Thuyết Trình Giải Thể Cộng Sản
Nguyễn Hữu Thống

Nếu nhân loại, mọi người đều biết
Cộng Sản là gì, tự nó sẽ tiêu đi,
Thứ sinh thành từ ấu trĩ, ngu si,
Sự Hiểu Biết sẽ là Mồ Hủy Diệt.
Nguyễn Chí Thiện

Ðầu năm nay, thay mặt đồng bào trong nước không còn quyền được nói, chúng ta phát động phong trào tố cáo phe lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã phản bội Tổ Quốc bằng cách nhượng đất bán nước cho ngoại bang. Sau đó chúng ta phát động phong trào tố cáo Ðảng Cộng Sản đã phản bội đồng bào trong các mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc; đồng thời kêu gọi đồng bào đứng lên đấu tranh đòi dân tộc tự quyết, giải thể chế độ CS để giành lại quyền làm chủ quốc gia, làm chủ đất nước.
Hai phong trào này đã được sự hưởng ứng của đồng bào các giới. Từ trong nước các anh em dân chủ nhắn ra rằng: ‘Chúng tôi rất cảm kích khi thấy các anh còn nhớ quê hương sau 27 năm bỏ nước ra đi.‘
Một số anh em tại hải ngoại cũng nói: ‘Các anh đã cho chúng tôi một hy vọng.’
Ngày nay, bằng sự vận động quần chúng, bằng sức mạnh của ngòi bút, sức mạnh của lời nói, sức mạnh của tư tưởng, chúng ta sẽ biến hy vọng thành Niềm Tin. Vì có Niềm Tin mới có quyết tâm và dấn thân hành động. Trên bình diện dân tộc Niềm Tin là võ khí lớn nhất. Nó đem lại những hy vọng mới, những chân trời mới, hướng dẫn con người đi tới tự do. 
Dầu sao chúng ta ý thức rằng giải thể CS là một cuộc đấu tranh trường kỳ và cam go. Ðây là một việc thiên nan vạn nan, một cuộc lấp biển vá trời.
Kinh nghiệm cho biết CS không bị giải thể vì những tấn công từ bên ngoài. Nó chỉ giải thể khi người dân trong nước không ai tha thiết bảo vệ chế độ nữa. Do đó, muốn đưa Cách Mạng đến thành công, chúng ta phải trông vào nội lực của chính mình.
Mà ngày nay ở trong nước, dân trí bị bưng bít bởi bộ máy tuyên truyền vĩ đại của Ðảng CS. Theo Hà Sĩ Phu, ‘từ 50 năm nay, người dân nông thôn không biết có gì tồn tại ngoài đảng CS.’
Dân lực suy kiệt, dân khí suy vi, vì người dân thấy mình bị lường gạt và phản bội trong 3 cuộc chiến tranh kéo dài hơn 40 năm.
Dân quyền bị chà đạp trong một chế độ công an trị hà khắc. 26 nhân quyền căn bản bị vi phạm thô bạo. Nhân phẩm bị hạ thấp: người dân chỉ được coi là ‘con’, mà không được đối xử như ‘người.’
Hơn nữa, dân tình đói khổ với những bất công và bất bình đẳng trầm trọng. Bằng tham nhũng và bất lực với một chính sách kinh tế lạc hậu, phe lãnh đạo CS đã đưa đất nước và dân tộc đến lầm than đói khổ. Lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam ngày nay không được 1 mỹ kim một ngày.
Trong khi đó, vì không có sự kiểm soát và chế tài, phe lãnh đạo CS đã sang đoạt tất cả tài sản quốc gia, kể cả các ngân khoản viện trợ tái thiết và viện trợ nhân đạo. Bằng dĩ công vi tư, biển thủ công quỹ, hối mại quyền thế, sưu cao thuế nặng, họ đã làm giàu bất chính để trở thành những triệu phú và tỉ phú. Do sự chênh lệch giàu nghèo quá đáng, lợi tức thực sự của người dân trung bình tại nông thôn chỉ được 1/2 mỹ kim hay 1/4 mỹ kim một ngày. Theo Nguyễn Chí Thiện, ngày nay người nông dân Miền Bắc phải lao động 4 ngày mới được 1 mỹ kim, nghĩa là mỗi ngày chỉ được 25 xu hay 1 quarter.
