DẪN LẠI MỘT SỐ SỰ KIỆN LỊCH SỬ
Thương Lượng Đất Đai Biên Giới của Cha Ông Ta
với Bắc Triều
ĐỂ THẤY TỘI TRẠNG KHÔNG THỂ
DUNG THA
CỦA TẬP ĐOÀN LĂNH ĐẠO CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trần Kim Khôi
Giới Thiệu - Tác giả Trần Kim Khôi đă trích dẫn nhiều sử liệu cho thấy cha ông ta đă vất vả đấu tranh với bọn bá quyền bắc phương để giữ từng tất đất trong suốt lịch sử một ngàn năm độc lập. (hannamquan.com)
Kể từ khi nguồn tin được tiết lộ từ trong nước về việc tập đoàn Cộng sản Việt nam đă âm thầm kư hai hiệp ước nhượng đất đai và lănh hải cho Trung cộng và nhất là khi tin tức về buổi lễ đặt cột mốc đầu tiên đánh dấu biên giới giữa hai nước Việt Nam và Trung quốc được tổ chức tại hai thị trấn Mông Cái về phía Việt Nam và thị trấn Đông Hưng về phía Trung quốc vào sáng ngày 27 tháng 12 năm 2001 đă gây nên một làn sóng phẫn nộ của toàn thể nhân dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước kể cả các đảng viên Cộng sản lâu năm thức tỉnh. Làn sóng nầy được hầu hết các cơ quan truyền thông Việt nam tại hải ngoại hỗ trợ và các hội đoàn người Việt tỵ nạn Cộng sản đưa vào hành động thực tế mà cao điểm sẽ được dự trù thực hiện vào các ngày 21 và22 tháng 4 năm nay tức ngày 9 và10 tháng 3 Âm lịch, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.
Sở dĩ hành động cắt nhượng đất đai và lănh hải của đảng Cộng sản Việt Nam cho Trung cộng bị toàn thể nhân dân Việt Nam lên án là v́ những hành vi lén lút, hèn hạ trên đă làm ô nhục giống ṇi, bôi đen lịch sử dân tộc và phản bội công lao, xương máu của tiền nhân đă đổ ra suốt chiều dài lịch sử lập quốc và vệ quốc. Những địa danh như Ải Nam Quan, thác Bản Giốc... không phải chỉ là những vùng đất xa xôi ở vùng biên giới phía bắc mà nó đă trở nên quen thuộc, gắn bó với mọi người dân Việt dù đang sinh sống ở măi tận miền cực nam của đất nước, hay nói một cách khác, các địa danh trên dù là những di tích lịch sử hoặc văn hóa tuy ở tận nơi biên giới nhưng đều là biểu tượng thiêng liêng của đất nước, nó đă gắn liền với cuộc sống tâm lư, t́nh cảm của mỗi người dân Việt, nay bị tập đoàn Cộng sản Hà Nội, v́ quyền lợi riêng tư của phe nhóm, đă cúi đầu cắt dâng cho Trung cộng ḥng đổi lại sự hậu thuẫn về chính trị để bọn chúng có thể tiếp tục bám giữ vai tṛ thống trị trên đầu trên cổ 80 chục triệu dân Việt Nam vốn đă quá chán ghét đường lối cai trị độc tài, bạo ngược và ngu tối của chúng. Sự mất mát nầy là một niềm đau đớn và tủi nhục mà không một người Việt Nam nào tự xem ḿnh là hậu duệ của Quốc Tổ Lạc Long Quân và Quốc Mẫu Âu Cơ không phải chịu đựng. Phản ứng quyết liệt chống lại hành vi bán nước của bọn chóp bu Cộng sản Hà nội của toàn dân Việt, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc hay chính kiến là một việc làm tất yếu và dễ hiểu, v́ nếu ta dẫn lại một vài sự kiện lịch sử trong quá tŕnh bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc, ta sẽ thấy đó là một cuộc đấu tranh vô cùng cam go, uyển chuyển, khôn khéo và kiên tŕ mà cha ông chúng ta đă quyết tâm thực hiện để chống lại tham vọng không ngừng muốn thôn tính đất đai và đồng hóa dân tộc ta.
Để minh chứng cho tinh thần yêu nước cao cả và quyết tâm bảo vệ giang san, chúng ta hăy cùng lật lại một số những trang sử đặc trưng của dân tộc do ông cha ta đă dày công viết nên trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng đó.
Bắt đầu từ năm 939,khi Ngô Quyền thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng,
giành lại được quyền tự chủ cho dân tộc ta th́ biên giới giữa nước Đại Việt và
Trung quốc được phân định. Sự kiện nầy được Nguyễn Trăi xác định trong bài B́nh
Ngô Đại Cáo, một loại “Tuyên ngôn độc lập” sau khi đánh thắng quân Minh, giải
phóng đất nước: Ngay trong phần mở đầu B́nh Ngô Đại Cáo Nguyễn Trăi đă viết:
“ ...Như nước Nam ta xưa, vốn xưng văn hiến đă lâu, sơn hà cương vực đă chia,
phong tục bắc nam
cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lư, Trần gây nên độc lập cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên
hùng cứ một phương...”( ...Duy ngă Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang.
Sơn xuyên chi phong vực kư
thù, Nam bắc chi phong tục diệc dị. Tự Triệu, Đinh, Lư, Trần chi triệu tạo ngă
quốc, dữ Hán, đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương...”. Suốt chiều dài
lịch sử từ ngày giành lại được quyền độc lập tự chủ cho đến khi đất nước bị rơi
vào tay bọn Cộng sản Việ Nam, Tổ Tiên ta đă không ngớt đấu tranh một cách vô
cùng gay go để bảo vệ dải giang sơn gấm vóc mà tiền nhân để lại trước mưu đồ xâm
lăng lũ
giặc phương Bắc, không biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu đă đổ xuống nhuộm thắm
từng tấc đất
miền biên thùy. Lịch sử đă ghi lại không biết bao nhiêu trang sử oai hùng, hiển
hách mà không những người dân Việt chúng ta mà đến cả nhiều dân tộc khác trên
thế giới đều biết đến và thán phục. Ở đây chúng tôi không cần dẫn lại những
trang sử chói lọi đó v́ ai cũng đă rơ rồi, chúng tôi chỉ xin được dẫn lại một số
sự kiện ngoại giao mà tiền nhân ta, qua các thời đại, đă hành sử để đ̣i lại
những vùng đất đă bị Trung quốc cưởng chiếm hay đấu tranh để bảo vệ chủ quyền
của ta tại các vùng đất sát biên giới, để thấy sự quyết tâm, ḷng tha
thiết của ông cha ta đối với từng tấc đất của Tổ quốc, đă từng được phản ảnh qua
tinh thần lời của vua Lê Thánh Tông dặn bảo triều thần khi được tin người nhà
Minh đem quân đi qua địa
giới:” Ta phải giữ ǵn cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy mất một phân núi, một
tấc sông của vua Thái tổ để lại”.
Sự trưng dẫn một số sự kiện lịch sử nầy trước hết là để giới thiệu cùng quí độc giả công lao của các triều đại trong việc ǵn giữ đất đai mà một số sách sử chỉ nêu lên các sự kiện chứ không ghi lại các chiếu, biểu trao đổi của triều đ́nh ta và Truntg quốc v́ nó dài ḍng và quá chuyên môn. Nhưng khi đọc những chiếu, biểu nầy chúng ta mới thấy rơ được sự quyết tâm, ḷng tha thiết của tiền nhân đối với việc bảo toàn lănh thổ cùng thái độ trịch thượng, chủ trương lấn đất của Trung quốc. Thứ đến là để có chứng liệu để so sánh sự khác biệt giữa những bậc thực tâm yêu nước và kẻ vong nô phản bội tổ quốc, phản bội dân tộc, bán nước cầu...nhục mà vẫn gian ngoa độc chiếm chiêu bài “yêu nước” như chúng thường rêu rao!
