm là bởi v́ khi có
sự tranh chấp về một quyền nào đối với vật nào, các phe đương tranh ít nhất
cũng phải đưa ra các bằng cớ cần thiết để chứng minh quyền sở hữu của ḿnh
đối với vật tranh chấp ngơ hầu
có thể thuyết phục những người ngoại cuộc. Việc không chứng minh quyền sở
hữu này có thể khiến cho người ngoại cuộc ngh rằng sự thực th́ phe không đưa
ra bằng chứng không hề có quyền sở hữu, mà hành động đ̣i chủ quyền chỉ là v́
do ḷng tham muốn chiếm đoạt vật của người khác.
Ngoài ra, cả Bắc kinh lẫn Đài bắc đă có hành vi bất hợp pháp là cố
t́nh coi việc giải giới quân đội Nhật bản đóng ở hai quần đảo Hoàng sa và
Trường sa năm 1946 là Trung quốc đă thu hồi hai quần đảo này để rồi vin vào
đó họ tuyên bố chủ quyền của Trung quốc trên hai quần đảo, mặc dù các quốc
gia đồng minh trong trận Thế chiến thứ II chỉ quyết định giải giới quân đội
Nhật bản đóng ở đây thôi chứ không hề quyết định qui hoàn hai quần đảo này
cho Trung quốc. Ngay cả trong Hoà ước Cựu kim sơn năm 1951 Nhật bản cũng
không hề tuyên bố hay nh́n nhận qui hoàn Hoàng sa và Trường sa cho Trung
quốc. Lư do này rất d hiểu: các nước đồng minh trong Thế chiến thứ II củng
như Nhật bản đều biết rằng hai quần đảo này không phải là phần lănh thổ của
Trung quốc. Hành vi bất hợp pháp này có hậu quả rất tai hại là nhiều người
ngoại quốc không nghiên cứu kỹ và chỉ dựa vào các tuyên bố của Bắc kinh hay
Đài loan đă mặc nhiên nh́n nhận chủ quyền của Trung quốc trên hai quần đảo
Hoàng sa và Trường sạ Các tài liệu do người ngoại quốc viết về vấn đề này đă
cho thấy rơ hậu quả tai hại đó. Rất hiếm, nếu không thể nói quả quyết được
là không có, tài liệu do người ngoại quốc biên soạn hay viết đă tham chiếu
các tài liệu
của Việt Nam chứng minh chủ quyền đối với Hoàng sa và Trường sa thực sự
thuộc về Việt Nam, mà chỉ tham chiếu tài liệu của Trung quốc, cả quốc gia
lẫn cộng sản, thôị Ngay cả việc giải giới do Quốc quân Trung Hoa thực hiện
năm 1946 cũng là hành vi không hợp pháp nốt. Một mặt, qua hiệp ước kư với
Pháp ngày 28.2.1946 Trung Hoa Dân quốc đă chuyển nhượng việc giải giới quân
đội Nhật bản ở bắc v tuyến thứ 16 cho Pháp nhưng mặt khác cuối năm 1946 lại
cho quân đến giải giới quân đội Nhật bản chẳng những ở Hoàng sa mà c̣n ở cả
Trường sa nữa, để sau này vịn vào hành động đó cả hai chính phủ Bắc kinh và
Đài bắc coi là Trung quốc đă tiếp thu và có chủ quyền trên hai quần đảo nàỵ
Như vậy, nếu áp dụng riêng luật quốc tế theo yêu sách của Trung Cộng không
thôi chúng ta thấy là Trung quốc cũng không có tư Cách pháp định làm chủ hai
quần đảo Hoàng sa và Trường sạ
Nói tóm lại, luận cứ chính thức của hai chính phủ Trung Cộng và Đài loan
không có sức thuyết phục được ai về chủ quyền của Trung quốc trên hai quần
đảo Hoàng sa và Trường sa v́ đă không đưa ra được một bằng chứng nào và lại
dựa vào hành vi bất hợp pháp.
Chú thích:
(1) Đề cập tới trong bài "Notes on the Nanwei and Sisha Islands," đăng
trong PEOPLÉS CHINA, Bắc kinh, tập IV, số 5, phụ trương ng. 1.9.1951,
tr. 7.
(2) Toàn văn bản Ḥa ước Cựu kim sơn đăng trong: (a) UNITED NATIONS
TREATY SERIES, tập 136, tr. 46 và tiếp theo, và (b) AMERICAN FOREIGN
POLICY, 1950 1955: BASIC DOCUMENTS do bộ Ngoại giao Hoa kỳ xuất bản năm
1957, ấn bản số 5446, tr. 425 439.