Chúng ta hãy lấy đồng quarter ra ngắm nhìn để thông cảm với thân phận của đồng bào trong nước. Trong đồng quarter có ghi chữ liberty , nghĩa là tự do, giải phóng. Và chúng ta hãy tự nhủ rằng, chúng ta phải góp phần vào việc giải phóng đồng bào khỏi sự nghèo đói túng thiếu, khỏi sự thất học ngu dốt, khỏi sự sợ hãi đàn áp, khỏi nạn chuyên chế, khỏi nạn CS. Cách đây 70 năm, Phạm Quỳnh đã cảnh giác chúng ta về nạn Ềdịch hạch CSỂ. Ngày nay, với kinh nghiệm bản thân, chúng ta biết rằng CS còn nguy hiểm hơn dịch hạch. Nó là bệnh ung thư. Mà ung thư thì không thể trị liệu được. Ung thư chỉ có thể cắt bỏ đi. CS cũng vậy. Chế độ CS không thể sửa chữa được. Nó phải bị giải thể!
I. Không Cần Giải Thể Cộng Sản Nữa.
Tuy nhiên một số người lại nhận định rằng, ngày nay chế độ CS đã giải thể rồi, và đảng CS đã biến thành một đảng Mafia, hay băng đảng. Do đó chúng ta chỉ cần chống tham nhũng chứ không cần đấu tranh giải thể CS nữa.
Nhận định như vậy là chủ quan và không hiểu rõ bản chất CS.
Trên thực tế, bằng tham nhũng và lạm quyền, phe lãnh đạo CS đã tập trung và sang đoạt tất cả các tài sản quốc gia, để thủ lợi riêng và làm giàu bất chánh. Theo các tài liệu đáng tin cậy, thì hiện nay có trên 30 cán bộ cao cấp CS đã tích lũy những tài sản khổng lồ hàng chục triệu và hàng trăm triệu mỹ kim. Những tài sản này bao gồm những trương mục ngân hàng tại ngoại quốc, những bất động sản và những cơ sở kinh doanh thương mại ở trong nước. 
Vì không có sự kiểm soát và chế tài của quốc dân, của báo chí, của tòa án và quốc hội, những kẻ bất lương phạm pháp này đã không bị truy tố, không bị kết án và không bị tịch thu tài sản. Ðồng bào vô cùng phẫn uất về sự bao che này. Họ công khai miệt thị phe lãnh đạo CS, và đã tố cáo đích danh ‘con thằng Kiệt, con thằng Khải, cháu thằng Ðỗ Mười’ v...v...Mới đây cựu Tổng Bí Thư Ðỗ Mười, với đồng lương chết đói, đã dám tặng dữ một lần một triệu mỹ kim. Hành vi này cho biết ông ta đã tích lũy được hàng chục triệu nếu không nói là hàng trăm triệu mỹ kim.
Ðầu năm nay khi có bằng chứng cho biết phe lãnh đạo CS đã phản bội tổ quốc bằng cách nhượng đất bán nước cho ngoại bang, một số sĩ phu và bô lão đã trình Thất Trảm Sớ, đòi trảm quyết 7 kẻ quyền thần hại dân bán nước là: Mười, Anh. Kiệt, Phiêu, Lương, Khải, Mạnh (Ðỗ Mưỡi, Lê Ðức Anh, Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu, Trần Ðức Lương, Phan Văn Khải, và Nông Ðức Mạnh). 
Ðiều đáng lưu ý là trong khi Mafia chỉ là một đảng cướp thường thì Ðảng CS ngày này là một đảng cướp đã cướp được chính quyền. Cũng vì vậy, họ có chính phủ tay sai để thi hành đường lối chính sách của Ðảng và đã sử dụng ngân sách quốc gia vào việc nuôi dưỡng các cán bộ đảng viên.
Họ còn có quốc hội bù nhìn để hợp thức hóa những nghị quyết của Ðảng, và đã ghi Ðiều 4 Hiến Pháp giành độc quyền lãnh đạo cho Ðảng CS. Họ còn có tòa án công cụ để một mặt bao che những hành vi tham nhũng, phạm pháp của những kẻ bất lương, mặt khác lại bắt giam độc đoán những phần tử lương thiện đã có dũng cảm đứng lên tố cáo bạo quyền, đòi tự do dân chủ và nhân quyền. Hơn nữa, sau khi cướp được chính quyền, Ðảng CS đã thiết lập một chế độ độc tài toàn trị. Do đó ngày nào Ðảng CS còn giữ độc quyền lãnh đạo, vi phạm quyền dân tộc tự quyết, quyền tham gia chính quyền và quyền tự do tuyển cư,ủ thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.