I.- Triều đại nhà Lư 6 lần đ̣i đất 2 động Vật Dương và Vật Ác thuộc châu
Quảng Nguyên:
Sau khi Tống Thần Tông sai Quách Qú, Triệu Tiết đem 10 vạn quân sang đánh phục
thù nước ta không thành công đành phải nhận lời cầu ḥa của vua Lư Nhân Tông rút
quân về nhưng vẫn chiếm giữ châu Quảng Nguyên, v́ thế Lư Triều đă phải cử sứ bộ
sang thương thuyết để đ̣i lại những vùng đất đă bị Tàu cưởng chiếm. Mặc dù Tống
triều với chủ trương lấn chiếm đất đai của ta nên t́m mọi lư do để thoái thác,
nhưng với quyết tâm thu hồi lại đất đai do tiền nhân để lại nên Lư triều đă liên
tiếp gởi nhiều sứ bộ hoặc sứ thần, mang phẩm vậy sang triều cống nhà Tống, khi
th́ nhân danh xin thỉnh kinh, có khi nhân việc phúng điếu vua Tống Thần Tông và
chúc mừng tân vương là Tống Triết Tông. Có lúc dùng lư lẽ để biện thuyết , có
khi lại dùng cả áp lực quân sự đe dọa vùng biên thùy rồi sai sứ sang đặt thẳng
vấn đề đ̣i lại
hai động Vật Dương và Vật Ác. Những cuộc thương nghị vô cùng gay go kéo dài trên
6 năm, từ năm Nhâm Tuất(1082) đến năm Mậu Th́n (1088). được các sách sử ghi lại
như sau: Để nối lại mối giao hảo với nhà Tống hầu dùng đường lối ngoại
giao để thu hồi những vùng đất đă bị Tống cưởng chiếm trước đây, năm Tân Dậu
(1081) vua Lư sai Lương Dũng Luật làm chánh sứ, Nguyễn Văn Bội làm phó sứ hướng
dẫn một sứ bộ đông đến 156 người sang triều cống Tống triều, với danh nghĩa là
xin thỉnh kinh Tam Tạng. Khi sứ bộ đến biên giới Hoa Việt viên quan nhà Tống
trấn thủ Quảng Tây là Trương Hiệt không cho sứ bộ nhập nội v́ phải chờ y tâu lên
Tống Thần Tông để xin lệnh, cuối cùng sứ bộ được chấp thuận cho đi nhưng chỉ
giới hạn 100 người như lệ cũ. Sứ bộ của ta được một viên quan của Tống triều hộ
tống đến tận kinh đô Trung quốc. Khi được triều kiến Tống Thần Tông, sứ thần
nước ta đă dâng lễ vật triều cống và khôn khéo tŕnh bày nên được vua Tống chấp
thuận trả lại châu Quảng Nguyên. Chuyến đi nầy sứ bộ của ta đạt được thắng lợi
dễ dàng nhưng sau đó v́ có tin đồn là vùng đất nầy có nhiều vàng nên việc Tống
triều nhận cống phẩm (gồm voi và những báu vật khác) và trả lại cho ta châu
Quảng Nguyên bị người đương thời phê phán do đó có truyền tụng hai câu thơ sau:
Nhân tham Giao chỉ tượng,
Khước thất Quảng Nguyên kim
( V́ tham voi của Giao Chỉ mà từ chối vàng tại
đất Quảng Nguyên).
Tuy Tống triều trả lại cho vua lư châu Quảng Nguyên sau khi đă nhận được 221 tù
nhân nhưng vẫn c̣n giữ lại một số đất của ta do các tù trưởng địa phương đem nộp
cho Tống, trong đó có hai động Vật Dương và Vật Ác. Về t́nh trạng hai châu nầy,
chính Hùng Bản, viên quan cai trị Quảng Tây thời bấy giờ đă tâu lên vua Tống như
sau: “Năm Gia Hữu (1057) Nùng Tông Đản đem động Vật Ác nộp, vua ban tên là Thuận
An. Đời Trị B́nh (1064) Nùng Trí Hội đem động Vật Dương nộp, vua ban tên
là châu Qui Hóa”.
Sau đây là diễn tiến các lần đ̣i đất dưới thời vua Lư Nhân Tông:
1.-Năm Nhâm Tuất (1082) Lư Nhân Tông lại sai sứ bộ do Đào Tông Nguyên cầm đầu mang biểu dâng vua Tống đ̣i lại vùng đất trên. Biểu có viết: “Thủ lĩnh động Cát Đán (?) thuộc Quảng Nguyên là Nùng Dũng cùng dân động đă làm loạn và chạy vào Ung châu không chịu trả...” ”. Do nhận định của Hùng Bản là hai châu Thuận An và Qui Hóa là đất cổ họng của Hữu Giang chế ngự các đường trọng yếu đi Giao chỉ, Đại lư, Cửu đạo bạch y nên vua Tống cố giữ lại hai châu nầy. V́ thế vua Tống trả lời như sau: “Bọn Nùng Dũng nguyên không phải người của Giao Chỉ quản. Chúng theo ta khi Giao Chỉ chưa hàng (1057, tức trước khi vua Lư thông sứ và chịu thần phục nhà Tống). Vậy chúng là dân ta, không lẽ ǵ ta trả chúng”.
Thấy vua Tống không chịu trả những đất nói trên nên Lư Thường Kiệt cho châu mục Thượng Nguyên là Dương Thọ Văn đem quân đánh Nùng Trí Hội ở Châu Hóa, toan đánh cả vào Thuận An, Trí Hội phải chạy vào Hữu Giang kêu cứu. Hùng Bản sai sứ đem thư sang trách, vua Lư chịu rút quân nhưng đ̣i phải giải quyết vấn đề Vật Dương và Vật Ác. Hùng Bản thấy t́nh h́nh bất lợi nên tâu với vua Tống trả cho ta 8 động đất hoang phía nam dăy núi Hỏa Điểm và hẹn với vua Lư cho người đến Vĩnh B́nh để bàn về biên giới.
Tháng 6 năm Quí Hợi (1083) vua Lư lại sai Đào Tông Nguyên phó hội, bên Tống
có viên Đô-tuần-Kiểm Tả giang làThành Trạc và viên coi ḷ vàng Điền Nại là
Đặng Khuyết tham dự. Khi vào họp, Đào Tông Nguyên đ̣i Tống phải trả hai
động Vật Dương và Vật Ác lại cho ta, nhưng Thành Trạc và Đặng Khuyết không chịu,
nói chỉ trả lại tám động phía nam núi Hỏa Điểm mà thôi. Cuối cùng trước khi bỏ
ra về, Đào Tông Nguyên nói: “ Đất Quảng Nguyên này chỉ là đất nhỏ, khó ḷng mà
ban chia. Tôi muốn tự làm biểu tâu lên vua để triều đ́nh tùy ư định đoạt”. Thái
độ và lời nói nầy có thể xem như một tối hậu thư nên hai viên quan đại diện cho
Tống không dám quyết định. Hội nghị xem như bế tắc.