(3) "Chou En laís Statement on the Peace Treaty with Japan," đăng trong
PEOPLÉS CHINA, tập II, số 12, phụ trương ngày 16.12.1950, tr. 17
(viết tắt: Chou En laís Statement). Nhấn mạnh thêm.
(4) Chou En laís Statement, tr. 19. Nhấn mạnh thêm.
(5) Bản Anh ngữ nhan đề "Foreign Minsiter Chou En laís Statement on the
ỤS. British Draft Peace Treaty with Japan," (viết tắt: Foreign Minister)
đăng trong (a) PEOPLÉS CHINA, tập IV, số 5, phụ trương ngày 1.9.1951,
tr. 3 6 (Chúng tôi tríchổ dẫn theo bản này); hay (b) bản tin Tân Hoa xă
số 777, Bắc kinh ngày 16.8.1951, tr. 75 78.
(6) Foreign Minister, tr. 4. Nhấn mạnh thêm.
(7) Foreign Minister, tr. 6.
(8) R. Serene, "Petite Histoire des Paracels," đăng trong SUD EST ASIATIQUE,
Bruxelles, số 19, th. 1/1951, tr. 38.
(9) Xem: (a) B.B., "Les Iles Spratlys," đăng trong L'ASIE FRANCAISE, Paris,
tập 39, số 269, th. 4/1939, tr. 123; (b) Charles Rousseau, "Chine, France,
Japon, Philippines et Vietnam Différend Concernant l'Appartenance des
Iles
Spratlys et Paracels," đăng trong REVUE GENERALE DE DROIT INTERNATIONAL
PUBLIC, Paris, năm thứ 76, tập 76, số 3, th. 7 9/1972, tr. 828.
(10) Chi tiết về hội nghị này và hội nghị Tehran được in trong
tập THE FOREIGN RELATIONS OF THE UNITED STATES DIPLOMATIC PAPERS: THE
CONFERENCES AT CAIRO AND TEHRAN, 1943, (viết tắt: FRUS Cairo Tehran),
Government Printing Office, Washington, D.C., 1961.
(11) FRUS Cairo Tehran, tr. 448 449.
(12) Xem bài "Roosevelt Churchill Stalin Luncheon Meeting", trong FRUS Cairo
Tehran, tr. 566.
(13) Mới đầu là Winston Churchill, sau là Clement Attlee khi đảng bảo
thủ Anh thất cử.
(14) DOCUMENTS ON AMERICAN FOREIGN RELATIONS, do Raymond Dennett và Robert
K.
Turner biên tập và Prince University Press xuất bản năm 1948, tập
VIII: 1.7.1945 31.12.1946.
(15) Jean R. Sainteny, HISTOIRE D'UNE PAIX MANQUéE: INDOCHINE 1945 1947,
Amiot
Dumont, Paris, 1953, tr. 50.
(16) Xem UNITED STATES STATUTES AT LARGE, trong Executive Agreement Series,
số
493, tập 59, phần II, Government Printing Office, Washington, D.C., 1945,
tr. 1734 1735.
(17) Herbert Feis thuật lại trong sách JAPAN SUBDUED: THE ATOMIC BOMB AND
THE END OF THE WAR IN THE PACIFIC, Princeton University Press, Princeton,
New
Jersey, 1961, tr. 139.
(18) Xem thêm chi tiết trong VIETNAM AND CHINA: 1938 1954 của King C. Chen,
Princeton University Press, Princeton, New Jersey, 1969, tr.115 154.
(19) Ngày 28.2.1946 Pháp và Trung quốc đă kư (a) một hiệp ước 13
điều mệnh danh là "Hiệp ước giữa Trung Hoa Dân quốc và Pháp
quốc về việc Pháp quốc Khước từ Trị ngoại Pháp quyền và Các
Quyền Liên hệ Khác ở Trung quốc", (b) một thỏa ước 11 điều
mang tên là "Thỏa ước giữa Chính phủ Trung Hoa Dân quốc và Chính
phủ Pháp quốc Liên quan tới Quan hệ Trung Hoa và Đông dương", và
(c) một văn thư trao đổị Các tài liệu này in trong: (a) TREATIES
AND AGREEMENTS BETWEEN THE REPUBLIC OF CHINA AND OTHER POWERS, do Chen Yin
ching
biên soạn, Sino American Publishing Service xuất bản tại Washington, D.C.,
1957, tr. 258 270; (b) King C. Chen, sđd, tr. 360 374.
(20) TRUNG HOA BÁO, Đài bắc, ng. 14.7.1971.
(21) Xem bài "Review of International Situation" đăng trong PRESIDENT CHIANG
KAI SHEK'S SELECTED SPEECHES AND MESSAGES IN 1955, do China Publishing Cọ ấn
hành tại Đài bắc năm 1956, tr. 22. (viết tắt: Review) Đông tam
tỉnh nói ở đây là danh xưng người Trung Hoa vẫn dùng để gọi
Măn châụ
(22) Thí dụ xem L. Oppenheim, INTERNATIONAL LAW: A TREATISE, do H.