Ngày nào họ còn giữ độc quyền tư tưởng để phổ biến tại các trường công lập chủ thuyết Mác-Lê phản dân tộc và phản nhân loại, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.
Ngày nào họ còn chủ trương tiêu diệt tôn giáo trong chủ thuyết và đàn áp tôn giáo trong chính sách, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.
Ngày nào họ còn giữ độc quyền thông tin, độc quyền báo chí và không cho tư nhân ra báo, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.
Và ngày nào họ còn vi phạm quyền tựĩĩ do hội họp, tự do lập hội và lập đảng, thì chúng ta còn phải đấu tranh để giải thể CS.
Ngày nay Ðảng CS là một con rắn hai đầu, đầu kinh tế Mafia và đầu chính trị độc tài. Nạn nhân trực tiếp của chế độ lại là những người đã tích cực góp phần xây dựng chế độ, như các cựu chiến binh, thương phế binh, gia đình liệt sĩ v...v...
Do đó muốn cho đất nước và dân tộc tiến lên, chúng ta phải đấu tranh giải thể CS, bằng cách chém đứt 2 đầu con rắn. 
II. Cộng Sản Không Thể Giải Thể Ðược
Bên cạnh quan niệm cho rằng chế độ CS đã tự giải thể và Ðảng CS đã biến thành một đảng Mafia hay băng đảng, một số dư luận lại cho rằng CS không thể nào giải thể được. 
Ðây là một quan niệm bi quan và phản biện chứng.
Vì chỉ trên bình diện tôn giáo, những nguyên lý và chủ thuyết mới có giá trị như những chân lý tuyệt đối và vĩnh cữu, như sự từ bi của đức Phật, sự công bằng bác ái của Chúa Kitô, hay sự nhân nghĩa của Khổng Phu Tử. Trên bình diện dân sinh xã hội, các nguyên lý chủ thuyết chỉ có giá trị tương đối theo thời gian và không gian. Về mặt kinh tế chính trị, các chế độ chỉ quy định những tương quan giữa người dân và quốc gia. Do đó nó phải thay đổi theo trình độ ý thức của người dân, điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia và trào lưu tiến hóa của nhân loại. 
Trong lịch sử cổ kim, những chế độ tàn bạo nhất như của Kiệt Trụ, Tần Thủy Hụoang, Thành Cát Tư Hãn, Hitler, Stalin, Mao Trạch Ðông v...v... đã lần lượt tiêu vong với thời gian.
A. ÐẾ QUỐC SÔ VIẾT TAN RàVà 22 QUỐC GIA ÐàLẦN 
Lượt GIẢI THỂ CS.
Cũng vì vậy tại Âu Châu, chỉ trong vòng hai năm (từ 1989 đến 1991), 22 quốc gia đã lần lượt giải thể CS: 7 nước thuộc Bức Màn Sắt Ðông Âu là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Ðông Ðức, Albanie, Bulgarie, Roumanie, và 15 nước thuộc Liên Bang Sô Viết.
Yếu tố giải thể CS thay đổi tùy theo những điều kiện đặc thù của từng quốc gia. 
Tại Ba Lan, 3 yếu tố giải thể CS là:
1) Sức mạnh của quốc dân biểu dương bằng những cuộc mít tinh, biểu tình, tuần hành, đình công v...v...
2) Một tổ chức đối kháng mạnh mẽ như ‘Công Ðoàn Ðoàn Kết’ với 10 triệu đoàn viên.