.2.- Sau khi hội nghị ở Vĩnh B́nh tan vở, vua Lư lại cho tập trung quân gần Qui
Hóa để uy hiếp, lấy cớ đuổi bắt Nùng Trí Hội. T́nh h́nh trở nên căng thẳng,
nhưng vua Lư chỉ muốn dùng quân sự để làm áp lực chứ không chủ ư gây chiến
tranh, nên đến tháng 6 năm Giáp Tư (1084) vua lại sai Lê Văn Thịnh làm chánh sứ,
Nguyễn Bội làm phó sứ đến Vĩnh B́nh tiếp tục bàn việc đ̣i lại đất Vật Dương và
Vật Ác. Ngay khi bắt đầu hội nghị, bên Tống đă khẳng định rằng: “Những đất
mà quân nhà vua lấy th́ trả cho Giao Chỉ, c̣n những đất mà các người coi giữ lại
mang đi nộp để theo ta th́ khó mà trả lại”. Thấy ư của Tống triều muốn chiếm
những phần đất đó của ta lại c̣n nại ra lư do không chính đáng nên sứ giả Lê Văn
Thịnh đă dựa vào luật pháp để bắt bẻ các quan nhà Tống như sau: “Đất th́ có chủ.
Các viên coi giữ mang nộp và trốn đi th́ đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Việc
chủ giao cho mà tự ư lấy trộm đă không tha thứ được, mà trộm hay tàng trử th́
pháp luật cũng không cho phép. Huống chi nay chúng lại mang đất ăn trộm dâng lên
để làm dơ bẩn sổ sách nhà vua (Tống)”. Lư luận của sứ giả ta rất
chặc chẻ nên phe Tống không thể nào biện luận được, tuy nhiên việc giải quyết
vùng đất nói trên vẫn chưa có kết quả. Để làm dịu t́nh h́nh đồng thời nói lên
quyết tâm của vua Lư, Lê Văn Thịnh c̣n viết thư cho Hùng Bản như sau:
“Thành Trạc đă nói về vạch địa giới phía nam mười tám xứ sau nầy: Thượng Điện,
Hạ Lôi, Ôn Nhuận, Anh, Dao, Vật Dương, Vật Ác, Kế Thành, Cống, Lục, Tần, Động,
Nhâm, Cảnh, Tư, Kỷ, Huyện và nói những xứ ấy đều thuộc Trung Quốc. Bồi thần tiểu
tử chỉ biết nghe mệnh không dám cải lại. Nhưng những đất ấy mà họ Nùng đă nộp,
đều thuộc Quảng Nguyên. Nay may gặp thánh triều ban bố hàng vạn chính lệnh khoan
hồng, sao lại chọn miếng đất đầy sỏi đá, lam chướng nầy mà không trả lại nước
tôi, để giúp kẻ ngoại thần”.
Sau khi được Hùng Bản tấu tŕnh, vua Tống Thần Tông ban sắc chỉ cho vua Lư vào ngày 22 tháng 10 năm Giáp Tư (1084) như sau: “ Sắc cho Giao chỉ Quận vương Lư Càn Đức: Trẩm đă xét lời Ty kinh lược Quảng nam Tây lộ tâu về nói: Trước đây v́ An Nam tâu kêu rằng cương chí các khê động thuộc hai châu Vật Ác, Vật Dương chưa được rơ, đă có triều mệnh sai bản ty lo liệu. Bản đạo đă sai quan chức biện chính. Nay được tin báo, An Nam đă sai bọn Lê Văn Thịnh tới biên giới và biện chính đă xong. Vậy giáng chiếu chỉ để cho An Nam theo làm. Trẩm đă xét các lời khanh tường tŕnh về phong cương. Trẩm đă đặc biệt sai biên thần lo liệu biện chính. Khanh vốn được trẩm yêu mến ...đă vâng chiếu chỉ, sai chức thuộc đến chia cơi các châu động. Nay đầu đuôi đă đươc rơ ràng. Về hai động Vật Dương, Vật Ác, trẩm đă giáng chỉ lấy tám ải sau nầy làm giới hạn: Canh Liệm, Khâu Cự, Khiếu Nhạc, Thông Khoáng, Canh Nham, Đốn Lị, Đa Nhân và Câu Nam. Đất ngoài các ải ấy có sáu huyện là Bảo Lạc, Luyện, Miêu, Đ́nh, Phong, Cân và hai động Túc, Tang. Các đất ấy đều do khanh chủ lĩnh....”
Như vậy là vua Tống chỉ trả lại đất sáu huyện và hai động mà vẫn giữ lại đất Vật Dương và Vật Ác. Đây là lần thứ hai ta đ̣i 2 động nói trên nhưng chưa có kết quả.
3.- Năm Ất Sửu (1085), nhân cơ hội Tống Thần Tông chết, con là Tống Triết
Tông lên ngôi mới có 10 tuổi nên quyền hành nằm trong tay Cao thái hậu, vua Lư
lại gởi biểu sang xin lại đất 2 động Vật Dương và Vật Ác. Ngày 24 tháng 6 năm
1085, vua Tống xuống chiếu trả lời: “...Trẩm đă xét kỷ lời của Khanh xin cương
thổ các động Vật Ác, Vật Dương. Đời tiên đế Khanh đă bày tỏ việc cương giới.
Tiên đế đă giáng chiếu dụ đầu đuôi rơ ràng. Đă đặc biệt theo lời Khanh cầu mà
cắt đất cho. Nay trẩm đọc lời tâu, bất ngờ c̣n thấy Khanh bày tỏ kêu ca
điều ấy. Trẩm vừa nối nghiệp, hành động phải theo mệnh trước. Nghị định
trước đă rơ, nay khó ḷng mà đổi được. Khanh phải tuân theo lời chiếu trước”.
Đây là lần thư ba vua Tống từ chối trả đất cho ta.
4.- Bất b́nh trước tham vọng của Tống triều, vua Lư cho quan coi đất Quảng
Nguyên đem quân đánh các vùng đất bị Tống cưởng chiếm. Năm 1086, Tống Triết Tông
gửi thư trách, vua Lư Nhân Tông dâng biểu xin vua Tống xét lại đất Vật Dương và
Vật Ác, biểu viết: “ Ấp tôi có 8 huyện và hai động Vật Dương, Vật Ác giáp đất
nhà vua. Trước sau bị các tù trưởng làm loạn mà bỏ đi đem ḿnh vào quí minh. Đất
Vật Dương th́ năm Bính Th́n (1076) được thu vào vương thổ. Đất Vật Ác th́ năm
Nhâm Tuất (1082) mới được thu và đặt vào ải Thông Khang. Tuy đất ấy nhỏ nhen
nhưng tôi rất lấy làm đau xót, luôn luôn nghĩ đến. Tổ tiên tôi ngày trước
đă xông pha gian hiểm, đánh dẹp các kẻ tiếm nghịch mới có đất ấy. Nay gặp thời
vận suy đồi tôi không nối được sự nghiệp cha ông. Tôi đâu dám dự vào hàng phiên
thần sống trong chốc lát. Năm Giáp Tư (1084) Ty kinh lược Quảng Tây đă tâu
về đất ấy. Tiên triều lấy hai động Túc, Tang và 6 huyện cho tôi chủ lĩnh. Nhưng
các đất Túc, Tang ấy hiện là đất của ấp tôi rồi, không phải đất mà nay tôi xin
cho nên tôi không dám nhận mệnh. Nay gặp khi bệ hạ lên ngôi, việc ǵ cũng đổi
mới, xin kính cẩn bày tỏ lời biểu nầy dâng lên”. Mặc dù nhà Lư đă
hết sức mềm mỏng, dùng t́nh cảm để thuyết dụ vua Tống nhưng Tống triều vẫn t́m
cách chối từ. Vua Tống đă trả lời thư như sau:
“...Vả nay biên thần thủ lănh của Khanh đă xâm lấn biên thùy. Tiên hoàng vốn sẳn
ḷng nhân đă ban chiếu dụ, cho phép biện chính, chứng thực rơ ràng, đă đặc biệt
cắt đất ải Khang ân tứ cho Khanh... Vậy Khanh
nên tuân theo bờ cơi đă định, cớ sao c̣n tâu nhắc lại, vẫn giữ lầm xưa, mà lấy
đất mới ban cho làm đất cũ sẳn có... Xét ḷng Khanh không lẽ như vậy, ngờ rằng
đó là lời người khác, mách như thế là sai. Huống chi dân châu động ấy là dân của
nhà vua đă từ lâu. Từ khi quan quân đánh lấy Quảng Nguyên đến lúc trẩm trả Thuận
Châu không hề có tranh giành ruộng đất ở đó. Khanh phải hết ḷng tuân theo chiếu
trước. Phải thêm cẩn thận giữ ǵn cương vực. Chớ có sinh sự lôi thôi...”