Lauterpacht
hiệu đính, Longmans, Green & Cọ, xuất bản ở Luân đôn, tập I, ấn
bản thứ 7, 1948.
(23) Ch'en T'i ch'iang, "Taiwan A Chinese Territory", đăng trong Law in
the
Service of Peace: International Association of Democratic Lawyers' Review,
số
5, 1956, tr. 42.
(24) Đăng trong báo Quốc tế Vấn đề Nghiên cứu, số 2, 1959, tr.
7 17 và bản dịchổ Anh ngữ in trong sách Oppose the New ỤS. Plots to Create
"Two Chinas" của nhà Xuất bản Ngoại văn, Bắc kinh, 1962, tr. 85 97.
(25) Oppenheim, I, tr. 808.
(26) Oppenheim, I, tr. 807.
(27) Review, tr. 22 23.
(28) TRUNG HOA NHÂN DÂN CộNG ḤA QUốC ĐốI NGOạI QUAN Hệ VN KIệN
TậP, Bắc kinh, tập I, tr. 134 (viết tắt: Đối ngoại). Nhấn mạnh
thêm.
(29) ĐốI NGOạI, tập II, tr. 30 và 36.
(30) NHÂN DÂN NHậT BÁO, Bắc kinh, ng. 8.2.1955, tr. 4. Nhấn mạnh
thêm.
(31) Toàn bản văn nhan đề "Foreign Minister Chou En laís Statement on San
Francisco Peace Treaty" đăng trong PEOPLÉS CHINA, tập IV, số 7, ngày
1.10.1951, tr. 39. V́ bài này không đề cập tới hai quần đảo
Hoàng sa và Trường sa nên chúng tôi không tríchổ dịchổ nơi đăỵ
(32) Từ 2.6.1948 đến 26.10.1955 phần đất do chính quyền quốc gia
(không Cộng sản) cai trị gọi là Quốc gia Việt Nam. Sau đó mới
gọi là Việt Nam Cộng ḥạ
(33) PEOPLÉS CHINA, tập 4, số 6, ngày 16.9.1951, tr. 4. Nhấn mạnh
thêm.
(34) Toàn bản văn đăng trong PEOPLÉS CHINA, tập V, số 10, ng.
16.5.1952, tr. 4.
(35) Toàn bản văn ḥa ước giữa Trung Hoa Dân quốc và Nhật bản
đăng trong TREATIES AND AGREEMENT, sđd, tr. 454 456. V́ không có bản văn
bằng Hoa ngữ nên chúng tôi dịchổ hai danh từ Spratly Islands và
Paracel Islands bằng danh từ thông dụng của Việt Nam là quần đảo
Trường sa và quần đảo Hoàng sạ
(36) Đây không phải là Hải học viện Phi luật tân như nhiều tài
liệu cho tới nay vẫn đề cập tới một Cách sai lầm.
(37) Palawan là một ḥn đảo khoảng 4.550 dặm vuông ở tây nam thủ
đô Manila và bắc Borneọ
(38) Nhiều tài liệu hiện hữu đă không để ư đến chi tiết
này mà lại nói là chính Tomas Cloma đem thủy thủ tới chiếm đóng.
(39) Đây cũng là một chi tiết mà các tài liệu hiện hữu đă sai
lầm khi cho rằng chỉ có ḥn đảo lớn mà Tomas Cloma đặt chân
tới lần đầu mới mang tên là Freedom Island.
(40) Tríchổ đăng trong bài "Freedomland: Gov't States Position on Imbroglio
over Isles," trong bán nguyệt san NEW PHILIPPINES, Manila, số tháng
2/1974, tr. 7.
(41) nt.
(42) nt. Nhấn mạnh thêm.
(43) Tân Hoa xă, ấn bản Anh ngữ, ngày 29.5.1956, nhan đề "Foreign
Ministry Statement on Nansha Islands", đăng trong SURVEY OF CHINA MAINLAND
PRESS (viết tắt: SURVEY) của Toà Tổng Lănh sự Hoa kỳ tại Hương
cảng, số 1301, ng, 4.6.1956, tr. 20. Nhấn mạnh thêm.
(44) Tân Hoa xă, ấn bản Anh ngữ, ngày 27.2.1959, nhan đề "Statement
on Kidnapping of Chinese Fishermen by South Vietnam Navy," đăng tải trong
SURVEY số 1966, ngày 5.3.1959, tr. 47. Hai bản tuyên bố ngày 15.8.1951
và 29.5.1956 đă được tríchổ dẫn và phê b́nh trong hai phần số II
và III bên trên.