3) Ý thức phản tỉnh và tinh thần thể thao phục thiện của nhà cầm quyền. Sau những cuộc tổng tuyển cử tự do, khi thấy người dân không còn ủng hộ chế độ nữa, phe lãnh đạo CS đã lặng lẽ rút lui. Tuy nhiên không phải cuộc giải thể CS nào cũng hội đủ 3 yếu tố nói 
trên. Tại Hung Gia Lợi, chúng ta không thấy có sự nổi dậy của quần chúng. ‘Diễn Ðàn Dân Chủ’ chỉ là một câu lạc bộ để thảo luận về những vấn đề dân chủ và nhân quyền. Yếu tố giải thể CS là ý thức phản tỉnh và tinh thần thể thao phục thiện của nhà cầm quyền. Khi thấy người dân không còn tha thiết bảo vệ chế độ nữa, phe lãnh đạo CS đã lặng lẽ rút lui. Tại Tiệp Khắc cũng vậy. Tới tháng 10, 1989 không thấy những cuộc biểu dương lực lượng quy mô của quần chúng. ‘Hiến Chương 77’ chỉ là một tổ chức lỏng lẻo, không có nội qui, điều lệ, không có ban chấp hành và không có danh sách hội viên chính thức. Mục tiêu của Hội là đối thoại với nhà cầm quyền về những vấn đề nhân quyền và vi phạm nhân quyền.
Tại Ðông Ðức, vấn đề chủ yếu là tự do di chuyển và tự do lựa chọn nơi cư trú. Tháng 10, 1989, trong ngày kỷ niệm 40 năm thành lập Ðông Ðức, Tổng Bí Thư Honecker còn mạnh bạo khẳng định rằng chế độ CS sẽ tồn tại 100 năm! Vậy mà chỉ 2 tuần sau, ngày 9-11-1989, bức tường ô nhục Bá Linh đã bị phá vơ,õ kéo theo sự sụp đổ của chế độ CS.
Sự giải thể CS tại 7 nước Ðông Âu năm 1989 đã đưa đến sự tan rã của Liên Bang Sô Viết năm 1991, và 15 quốc gia trong Liên Bang đã lần lượt giải thể CS.
Như vậy yếu tố giải thể CS thay đổi tùy theo điều kiện đặc thù của từng quốc gia.
Dầu sao chúng ta thấy có 2 mẫu số chung hay yếu tố chung để giải thể CS. Ðó là CHÍNH NGHĨA Và Thời Cơ.
Chính Nghĩa ở đây là Chính Nghĩa Tự Do Dân Chủ. Và Thời Cơ đã đến với sự kiệt quệ của Liên Sô. Kiệt quệ về Niềm Tin và kiệt quệ về kinh tế. Từ thập niên 1980, kinh tế Liên Sô lâm vào tình trạng suy kiệt sau cuộc thi đua võ trang với Hoa Kỳ trong Chiến Tranh Tinh Cầu (Star Wars). Hơn nữa Liên Sô đã bị sa lầy nặng nề trong Chiến Tranh A Phú Hãn.
Ðể diễn tả sự kiệt quệ kinh tế tại Liên Sô, người ta thường nói: Ềnhà nước giả đò trả lương cho công nhân viên, và công nhân viên cũng giả đò làm việc cho nhà nướcỂ.
Ðể cứu nguy đất nước, năm 1985, Gorbachev phải thay đổi chính sách bằng tái cấu trúc về kinh tế và cởi mở về chính trị. Với sự triệt thoái quân đội khỏi A Phú Hãn, từ nay Liên Sô chủ trương không can thiệp vào việc nội bộ của các quốc gia trong Minh Ước Varsovie (nghĩa là Liên Sô sẽ không đem chiến xa để dập tắt những cuộc khởi nghĩa như tại Ba Lan và Hung Gia Lợi năm 1956, hay Tiệp Khắc năm 1968).
Vận dụng cơ hội lịch sử này, 7 nước Ðông Âu đã đứng lên đấu tranh giải thể CS năm 1989. Và hai năm sau, năm 1991, Ðế Quốc Sô Viết đã tan rã, và 15 quốc gia trong Liên Bang Sô Viết đã giải thể CS.
Hậu quả dây chuyền của sự giải thể CS Âu Châu là sự tiêu vong của một số chế độ CS tại Á Phi như Angola, Mozambique, Ethiopie, A Phú Hãn, Mông Cổ, Cao Miên v...v...