Qua thư trên ta thấy rơ ư đồ của vua Tống không muốn trả hai động cho ta lại c̣n làm ra vẻ nhân từ, dùng giọng kẻ mạnh để trách cứ nhà Lư là hay gây chuyện “lôi thôi”. Đây là lần thứ tư nhà Lư quyết tâm đ̣i lại đất nhưng bị Tống từ chối.
5.- Năm Bính Dần (1086) vua Lư Nhân Tông lại cử Lê Chung làm chánh sứ, Đỗ Anh Bồi làm phó sứ dẫn sứ bộ sang Biện Kinh mừng Tống Triết Tông lên ngôi. Tháng 10 năm 1086 sứ bộ đến Quảng Tây, Lê Chung lại nhắc lại với Lê Thành Trạc việc xin giải quyết đất đai tại biên giới nhưng chưa được chiếu trả lời. Thành Trạc với tư cách là quan trông coi biên giới đă nói rằng vua Tống đă ban chiếu giải quyết vấn đề nầy rồi, nay không nhắc đến nữa. Đến tháng 4 năm Đinh Măo (1087) sứ bộ đến Biện Kinh, vua Tống muốn xoa dịu việc chiếm đất nên phong chức cho chánh phó sứ và phong cho vua Lư Nhân Tông tước Nam B́nh Vương thay v́ Giao Chỉ quận vương như trước. Đây là lần thứ năm nhà Lư đ̣i đất hai động Vật Dương và Vật Ác lại bị Tống từ chối.
6.- Mặc dầu đă 5 lần đ̣i đất đều bị Tống từ chối, nhưng vua Lư không thể cam
tâm để mất đất của tiền nhân một cách dễ dàng nên đă tạo áp lực quân sự dọc theo
biên giới khiến cho nhà Tống lo sợ phải cho xây thêm các đồn ở các cửa ải. Vin
vào lư do đó, vua Lư viết thư cho vua Tống kêu ca rằng quân Tống đang tăng cường
binh lực đe dọa đất đai của ḿnh. Ngày 22 tháng 8 năm Mậu Th́n (1088), vua Tống
đă ban chiếu trả lời như sau:
“ Trẩm nhớ thanh đức của Tiên đế đă đoái thương đến phương xa. Sau khi rút
quân khỏi Phú Lương, Tiên đế đă xét lời khẩn cầu của Khanh liền lấy các châu
Quảng Nguyên ban cấp. Sau đó v́ thủ lĩnh An Nam nhận lầm cương thổ, Tiên đế lại
sai quan biện chính chia cơi, rồi lấy 6 huyện 2 động ở ngoài ải cấp cho Khanh
chủ lĩnh. Thi ân thế có thể gọi là tột bực. Trẩm vâng theo lời dạy của Tiên đế
cốt sao cho bờ cơi yên vui. Huống chi trẩm đă giáng chiếu xuống nhiều lần, giảng
cực rơ ràng: Các đất Vật Dương, Vật Ác không thể đem bàn trở lại được nữa. C̣n
như việc xây cửa ải, đặt lính thú là việc thường làm ở nơi biên cương, huống chi
những đất qui minh trước và sự xây cửa ải là sau, vậy không lẽ ǵ mà ngờ vực và
kêu ca nữa. Thật rằng những kẻ phiên thần là trước hết dốc
ḷng thành tín, chớ nên vu hoặc. Lời trẩm không thể nói đi nói lại nhiều lần. Thành Trạc nhân đi tuần biên để soát các cửa ải, đă tự tiện
đem đồ vật và lụa cho các thủ lĩnh cơi ngoài, làm thế là trái luật. Vừa rồi theo
lời Ty kinh lược tố giác và tâu Thành Trạc đă sanh sự, Trạc đă bị biếm và đổi đi
rồi. Khanh nên đ̣i lại những đồ vật ấy và đệ tất cả tới quan....”
Vua Lư đă vận dụng tất cả các phương tiện có được từ quân sự đến ngoại giao, khi th́ dùng lời lẽ mềm mỏng để thuyết phục, có lúc lại dùng lư lẽ để biện bác, kiên tŕ đ̣i lại những đất đă bị các tù trưởng địa phương nộp cho Tống nhưng vẫn bị Tống từ chối. Từ năm Kỷ Tỵ (1089) trở lui, không thấy vua Lư nhắc đến chuyện đ̣i đất thuộc hai động nầy nữa.
II. Hồ Quí Ly khiển trách sứ giả và đầu độc bọn thổ quan coi đất cho nhà Minh: Sau khi đoạt ngôi của nhà Trần, Hồ Quí Ly sai sứ sang cáo là nhà Trần tuyệt tự, lấy danh nghĩa là cháu ngoại tạm quản lư việc nước và xin được phong vương, Minh Thành Tổ phong cho Hồ Hán Thương là An Nam quốc vương. Từ đó sứ thần nhà Minh sang nước ta liên tiếp và hạch sách đủ điều, lại đ̣i đất Lộc Châu nhưng Hồ Quí Ly không nghe, năm 1404 có một người lấy tên là Trần Thiêm B́nh trốn sang Trung quốc, tự xưng là con vua Trần Nghệ Tông tố cáo với nhà Minh việc Hồ Quí Ly cướp ngôi. Vua Minh sai Lư Ỷ sang điều tra, Lư Ỷ đi nhiều nơi để xem xét t́nh h́nh rồi về báo lại tất cả sự thật cho vua Minh. Lợi dụng t́nh thế, vua Minh sai sứ thần sang đ̣i Hồ Quí Ly phải trả lại đất Lộc Châu cho Trung quốc v́ theo lời tâu tŕnh của Hoàng Quảng Thành, thổ quan của châu Tư Minh, th́ đất đó nguyên là đất thuộc châu Tư Minh của Trung quốc. Để xoa dịu t́nh h́nh và làm vừa ḷng nhà Minh, Hồ Quí Ly đành phải cho Hoàng Hối Khanh là Cát địa sứ lên Lạng Sơn đàm phán với nhà Minh. Cuộc đàm phán xảy ra rất gay go nhưng cuối cùng Hàng Hối Khanh đành phải nhượng cho nhà Minh 59 thôn ở Cổ Lâu. Khi trở về Khanh bị Hồ Quí Ly quở trách tàn tệ v́ đă nhượng cho nhà Minh quá nhiều đất, đồng thời họ Hồ c̣n ngầm sai người bản thổ đầu độc tất cả những thổ quan do Minh đặt ra để cai quản những đất mới được nhượng. Dù đang phải đối phó với t́nh thế vô cùng bất lợi v́ đă bị mang tiếng là kẻ soán nghịch, cướp ngôi của nhà Trần nên không được toàn dân hậu thuẫn lại đang bị quân Minh làm áp lực mạnh, nhưng Hồ Quí Ly vẫn chứng tỏ được tinh thần yêu nước qua hành động ngầm chống đối nhà Minh nói trên thay v́ chịu cúi đầu tuân lệnh ngoại bang, cắt đất của Tổ tiên dâng cho chúng để bảo vệ quyền lợi của phe nhóm như những bọn vong nô sau nầy.
