![]() |
|
| (3/2/1930 - 3/2/2000)Số 2 (1-2000) | |
|
|
|
|
MỐC MỚi TRONG QUAN HỆ VIỆT - TRUNG Vũ Khoan Ngày 30-12-1999, ngay bên thềm của năm mới, thế kỷ mới và thiên kỷ mới, tại Hà Nội đã diễn ra một sự kiện quan trọng được dư luận cả nước và thế giới quan tâm : đó là Hiệp ước về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc được ký kết. Vậy biên giới trên đất
liền giữa 2 nước được xác định lúc nào và vì sao lại phải đàm phán và ký
Hiệp ước ? Tuy nhiên, trong hơn 100 năm qua đã diễn ra nhiều sự biến đổi về thiên nhiên ở trên thực địa cũng như về chính trị - xã hội ở mỗi nước và trong quan hệ hai nước, do đó đã nẩy sinh nhận thức khác nhau đối với một số khu vực trên đường biên giới. Ngoài ra, việc hoạch định biên giới giữa chính quyền Pháp và nhà Thanh được xúc tiến hơn 100 năm trước với phương tiện và điều kiện lúc đó - nên lời văn và bản đồ về nhiều đoạn không được đầy đủ, rõ ràng, chính xác. Nhiều cột mốc biên giới cùng với thời gian đã bị hư hỏng, nằm không đúng vị trí hoặc thậm chí thất lạc. Chính vì vậy mà nảy sinh tranh chấp và yêu cầu đàm phán để xác định lại đường biên giới giữa hai nước. Sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời (1949), một số lần nước ta và Trung Quốc đã trao đổi ý kiến, đàm phán về vấn đề biên giới trên bộ. Đặc biệt, sau khi khôi phục quan hệ bình Thường vào đầu những năm 90, hai Đảng, hai nước đã quyết định đàm phán về các vấn đề biên giới lãnh thổ, trong đó có việc ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền. Thực hiện quyết định này, từ năm 1993 hai nước đã tiến hành 6 vòng đàm phán ở cấp chính phủ và 16 vòng ở cấp chuyên viên. Đặc biệt, ngày 19-10-1993, hai bên đã ký Thỏa thuận về các nguyên tắc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ, làm kim chỉ nam cho cuộc đàm phán tiếp theo. Năm 1997, nhân dịp Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Trung Quốc và tháng 2-1999, nhân dịp Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm Trung Quốc, lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước đã thỏa thuận tích cực thúc đẩy đàm phán để ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền trước năm 2000. Thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao đó đã tạo ra xung lực thúc đẩy tiến trình đàm phán, đưa tới việc ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc vào ngày 30-12-1999 vừa qua. Vậy hai bên đã đàm phán về những vấn đề gì và trên những nguyên tắc nào ? Trước hết, phải nói rằng, trên phần lớn chiều dài của đường biên giới lịch sử, hai bên có nhận thức trùng hợp. Chỉ đối với khoảng trên 30%, nhận thức hai bên có khác nhau vì những lý do nói ở trên. Cuộc đàm phán chủ yếu tập trung vào việc xử lý các khu vực này. Điều đáng ghi nhận là cuối cùng hai bên đã giải quyết tất cả các khu vực có nhận thức khác nhau, không "treo" lại khu vực nào cả Trong đàm phán, trên cơ sở tôn trọng đường biên giới do lịch sử để lại, hai bên đã nhất trí các nguyên tắc đối chiếu, xác định biên giới trên bộ như : 1. Lấy các Công ước 1887, 1895 cùng các văn kiện, bản đồ hoạch định và cắm mốc biên giới kèm theo cũng như các mốc giới cắm theo quy định làm căn cứ để đối chiếu và phân các khu vực C thành loại "rõ ràng" và loại "không rõ ràng" để giải quyết theo hướng : - Loại "rõ ràng" thì căn cứvào các quy định của hai Công ước Pháp - Thanh để giải quyết, nếu bên nào quản lý quá giới hạn thì trao phần "lấn" cho bên kia. - Loại "không rõ ràng" thì sử dụng tổng hợp các, yếu tố khác nhau (lịch sử, quản lý, địa hình, bản đồ lịch sử, mốc giới, tiện lợi cho việc quản lý) để giải quyết theo tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, công bằng, hợp lý. 2. Các khu vực dân cư hai bên đã sinh sống lâu đời thì duy trì cuộc sống ổn định của dân cư. 3. Đối với những đoạn biên giới theo sông suối, những đoạn đã được Công ước Pháp - Thanh quy định rõ ràng thì theo các Công ước, còn những đoạn chưa được các Công ước quy định rõ thì giải quyết theo các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, cụ thể là : - Đường biên giới trên
các đoạn sông, suối tàu thuyền đi lại được thì theo trung tâm luồng chính
tàu thuyền qua lại ; Vấn đề biên giới lãnh thổ
luôn luôn là vấn đề rất phức tạp. Cuộc đàm phán diễn ra không đơn giản, kéo
dài tổng cộng trên 20 năm kể từ lần đàm phán chính thức năm 1977 và đặc biệt
khẩn trương trong 7 năm gần đây. Đương nhiên, đối với các khu vục có nhận
thức khác nhau thì mỗi bên đều có căn cứ, lập luận khác nhau. Do đó, để đi
tới giải pháp, hai bên tất phải chiếu cố, nhân nhượng lẫn nhau trên cơ sở
các nguyên tắc nói trên. Cuối cùng đã thỏa thuận được là do sự quan tâm và
sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo cấp cao, nỗ lực của các cấp, các ngành hữu
quan và đoàn đàm phán. Hai là, việc ký Hiệp ước
tạo thuận lợi để biến biên giới Việt - Trung thành biên giới hòa bình, hữu
nghị, tạo cơ sở tốt cho việc thúc đẩy quan hệ giữu hai nước theo khuôn khổ
đã định là "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, huớng
tới tương lai". Nó sẽ tạn đà cho việc phân định Vịnh Bắc Bộ vào năm 2000. Việc ký Hiệp ước là một bước tiến lớn. Tuy nhiên, phía trước còn nhiều việc phải làm. Trước hết, hai bên phải xúc tiến các thủ tụccần thiết để phê chuẩn Hiệp ước. Sau đó hai bên cần lập ra ủy ban hỗn hợp về phân giới, cắm mốc và ủy ban này sẽ tiến hành phân giới, cắm mốc trên thực địa (vì Hiệp ước mới chỉ là ghi nhận những thỏa thuận nguyên tắc, bản đồ kèm theo Hiệp ước ở tỷ lệ quá lớn : 1/50 000). Đồng thời, hai bên còn phải đàm phán về một Hiệp định chính thức về quản lý biên giới thay cho Hiệp định tạm thời ký năm 1991. Chỉ sau khi đó, biên giới trên đất liền giữa hai nước mới chính thức có hiệu lực trên toàn tuyến. Hai bên thỏa thuận, trong thời gian xúc tiến những việc trên, hai bên tiếp tục quản lý như Hiệp định tạm thời quy định. Với không khí quan hệ đã hình thành hiện nay, hy vọng rằng, nhân dân hai nước sẽ có điều kiện làm ăn yên ổn, cùng nhau hợp tác để phát triển. Vũ Khoan
|
|
T¹p
chÝ Céng s¶n |