B. CÁC ÐẾ QUỐC TÂY PHƯƠNG TỰ GIẢI THỂ. 
Nếu 1989 là năm đánh dấu sự suy tàn của Ðế Quốc Sô Viết thì 40 năm trước, năm 1949, tất cả các Ðế Quốc Tây Phương như Mỹ, Anh, Pháp, Hòa Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 thuộc địa Á Châu:
- 5 nước thuộc Anh là Ấn Ðộ, Ðại Hồi, Miến Ðiện,Tích Lan và Palestine.
- 5 nước thuộc Pháp là Syrie, Liban, Việt Nam, Ai Lao và Cao Miên.
- Cùng với Phi Luật Tân thuộc Hoa Kỳ, và Nam Dương thuộc Hòa Lan.
Hai yếu tố giải thể thuộc địa cũng vẫn là CHÍNH NGHĨA Và Thời Cơ: 
Chính Nghĩa ở đây là Chính Nghĩa Giải Phóng Dân Tộc.
Thời Cơ ở đây vẫn là sự kiệt quệ kinh tế của các đế quốc Âu Châu.
Sau Thế Chiến II, hai nước Anh Pháp đã bị tàn phá nặng nề, kinh tế suy kiệt, dân chúng túng thiếu, nạn thất nghiệp trầm trọng, và hàng triệu cựu chiến binh giải ngũ không có công ăn việc làm.
Tháng 5, 1945 Ðức đầu hàng Ðồng Minh. Hai tháng sau, tháng 7, 1945, chính phủ Anh tổ chức tổng tuyển cử. Người anh hùng dân tộc Winston Churchill, lãnh tụ Ðảng Bảo Thủ vẫn chủ trương duy trì thuộc địa để lấy lại vinh quang cho đất nước. Trong khi đó Ðảng Lao Ðộng Anh đã đưa ra đường lối đối lập, chủ trương tái thiết quốc gia, xây dựng kinh tế, cải tiến dân sinh, giải phóng lao động và đặc biệt là giải phóng thuộc địa. Khai phóng thuộc địa vốn là chính sách cố hữu của các Ðảng Lao Ðộng và Xã Hội Âu Châu từ thập niên 1930.
Sau 1945, phỏng theo mô hình của Liên Hiệp Quốc, các Ðảng Lao Ðộng Anh và Xã Hội Pháp chủ trương thành lập Liên Hiệp Anh và Liên Hiệp Pháp trong tinh thần bình đẳng, hợp tác và hữu nghị. Các cựu thuộc địa sẽ trở thành các quốc gia liên kết, với chính sách ngoại giao chung và phòng thủ chung. Những tương quan kinh tế và văn hóa sẽ được phát triển. Tuy nhiên về mặt chính trị, các thuộc địa sẽ được giải phóng và hoàn toàn độc lập.
Ðường lối này đã được đa số cử tri Anh chấp thuận. Và Ðảng Lao Ðộng của Clement Attlee đã thắng Ðảng Bảo Thủ của Winston Churchill. Hai tháng sau khi hòa bình vãn hồi, người anh hùng dân tộc Churchill đã ngã ngựa.
Trung thành với ý nguyện của quốc dân, trong hai năm 1947 và 1948, Chính Phủ Lao Ðộng Clement Attlee đã trả độc lập cho Ấn Ðộ, Ðại Hồi, Miến Ðiện, Tích Lan và Palestine.
Tại Pháp cũng vậy. Tháng 10, 1945 Tướng De Gaulle, người anh hùng giải phóng dân tộc, tổ chức trưng cầu dân ý, và đề nghị một chính thể tập trung quyền lực (với ngụ ý duy trì thuộc địa). Tuy nhiên, 2/3 cử tri Pháp đã bác bỏ đề nghị này để ủng hộ lập trường của Ðảng Xã Hội Pháp tương tự như Ðảng Lao Ðộng Anh nghĩa là: tái thiết quốc gia, xây dựng kinh tế, cải tiến dân sinh, giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa.
Như vậy là từ sau Thế Chiến II, tại Á Châu, kỷ nguyên đế quốc đã cáo chung để nhường chỗ cho kỷ nguyên liên hiệp.
Năm 1946, sau khi De Gaulle từ nhiệm, Chính Phủ Xã Hội Léon 
Blum đã ký hiệp ước với Syrie và Liban để trả độc lập cho 2 quốc gia này.