III.- Vua Lê Hi Tông - chúa Trịnh Căn sai sứ đ̣i đất các châu, động bị quân Thanh xâm Chiếm: Theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí và Việt Sử Thông giám Cương mục th́ trong thời gian từ 1688 đến 1697 nhà Thanh đă nhiều lần lấn chiếm biên giới nước ta: “ Tháng 5 năm Mậu Th́n (1688), thổ ti Vân Nam nhà Thanh xâm chiếm biên giới ở ba châu thuộc Tuyên Quang và châu Thủy Vĩ thuộc Hưng Hóa giáp liền với phủ Khai Hóa nhà Thanh. Triều đ́nh đă sai sứ sang thương lượng để lấy lại đất nhưng không có kết quả. Từ đấy trở đi đất ở ba châu bị mất về nhà Thanh.” “ Tháng 6 năm Kỷ Tị (1689), triều đ́nh lại cử Đinh Tấn Khoa, Hữu Thị lang Bộ H́nh hội với quan nhà Thanh để khám xét biên giới thôn Na Oa, châu Lộc B́nh thuộc Lạng Sơn... Tranh cải măi nhưng Thanh triều không chịu trả đất. Cuối cùng đất Na Oa vẫn mất về nhà Thanh”. Năm Canh Ngọ (1690) triều đ́nh cử Nguyễn Danh Nho và Nguyễn Quư Đức làm chánh sứ, Nguyễn Tiến Sách và Trần Thọ làm phó sứ sang nộp cống lễ hàng năm cho nhà Thanh đồng thời bàn hai việc: 1) Dư đảng của họ Mạc vẫn c̣n lẩn lút ở Vân Quang để cướp bóc vùng biên giới Tuyên Quang,Hưng Hóa, Cao Bằng. 2) Xin tra xét việc thổ ti ở Mông Tự và Khai Hóa lấn đất ở các châu Thủy Vĩ, Quỳnh Mai, Bảo Lạc và Vị Xuyên, nhưng nhà Thanh vẫn lờ đi, không trả lời. Cũng theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí th́ quân nhà Thanh không phải chỉ lấn chiếm ba động mà số đất bị mất c̣n nhiều hơn. Năm Tân Mùi (1691) sứ thần nước ta tâu với Thanh triều rằng thổ ti phủ Khai Hóa xâm chiếm 60 động biên giới thuộc ba châu Bảo Lạc, Thủy Vĩ và Vị Xuyên và ba động Quảng Lăng, Hợp Ph́, Hoàng Nhan.
Tháng Giêng năm Đinh Sửu (1697) triều đ́nh cử Nguyễn Đăng Đạo
và Nguyễn Thế Bá làm chánh sứ, Đặng đ́nh Tường và Nhữ Tiến Hiền làm phó sứ sang
Yên Kinh nộp cống vật hàng năm và dâng quốc thư xin vua Thanh trả đất ba động
Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viện thuộc châu Vị Xuyên. Nguyễn Đăng Đạo đă trổ tài
biện bác, lư luận với các quan Thanh triều, tŕnh bày những bằng chứng và bản đồ
để chứng minh rằng ba động đó là đất của nước Nam, nhưng bị Tuần phủ Vân Nam là
Thạch Văn Thạnh mang bản đồ có vẽ ba động nói trên vào dâng lên vua nhà Thanh và
tâu gian rằng: “ Ba động ấy là của Trung Hoa từ thời nhà Minh, nếu sứ thần An
Nam đ̣i mà vua chịu trả th́ sau nầy họ đ̣i cả Lưỡng Quảng là đất của Triệu Đà
nước Nam Việt ngày xưa th́ Trung Hoa cũng phải trả sao?”. Vua nhà Thanh nghe
Thạnh tŕnh bày hợp lư nên gạt bỏ việc đ̣i đất của sứ thần Lê triều. Như vậy
trong ṿng 10 năm, từ năm Mậu Th́n (1688) đến năm Đinh Sửu (1697), triều đ́nh ta
đă vận dụng ngoại giao 4 lần sai sứ mang cống vật sang nộp cho nhà Thanh và
thương lượng đ̣i lại những châu động đă bị nhà Thanh lấn chiến, nhưng đều bị
Thanh triều gạt bỏ hay ém nhẹm khiến nước ta bị mất một số đất đai dọc theo biên
giơiù thuộc các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn.
IV.- Vua Lê Dụ Tông – chúa Trịnh Cương gởi sứ bộ sang nhà Thanh đấu tranh để bảo
vệ chủ quyền nước ta ở vùng mỏ Tụ Long, Hà Giang: Tụ Long là một xă thuộc Vị
Xuyên, trấn Tuyên Quang, (thuộc tỉnh Hà Giang ngày nay) phía tây giáp phủ Khai
Hóa, phía bắc giáp Ngưu Dương ( Trung Quốc), có sông Đổ Chú làm biên giới tự
nhiên, có ruộng đất màu mỡ và gỗ thông tốt, ngoài ra c̣n có mỏ đồng và mỏ bạc ở
làng Nà Ngọ. Vào thời vua Lê-chúa trịnh, mỏ đồng Tụ Long mỗi năm nấu được
450.000 cân đồng ( 100 cân đồng trị giá 9 lạng bạc). Có khoảng 300 nhà sinh sống
ngay tại xưởng nấu đồng và hàng ngàn nhà sống tại phố chợ gần đó. Vào khoảng
1720 đến 1729 có tới hàng vạn người đúc đồng.( Quặng cát nấu 4 lần mới thành
đồng, đồng nấu 2 lần nữa th́ lọc được bạc, 10.000 cân đồng nấu được 8 hốt bạc).
Trước một vùng đất màu mỡ và nhiều tài nguyên như trên, Thanh triều mưu toan
chiếm giữ bằng mọi cách. Trước hết quan lại phủ Khai Hóa, tỉnh Vân Nam cho quân
xuống chuẩn bị chiếm giữ mỏ đồng đồng thời gởi kháng thư báo cho ta biết là biên
giới của phủ Khai Hóa kéo dài xuống phía nam 240 dặm, là sông Ninh Biên chứ
không phải chỉ ngang sông Đỗ Chú, và cho lập mốc biên giới ở núi Xưởng Chí, lại
c̣n vu cho ta là lấn chiếm đất của Trung Quốc đến 40 dặm. Thanh triều c̣n cho
lập bia mốc và xây đắp các đồn lũy và các ải.