(45) Tức phủ tổng thống Phi luật tân.
(46) Tường thuật lại trong bài Freedomland, bđd.
(47) nt.
(48) Đăng tải trong SURVEY, số 4944, ng. 27.7.1971, tr. 140. Nhấn mạnh
thêm.
(49) nt.
(50) Do Nghị định số 420 BNV/HCDP/26.X ngày 6.9.2973 của Tổng trưởng
Nội vụ Lê công Chất.
(51) Do Nghị định số 4762.CP ngày 21.12.1933 của Thống đốc Nam kỳ
M.J. Krautheimer.
(52) Do Dụ số 10 ngày 30.3.1938 của Hoàng đế Bảo đạị
(53) Do Sắc lệnh số 174 NV ngày 13.7.1961 của Tổng thống Ngô đ́nh
Diệm.
(54) Do Nghị định số 709 BNV/HCDP/26 của Tổng trưởng Nội vụ Trần
thiện Khiêm.
(55) Do Sắc lệnh số 143 NV ngày 22.10.1956 của Tổng thống Ngô
đ́nh Diệm.
(56) Toàn văn đăng trong PEKING REVIEW, Bắc kinh, tập 17, số 3, ngày
17.1.1974, tr.3, dưới nhan đề "Statement by Spokesman of Chinese Ministrty
of Foreign Affairs."
(57) Toàn văn đăng trong PEKING REVIEW, tập 17, số 4, ng. 25.1.1974, tr.
3 4, dưới nhan đề "Statement of the Chinese Ministry of Foreign Affairs."
(58) Tuyên bố ngày 12.1.1974 của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt
Nam Cộng ḥa, nhan đề "Việt Nam Cộng ḥa Bác bỏ Lời Tố cáo Phi
lư cùa Trung Cộng về Quần đảo Hoàng sạ" Bản quay ronéo, tr. 1.
(59) "Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng ḥa Về Việc Trung
cộng Vi phạm Chủ quyền của Việt Nam Cộng ḥa Trên Các Quần đảo
Hoàng sa và Trường sa" ngày 16.1.1974. Bản quay ronéo, tr. 1 2.
(60) Tường thuật trong bài Freedomland, bđd.
(61) Đăng trong PEKING REVIEW, tập 17, số 4, ngày 25.1.1974, tr. 4.
(62) Toàn văn đăng trong PEKING REVIEW, tập 17, số 6, ngày 8.2.1974,
tr. 3, dưới nhan đề "Statement by Spokesman of Foreign Ministrỵ"
(63) Toàn văn đăng trong FREE CHINA WEEKLY, Đài bắc, ngày 10.2.1974,
tr. 1, dưới nhan đề 'ROC Reaffirms Spratly Titlẹ"
(64) TIME, New York, 11.3.1974.
(65) Xem Tạ quốc Tuấn, "Diễn tiến Cuộc Tranh chấp Về Chủ quyền
Trên Hai Quần đảo Hoàng sa và Trường sa Từ Sau Trận Hải chiến
19 20 Tháng 1/1974" đăng trong Việt Nam Tập chí, Campbell, California,
số 3 & 4, th. 8/1991, tr. 49 82. (V́ sự sơ ư kỹ thuật bài này tuy
được đăng trọn văn nhưng lại ghi lầm là "C̣n Nữa").
(66) Tường thuật trong PEKING REVIEW, tập 17, số 14, ngày 5.4.1974,
tr. 1, nhan đề "Chinás Sovereignty Over Hsisha, Nansha Islands Reaffirmed."
(67) Đài Bắc kinh, chương tŕnh Việt ngữ, ngày 3.7.1974, hồi 21
giờ 30. Chúng tôi tríchổ nguyên văn theo bản tin, không sửa đổi dù
Cách hành văn lai căng.
(68) Tường thuật trong British Broadcasting Corporation, Summary of World
Broadcasts, Part III: The Far East (viết tắt: FE), số 6070.
(69) Đó là Trung Pháp Ḥa ước kư tại Thiên tân ngày 11.5.1884, sau
được ưng chun bằng một ḥa ước khác kư ngày 9.6.1885.
(70) FE số 6075.
(71) Phạm văn Đồng nói tới cuộc chiến tranh 1960 1975.
(72) FE, số 6102.
(73) Hàn Niệm long không nói rơ ḥa ước nàọ Có lẽ là ḥa ước
1884 (Xem chú thích 69 bên trên).
(74) Tường thuật trong báo BEIJING REVIEW (tên viết theo phương pháp
phan âm tức pinyin của Trung Cộng), tập 26, số 39, ngày 26.9.1983,
tr. 8.
(75) Tên Việt Nam là Đá Hoa lau và tên Anh ngữ Swallow Reef.
|