Cũng trong năm 1946, Pháp thương nghị với Hồ Chí Minh, sau khi ông này tuyên bố giải tán Ðảng CS Ðông Dương và thành lập chính phủ liên hiệp quốc gia với Quốc Dân Ðảng và Ðồng Minh Hội. Hai bên đã ký hai hiệp ước: Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny (tháng 3/1946) và Hiệp Ước Tạm Thời Moutet (tháng 9/1946). Tuy nhiên ba tháng sau, tháng 12/1946, Hồ Chí Minh trở mặt phát động chiến tranh võ trang, và đã trắng trợn vi phạm các hiệp ước quốc tế.
Lúc này chính phủ liên hiệp Việt Nam đã giải tán. Sau khi quân đội Trung Hoa triệt thoái, Cộng Sản thẳng tay tàn sát các cán binh Quốc Dân Ðảng và Ðồng Minh Hội. Như vậy chính phủ liên hiệp chỉ là bức bình phong để thương nghị với Pháp.
Và sự giải tán Ðảng CS Ðông Dương cũng chỉ là một chiến thuật ngụy trang và dối trá. 
Vì Ðảng CS ký hiệp ước không phải để thi hành hiệp ước, nên chính phủ Pháp quyết định sẽ không thương nghị với Hồ Chí Minh nữa. Và năm 1947, Tổng Thống Xã Hội Vincent Auriol chủ trương thương thuyết với phe Quốc Gia Việt Nam để trả độc lập cho Việt Nam. Hai bên đã ký 3 hiệp ước: Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long (tháng 12/1947),Thông Cáo Chung Vịnh Hạ Long (tháng 6/1948) và Hiệp Ước Élysée ký kết giữa Tổng Thống Auriol và Quốc Trưởng Bảo Ðại tháng 3, 1949.
Qua tháng sau, tháng 4/1949, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán 
chế độ Nam Kỳ tự trị để sáp nhập Nam Phần vào lãnh thổ quốc gia Việt Nam, độc lập và thống nhất.
Hai tháng sau, tháng 6/1949, Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Ðịnh Élysée. Từ đó, chiếu công pháp quốc tế, Việt Nam được hoàn toàn độc lập, các hiệp ước thuộc địa và bảo hộ ký kết với Pháp hồi cuối thế kỷ 19, đã bị Hiệp Ðịnh Élysée bãi bỏ.
Mặc dầu vậy, Ðảng CS đã phủ nhận nền độc lập này và đã phá hoại nền thống nhất này. Họ tiếp tục chiến đấu võ trang, với sự yểm trợ của Quốc Tế CS, để cướp chính quyền tại Miền Bắc năm 1954, và cướp chính quyền tại Miền Nam năm 1975.
Ngày nay lịch sử đã chứng minh rằng Ðảng CS không có công giành độc lập, và không có công thống nhất đất nước. Hơn nữa sau 50 năm cướp chính quyền, Ðảng CS đã không đem lại tự do dân chủ và ấm no hạnh phúc cho người dân. Như vậy Ðảng CS đã phản bội đồng bào trong các mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc. Mới đây, họ còn phản bội Tổ Quốc bằng cách nhượng đất bán nước cho ngoại bang. 
Vì vậy, ngày nay Ðảng CS đã mất chính nghĩa và mất hậu thuẫn quần chúng. Và phe Dân Chủ chúng ta đã giành lại được chính nghĩa: Chính Nghĩa Tự Do Dân Chủ. Với Chính Nghĩa, chúng ta sẽ tạo Thời Cơ để giải thể CS.
Dầu sao chúng ta ý thức rằng, giải thể CS là một việc thiên nan vạn nan, một cuộc lấp biển vá trời. Hơn nữa chúng ta sẽ gĩặp nhiều khó khăn hơn các dân tộc Ðông Âu.
Vì người dân Âu Châu thường có tinh thần thể thao phục thiện trong khi phe lãnh đạo CS Việt Nam lại bất phục ngoan cố.
Người dân Âu Châu thường ngay thẳng bộc trực, trong khi phe lãnh đạo CS Việt Nam lại ngụy trang dối trá.
Người dân Âu Châu thường có tinh thần công bằng trọng pháp, trong khi phe lãnh đạo CS Việt Nam lại bao che tham nhũng.
Ðó là chỗ khó khăn của chúng ta, mà cũng là vinh dự của chúng ta.