Trước hành động xâm lăng của nhà Thanh, triều đ́nh Lê-Trịnh đă gởi kháng nghị thư cho tuần phủ Vân Nam và vua Thanh. Ngạc Nhĩ Thái, đương kim tuần phủ Vân Nam đă gởi thư trả lời với giọng điệu hống hách và c̣n trách ta càn dỡ, đ̣i hỏi ta phải làm bản tâu khác để “tạ tội”. Đối phó với sự ngang ngược của quan quân nhà Thanh, triều đ́nh Lê-Trịnh đă cho Trịnh Kính là đương kim trấn thủ Tuyên Quang đem quân lên đề pḥng lại được Hoàng Văn Tuy, viên quan cai quản vùng Tụ Long hết ḷng bảo vệ khu mỏ. Chúa Trịnh Cương một mặt ra lệnh cho quân ta sẵn sàng chiến đấu nhưng không được gây chiến trước, một mặt vẫn tiếp tục thư từ trao đổi với Thanh triều. Thấy triều đ́nh ta quyết tâm bảo vệ đất, không dể ǵ chiếm được khu mỏ đồng Tụ Long như dự định, chúng bèn thay đổi thái độ ḥa hoăn hơn, viết thư trả lời như sau: “Địa giới từ sông Ninh Biên trở vào, từ con ng̣i nhỏ núi Xưởng Chí trở ra, nói là địa phận của quí quốc (Việt Nam) cố nhiên có bằng cứ nhưng nói là địa phận của nội địa (Trung quốc) cũng không phải là lời nói vu vơ. Không phải nói chứng cớ của quí quốc lời nào cũng chính xác mà việc ghi chép của nội địa việc ǵ cũng khó tin, nhưng nay Thiên tử đă ban ơn mà Quốc Vương (tức vua Lê) đă chịu ơn trời ban cho,không cần tranh cải về địa giới làm ǵ. Vậy nay nhất định phân chia địa giới chỗ đất 40 dặn kể từ con ng̣i nhỏ núi Xưởng Chí trở vào và vùng Mă Bạc trở ra, mong Quốc vương ủy cho viên chức thông thạo định kỳ khám xét”.
Năm Bính Ngọ 1726, chúa Trịnh Cương sai Tiến sĩ Hồ Phi Tính và Thám hoa Vũ Công Tể đi đàm phán với nhà Thanh về vấn đề vùng Tụ Long. Mặc dù biên giới giữa ta và Trung quốc được phân định từ thời nhà Minh, nhưng v́ âm mưu lấn chiếm của nhà Thanh nên các cuộc đàm phán diễn ra rất gay go. Do sự pḥng bị nghiêm nhặt chứng tỏ quyết tâm giữ đất của ta và qua các thư từ trao đổi với Thành triều có lời lẽ rất nhũn nhặn, Thanh triều đành phải đáp ứng yêu cầu của triều đ́nh Lê-Trịnh. Năm Mậu Thân 1728 Ngạc Nhĩ Thái đă chuyển một chỉ dụ của vua Ung Chính nhà Thanh sang cho vua Lê, nội dung nư sau: “Nay Quốc vương đă cám ơn hối lỗi, nhảy múa(?) kính theo, nghĩ thưởng cho đất 40 dặm, đă cử đặc phái viên đại thần phụng sắc thư đi dường Quản Đông. Vậy Quốc vương cần cử quan đại thần đến đón tiếp, đến phủ Khai Hóa nhận đất và lập địa giới”.
Ngày 17 tháng 6 , sau khi sứ thần Thanh triều đến Thăng Long tuyên đọc sắc chỉ “thưởng cho đất 40 dặm(!)”, chúa Trịnh Cương đă cử Tiến sĩ Nguyễn Huy Nhuận và Tiến sĩ Nguyễn Công Thái hướng dẫn một phái đoàn lên Tụ Long để lập mốc biên giới. Xong phần tranh đấu rất gay go bằng ngoại giao, phái bộ của ta c̣n phải đấu trí với quan lại Thanh triều v́ dù trên giấy tờ chúng đă chịu trả đất lại cho ta, nhưng lại dùng các mánh khóe xảo trá để đánh lừa ta trên thực địa. Theo sự phân định th́ hai nước lấy sông Đỗ Chú làm ranh giới tự nhiên, nhưng quan nhà Thanh lại chỉ một con sông khác ở phía nam nói là sông Đỗ Chú để phần đất Tụ Long thuộc về Thanh triều. Hai sứ thần Nguyễn Huy Nhuận và Nguyễn Công Thái nghi ngờ nên đă ra công khảo sát thực địa rất kỹ càng, khi đă t́m được sông Đỗ Chú thật bèn dùng lư lẽ biện bạch để đấu tranh, cuối cùng bên nhà Thanh phải công nhận .
Sách Lịch Triều Tạp Kỷ của Ngô Cao Lăng viết: “ Bấy gời quan nhà Thanh cho chia ranh giới hai nước bằng sông Đỗ Chú, nhưng thổ quan phủ Khai Hóa chỉ láo vào sông Đỗ Chú giả để chực chặn lấy các thôn xă ở Bảo Sơn. Bọn Công Thái xông pha lam chướng, vượt nơi hiểm trở, đi qua các mỏ đồng, mỏ bạc, nhận ra được sông Đỗ Chú thật, bèn cùng quan nhàThanh, hai bên tư qua báo lại, tranh biện và bẻ lư măi rồi lập đồng trụ làm giới mốc. Thế là việc cương giới mới ổn định. Mỏ đồng Tụ Long lại thuộc về ta”. Trong Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quí Đôn viết: “ Nay chỗ lập giới mốc ở sông Đỗ Chú, về phía đông là đất Tuỳ Long của nước ta, bên bờ sông có bia đá, có nhà lợp bằng tranh để che mưa nắng, cỏ mọc um tùm. Về phía tây sông nầy là đất phủ Khai Hóa, có lập bia ở trên núi đất, có nhà lợp bằng ngói để che mưa nắng và có đặt đồn canh giữ” Nhà bia sông Đỗ Chú của nước ta dựng bia có khắc chữ như sau: “Giới mốc châu Vị Xuyên, trấn Tuyên Quang, nước An Nam, lấy sông Đỗ Chú làm căn cứ. Ngày 18 tháng 9 năm Ung Chính thứ 6, chúng tôi là Nguyễn Huy Nhuận, Tả thị lang Bộ Binh và Nguyễn Công Thái, Tế tửu Quốc Tử Giám, được triều đ́nh phái ủy, vâng theo chỉ dụ lập bia nầy”. ( năm 1731). Về phía nhà Thanh, văn bia ghi như sau: “Phía nam phủ Khai Hóa ở góc trời giáp với đất Giao Chỉ, tra trong sổ sách ghi chép th́ giới mốc ở vào sông Đỗ Chú, cách lị sở phủ Khai Hóa 240 dặm về phía nam. Chỉ về sau giới mốc lẫn lộn, viên quan do triều đ́nh phái đi khám xét tâu xin lập giới mốc ở núi Mỏ Kẽm. Hoàng Thượng ân uy rộng khắp phương xa, nghĩ Giao Chỉ đời đời giữ đạo kính thuận, ban dụ chỉ đem 40 dặm đất tra xét chính xác để trả lại cho. Bọn Sĩ, Côn chúng tôi, tuân theo thờ hịch của Tổng đốc Vân Quư, ngày 7 tháng 9 họp cùng Nguyễn Huy Nhuận là viên quan phái ủy của Giao Chỉ, cùng bàn định, lấy con sông nhỏ ở phía nam núi Bạch Mă làm giới mốc. Chỗ nầy tức là chỗ trong tờ tâu của Quốc Vương Giao Chỉ gọi là sông Đỗ Chú. Vậy chúng tôi tuân chỉ lập nhà bia giới mốc ở phía bắc sông. Từ đây biên cương bền vững lâu dài, ức muôn năm, được đội không bao giờ mai một. Ngày 18 tháng 9 năm Ung Chính thứ 6...”