Trong cuộc chiến đấu này chúng ta phải tìm hiểu những nhược điểm 
của đối phương để khai thác, và những võ khí của đối phương để hóa giải.
Những nhược điểm của CS là: tham nhũng, bất công, bất lực, thường xuyên vi phạm nhân quyền và trắng trợn vi phạm nhân quyền.
Hai võ khí quyết định của CS là: tuyên truyền dối trá và đàn áp khủng bố.
III. Những Khó Khăn Phải Khắc Phục
Tuyên truyền dối trá và đàn áp khủng bố là hai võ khí chiến lược của 
Ðảng CS để cướp chính quyền và củng cố chính quyền. Ðây là một cặp song cổ kiếm phải sử dụng đồng thời, mất một là mất tất cả. Nếu chỉ có tuyên truyền đối trá, mà không có đàn áp khủng bố, thì CS sẽ tiêu vong. Và nếu chỉ có đàn áp khủng bố, mà không thể tuyên truyền dối trá được nữa, thì CS cũng sẽ bị giải thể.
A. Ngụy Trang Và Tuyên Truyền Giối Trá
1. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Ðảng CS đã lồng cách mạng CS trong chiêu bài giải phóng dân tộc chống chế độ thuộc địa. Họ đã dùng ngụy chủ nghĩa dân tộc để khai thác lòng yêu nước của hàng triệu thanh niên nam nữ Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh Ðông Dương.
Về mặt chủ thuyết, trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, Ðảng CS đã phủ nhận chủ nghĩa dân tộc. Họ không quan niệm độc lập quốc gia là một mục tiêu chiến lược, một cứu cánh tối hậu phải tranh thủ với bất cứ giá nào, với bất cứ hy sinh nào, kể cả việc hy sinh những quyền lợi riêng tư của các đảng phái. Ðảng CS chỉ quan niệm độc lập quốc gia như một chiêu bài, một phương tiện, hay một chiến thuật để đạt được mục tiêu chiến lược của họ là cướp chính quyền. Họ đã phủ nhận bất cứ nền độc lập nào không cho họ độc quyền lãnh đạo quốc gia. Do đó, họ đã phủ nhận nền độc lập quốc gia do Hiệp Ðịnh Élysée trao trả cho Việt Nam năm 1949. Và họ tiếp tục phát động chiến tranh võ trang trong suốt 40 năm Ố từ 1949 đến 1989 Ố để cướp chính quyền và bành trướng chủ nghĩa bá quyền. 
Từ 1949 Chiến tranh Ðông Dương không còn là chiến tranh giải phóng dân tộc, mà là chiến tranh ý thức hệ giữa Quốc Tế CS và Thế Giới Dân Chủ như Chiến Tranh Triều Tiên. Sau khi thôn tính lục địa Trung Hoa năm 1949, mục tiêu chiến lược của Quốc Tế CS là xích hóa 2 bán đảo Ðông Dương và Triều Tiên. Năm 1950, Bắc Hàn đem quân xâm lằng Nam Hàn. Từ đó chiến tranh ý thức hệ bộc phát giữa Quốc Tế CS và Thế Giới Dân Chủ.
Kinh nghiệm dân gian cho biết nơi nào trâu bò húc nhau thì ruồi muỗi chết: 3 triệu người đã hy sinh tại Triều Tiên, 3 triệu thanh niên nam nữ đã hy sinh tại Việt Nam, và 2 triệu người Cao Miên đã bị tàn sát, không phải để giành độc lập cho quốc gia mà để cho Ðảng CS có cơ hội cướp chính quyền. 
Vì Ðảng CS Ðông Dương phủ nhận nền độc lập do Pháp trao trả cho 3 quốc gia Ðông Dương năm 1949, nên 3 cuộc chiến tranh Ðông Dương đã xảy ra, và Ðảng CS Ðông Dương phải chịu trách nhiệm về cái chết của 5 triệu người tại Ðông Dương. 
Bằng giả nhân giả nghĩa, ngụy trang và dối trá, Ðảng CS đã dùng ngụy chủ nghĩa dân tộc để giành chính nghĩa và cướp chính quyền.
Ngụy trang đi liền với dối trá. 