Suốt 5 năm trường triều đ́nh Lê-Trịnh đă không ngừng tranh đấu
gay go với nhà Thanh mới thu hồi được phần lănh thổ tranh chấp gồm 17 thôn vùng
mỏ Tụ Long. Đáng tiếc là khi phân chia ranh giới với nhà Thanh, thực dân Pháp đă
cắt vùng đất nầy nhượng cho nhà Thanh để đổi lại việc được mở con đường sắt Lào
Kay- Vân Nam.
* *
Qua các sự kiện lịch sử được trích dẫn trên đây chứng tỏ rằng tiền nhân ta rất
coi trọng đất đai do cha ông để lại và quyết tâm bảo vệ cương giới cho nên mỗi
khi bị Trung quốc lấn chiếm một vùng nào th́ các ngài t́m đủ mọi cách để thu hồi
lại. Phương cách chính là những cuộc thương thuyết ôn ḥa, nhưng cũng có khi
phải vận dụng cả phương tiện quân sự làm áp lực để yểm trợ cho ngoại giao. Cũng
xuyên qua các sự kiện trên ta nhận thấy rằng việc thu hồi đất đai bị Trung hoa
chiếm đoạt phần lớn không nhằm lư do kinh tế mà v́ lư do tinh thần v́ ngoài vùng
đất mỏ ở Tụ Long tương đối có giá trị kinh tế, c̣n các vùng đất khác hầu hết là
những vùng hoang vu, dân cư thưa thớt hay rừng núi chập chùng. Chẳng hạn
như v́ muốn đ̣i lại hai động Vật Dương và Vật Ác, vua Lư Thánh Tông đă phải 6
lần cử sứ giả sang Tàu liên tiếp trong 6 năm trời. Sự đi lại thật khó khăn vất
vả và tốn kém v́ hầu hết các lần cử sứ bộ đi như vậy đều có cống phẩm để dâng
cho vua Tống, nếu tính công sức bỏ ra th́ trị giá c̣n cao hơn đất hai động nói
trên; Việc thượng lượng lại rất gay go lắm khi căng thẳng khiến sứ giả của triều
đ́nh có lúc phải đấu lư với quan lại nhà Tống, tuy thế vua quan nhà Lư vẫn kiên
tŕ đeo đuổi việc đ̣i đất. Ngay cả Hồ Quí Ly, tuy đang trong t́nh thế vô cùng
bất lợi, không thể công khai chống lại sự lấn chiếm đất đai của nhà Minh nhưng
vẫn t́m cách âm thầm đối phó. C̣n việc thương thuyết để ấn định mốc biên giới
tại vùng Tụ Long lại nói lên được ḷng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả
của hai vị sứ giả được triều đ́nh phái ủy: Thân danh là đại quan của triều đ́nh,
hai vị Tiến sĩ Nguyễn Huy Nhuận và Nguyễn Công Thái đă không ngại gian nguy,
xông pha sơn lam chướng khí, trèo đèo lội suối, vượt nơi hiển trở để khảo sát
thực địa, lật tẩy sự lừa dối của đối phương, đem lại thắng lợi cho nước nhà. Sự
kiên tŕ của tiền nhân đă nói lên quyết tâm bảo vệ lănh thổ quốc gia khiến cho
lũ giặc phương bắc nhận thấy rằng muốn xâm chiếm đất đai của ta không phải dễ
dàng và với quyết tâm đó tiền nhân cũng muốn nêu cao tinh thần yêu nước và tự
hào dân tộc để con cháu noi theo.
Tuy rằng trong quá tŕnh tranh đấu để thu hồi cương thổ nhiều khi không được toại nguyện v́ Trung quốc xảo trá và tham lam, nhưng chính sự quyết tâm của tổ tiên ta đă ngăn chận tham vọng xâm lăng của Trung Hoa nhờ đó nước ta mới c̣n tồn tại đến ngày nay. Không kể đến những cuộc chiến đấu chống xâm lăng mà cha ông ta đă đổ không biết bao nhiêu xương máu để bảo vệ từng tấc đất nơi biên thùy, ngay trong thời b́nh tiền nhân cũng phải tốn biết bao công sức, tiền của để đấu tranh thu hồi những vùng đất bị bắc phương cưởng đoạt, nhưng đau đớn thay, những công lao xương máu đó, những tấm gương kiên tŕ và tận tụy đó, những lời răn dạy chân thành và thiết tha đó của tiền nhân đă không được hậu thế noi theo khiến cho trang sử hào hùng của dân tộc hai lần bị hoen ố mà không bao giờ có thể tẩy xóa được bởi v́ khi những tên vô loại tiếm đoạt được quyền hành th́ chúng chỉ lo củng cố địa vị, thu tóm lợi quyền cho phe nhóm chứ đâu có nghĩ đến dân đến nước v́ thế chúng sẵn sàng phản bội tổ tiên, bôi nhọ dân tộc, cúi đầu cắt đất dâng cho kẻ thù truyền kiếp phương bắc: Lần thứ nhất do cha con Mạc Đăng Dung dâng đất cho nhà Minh năm 1540 và lần thứ nh́ do tập đoàn Cộng sản vong bản Hà nội dâng đất và lănh hải cho Trung cộng năm 1999 - 2000.
Tuy cha con Mạc Đăng Dung đang lâm phải t́nh trạng lưỡng đầu
thọ địch: Bị quân nhà Lê trung hưng đe dọa ở phương nam nên đành phải hạ ḿnh
cầu cạnh nhà Minh mong giữ được chức quyền nhưng hành động măi quốc cầu vinh đó
vẫn bị đồng bào lên án và hậu thế đời đời nguyền rủa, c̣n tập đoàn lănh đạo đảng
Cộng sản Việt nam lại dâng đất đai và lănh hải cho Trung cộng trong t́nh trạng
đất nước không có chiến tranh hay một sự đe dọa nào mà chỉ nhằm mục đích t́m hậu
thuẫn để bám víu quyền lực th́ tội
trạng càng nặng nề gấp bội.
Đây không phải là lần đầu tiên tập đoàn lănh đạo Hà nội nhượng bộ Trung cộng một cách dễ dàng mà ngay từ năm 1958, Phạm Văn Đồng với tư cách thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, tuân lệnh Hồ Chí Minh, ngày 14- 9- 1958 đă gởi văn thư cho Tổng Lư Quốc vụ viện Trung quốc ( Thủ Tướng) Chu Ân Lai thừa nhận bản tuyên bố về lănh thổ và lănh hải của Trung cộng được công bố ngày 4- 9 – 1958 dẫn đến hành động xâm lăng quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1964 và quần đảo Trường sa vào tháng 3 năm 1988.
Để biện bạch cho hành động bán nước nầy, tập đoàn lănh đạo
Cộng sản Hà nội đă chỉ thị cho tờ “Sài G̣n Giải Phóng” vào tháng 5 -1976 viết
rằng: “ Trung quốc là người thầy đă cưu mang Việt Nam cho đến ngày hôm nay, th́
chủ quyền Hoàng Sa thuộc Trung quốc hay thuộc Việt Nam cũng vậy thôi. Khi nào
Việt Nam muốn nhận lại, Trung quốc sẽ sẵn sàng trao lại quần đảo nầy” (?!!!) và
báo Nhân Dân ngày 26 – 4- 1988 viết: “ Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm
lược th́ Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ
sử dụng hai quần đảo nói trên. Do đó những lời tuyên bố (của Phạm Văn Đồng) phải
được hiểu trên tinh thần và bối cảnh lịch sử đó” và mới đây bọn cầm quyền tại Hà
nội c̣n thú nhận : “Trung quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng
chí mà c̣n là người thầy tín cẩn, đă cưu mang chúng ta nhiệt t́nh để chúng ta có
ngày hôm nay”. Qua những lập luận đó chúng ta càng thấy rơ sự lệ
thuộc của cái gọi là “ Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” vào Trung cộng. Chủ
quyền quốc gia không c̣n được xem trọng và những sự nhượng bộ đất đai và lănh
hải quá dễ dàng sẽ kích thích Trung cộng, vốn có tham vọng không ngừng lấn chiếm
đất đai của ta, ngày càng có những yêu sách bất lợi cho Việt Nam, nhất là trong
t́nh trạng bị Trung quốc đang lũng đoạn toàn diện theo như lời báo động của Luật
Sư Lê Chí Quang. Bản chất vong nô đó của tập đoàn lănh đạo Hà nội sẽ đe dọa sự
toàn vẹn lănh thổ của đất nước và sẽ đem đến một tương lai vô cùng đen tối cho
dân tộc ngày nào bọn chúng c̣n nắm quyền cai trị. So với tội trạng của cha con
Mạc Đăng Dung th́ tội trạng của những tên chóp bu của đảng Cộng sản Việt Nam c̣n
nặng gấp bội, không thể dung tha được, đáng trừng trị và đáng nguyền rủa đời
đời.
Để thấy bản chất đê hèn của lũ vong nô, hành vi đốn mạt của bọn phản quốc, bán
nước cầu vinh, lời lẽ ti tiện của lũ tham quyền cố vị, chỉ lo bảo vệ quyền lợi
của bè lũ mà bán rẻ quyền lợi quốc gia, bôi nhọ uy danh ngàn đời mà tổ tiên đă
hy sinh biết bao xương máu để gầy dựng và tô bồi, nhân đây chúng tôi cũng xin
trích dẫn tờ hàng biểu do Mạc Đăng Dung sai cháu là Mạc Văn Minh cùng bọn Hứa
Tam Tỉnh mang sang Yên Kinh xin cầu phong và cũng để từ đó suy ra bản chất vong
nô, phản bội tổ tiên, chối bỏ dân tộc, lừa gạt dân chúng của tập đoàn Cộng sản
Hà Nội ngày nay.
Tờ biểu viết: “ Thần là tiểu nhân ở phương xa, trí thức chưa được mở mang. Nhưng
mỗi khi núp ở phương Nam, trông về trời Bắc, thấy trời quang đất tỉnh, biển lặng
sông trong, biết là Trung quốc đă có thánh nhân. Huống chi oai hùng của nhà vua
đă vang động khắp thiên hạ và ḷng nhân huệ của nhà vua lại như khí ḥa mùa
xuân, tấc ḷng vừa mừng vừa sợ, không thể nói hết được... Trong khi thảng thốt,
tạm theo tục rợ giao phó việc nước cho thần, thần lại giao cho Đăng Doanh. Chưa
kịp thỉnh mệnh tâu lên, thực đă tự chuyên phạm tội. Tuy cửa khuyết cách xa muôn
dặm, khôn nỗi tỏ bày, nhưng tội lớn tày trời, thế nào dấu nổi! Năm Gia Tỉnh thứ
17 (1538), cha con thần đă sai bọn Nguyễn Văn Thái dâng biểu xin hàng và xin xét
xử...V́ vậy thần và Phúc Hải một ḷng cung kính, đợi mệnh triều đ́nh. Vừa rồi
đại tướng sang đánh, khi quân tới bờ cơi nước thần th́ thần như con lợn trong
chuồng, đâu đủ sức để chống lại...Nên ngày 3 tháng 11 năm Gia Tỉnh thứ 19 (1540)
thần đem bọn tiểu mục Nguyễn Thạch Quế, Nguyễn Thế Khanh, bọn kỳ lăo Lê Thuyên,
Nguyễn Tổng và bọn sĩ nhân Nguyễn Kinh Tế, Dương Huy Nhất, Bùi Chí Vĩnh kính đợi
ở cửa Nam Quan, tự trói mà ra ngoài cơi, đến doanh đại tướng cúi đầu tỏ ḷng
trung để xin hàng. Thần Đăng Dung vốn muốn thân đến kinh để chầu và chịu
tội, nhưng v́ tuổi già lại ốm, không thể khúm núm đi được...C̣n như đất đai và
nhân dân th́ đều là của thiên triều, chỉ xin thể ḷng dân rợ, để được tiện khu
xử, cho thần được nội thuộc xưng phiên...Tuy rằng nước thần trước đây từ đời họ
Đinh, họ Trần, họ Lê theo nhau xưng vương đặt niên hiệu, sau khi ăn năn tự biết
không nên, thần đă từng nghiêm khắc khuyên răn người trong nước từ bỏ niên hiệu
để đợi mệnh...C̣n việc quan thú Khâm Châu thuộc Quảng Đông tâu rằng động Tê Phù,
Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc hai đô Nhu Tích và Chiêm Lăng là đất cũ của Khâm
Châu, Quảng Đông, nếu quả thực như lời ấy th́ đó là cái lỗi mạo nhận của họ Lê
trước, nay thần xin giao trả lại, để thuộc về Khâm Châu...Chỉ xin đem 7 châu
Quảng Lăng và các trại Hồng Y cùng một vài nơi phụ cận để cắt cho làm đất quảng
hạt, thuộc về Vân Nam...Thần lại muốn chiếu theo lệ cũ của triều trước đúc người
vàng mà thế thân, muốn dâng lên ngay, lại sợ đường đột... Kính mong rủ ḷng xét
cho”.
Để thay lời kết chúng tôi xin trích dẫn việc đánh giá hành vi khốn kiếp của bọn Mạc Đăng Dung của sử gia Trần Trọng Kim, ông đă viết: “ Mạc Đăng Dung đă làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một tên nghịch thần; đă làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cơi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một đứa phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cỡ trần ra trói ḿnh lại, đi đến qú lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quí cho một thân ḿnh và một nhà ḿnh, ấy là một người không biết liêm sỉ. Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người là không có nhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang sơn của nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc ḷng, một cái cơ nghiệp dựng lên bởi sự gian ác hèn hạ như thế th́ không bao giờ bền chặt được! Cũng v́ cớ ấy cho nên con cháu họ Lê lại trung hưng lên được”.
Một sự đánh giá chí lư đă được thể nghiệm bằng thực tế lịch sử
nước nhà đúùng là một tiếng chuông ngân vang để cảnh tỉnh những người Cộng sản
c̣n mê đắm trong vũng lầy lợi quyền đầy tội lỗi; một chất men để dậy nên phong
trào đấu tranh của toàn dân đứng lên lật đổ tập đoàn thống trị vong bản, ngu
muội, đề hèn; một ngọn đuốc soi đường cho công cuộc tranh đấu giành lại quyền tự
do dân chủ cho hơn 80 triệu đồng bào đang bị ḱm kẹp dưới bàn tay của một thiểu
số gian ác, tham ô, ngu tối đang từ từ đưa đất nước đến chỗ diệt vong! Chính
nghĩa nhất định thắng. Hành động bạo ngược, phản dân hại nước nhất định phải bị
bánh xe lịch sử nghiền nát. Bọn măi quốc cầu vinh nhất định phải bị nhân dân
trừng trị! Vận nước đă qua cơn bĩ cực, tương lại tươi sáng của dân tộc đang hé
mở! Toàn thể chúng ta phải góp tay vào để tác
động cho bánh xe lịch sử dân tộc quay nhanh hơn!
Charlotte tháng 3 năm 2002
KIM KHÔI
Tài liệu tham khảo:
- Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.
- Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn.
- Đại Việt Sử Kư Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên.
- Chuyện Đi Sứ, Tiếp Sứ Ngày Xưa của Nguyễn
Thế Long.