Ðảng CS đã tuyên truyền rằng Pháp đem quân sang Việt Nam để tái lập chế độ thuộc địa. Ðây chỉ là một luận điệu tuyên truyền dối trá. Vì từ 1946, Pháp đã không chủ trương tái lập các thuộc địa tại Á Châu, và đã ký hiệp ước với Syrie và Liban để trả độc lập cho 2 quốc gia này. 
Tuy nhiên phe Dân Chủ Tây Phương không chịu trao Ðông Dương cho Ðảng CS Ðông Dương, vì họ không muốn Staline mở rộng Bức Màn Sắt từ Ðông Âu qua Ðông Á. Do đó từ 1947, Pháp đã thương nghị với phe Quốc Gia Việt Nam để trả độc lập cho Việt Nam. Năm 1947, sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long, Pháp đã chính thức đăng ký 3 nước Ðông Dương là những quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. Và tháng 3, 1949 tại Paris, Tổng Thống Vincent Auriol đã ký Hiệp Ðịnh Élysée với Quốc Trưởng Bảo Ðại để trả độc lập cho Việt Nam. 4 tháng sau, tháng 7, 1949, Tổng Thống Auriol lại ký Hiệp Ước với Quốc Vương Sisavangvong để trả độc lập cho Ai Lao. Và 4 tháng sau nữa, tháng 11,1949 Tổng Thống Auriol lại ký hiệp ước với Quốc Vương Sihanouk để trả độc lập cho Cao Miên ‘theo tinh thần Hiệp Ðịnh Élysée’. 
Như vậy, sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, từ sau Thế Chiến II, tại Á Châu, chế độ thuộc địa đã cáo chung để nhường chỗ cho chế độ liên hiệp.
Chiếu Hiệp Ðịnh Élysée 1949, Việt Nam và Pháp có nghĩa vụ an ninh hỗ tương. Từ đó, quân đội Pháp chiến đấu tại Việt Nam với tư cách quân đội Liên Hiệp Pháp, để bảo vệ biên thùy của Việt Nam đồng thời là biên thùy của Liên Hiệp Pháp. Trong bài diễn văn nhậm chức tại Quốc Hội Hoa Kỳ đầu năm 1953, Tổng Thống Eisenhower có nói: ỀNgười Pháp chiến đấu tại Việt Nam và người Mỹ chiến đấu tại Triều Tiên cùng theo một mục đích như nhau.Ể (bảo vệ biên thùy của Thế Giới Dân Chủ).
Từ 1955, trong kế hoạch thôn tính miền Nam, Ðảng CS lại tuyên truyền rằng Hoa Kỳ đem quân sang để thống trị Miền Nam.
Ðó cũng là một luận điệu tuyên truyền dối trá. Vì từ hai thập niên 1950 và 1960, Hoa Kỳ đem quân tham chiến tại Nam Hàn và Việt Nam, không phải để thống trị hai nước này, mà để bảo vệ biên thùy của Thế Giới Dân Chủ.
Về việc giải thể đế quốc, Hoa Kỳ đã đi tiền phong trong việc giải phóng thuộc địa và đã trả độc lập cho Phi Luật Tân từ 1946. (Phi Luật Tân đã được tự trị từ 1935).
Nói tóm lại, trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Ðảng CS đã dùng giả nhân giả nghĩa, ngụy trang và dối trá để giành chính nghĩa và cướp chính quyền. Họ đã phủ nhận nền độc lập và phá hoại nền thống nhất do những người Quốc Gia yêu nước đã tranh thủ được từ 1949. Và hai cuộc chiến tranh Ðông Dương kéo dài từ 1949 đến 1975 là những cuộc chiến tranh vô ích, vô lý và vô nghĩa.
2. Về mục tiêu tự do dân chủ.
Ðảng CS hứa hẹn rằng, sau khi hòa bình vãn hồi, họ sẽ thiết lập một chế độ dân chủ gấp triệu lần chế độ dân chủ Tây Phương. Ðây cũng là một luận điệu tuyên truyền dối trá.
Về chủ thuyết, Ðảng CS không chủ trương thực thi tự do dân chủ cho người dân. Mục tiêu chiến lược của họ là thiết lập một chế độ độc tài vô sản, hay đúng hơn, một chế độ độc tài của Ðảng để thống trị vô sản và nhân dân. Họ không tôn trọng bất cứ một quyền nào trong số 26 dân quyền căn bản như tự do thân thể, tự do cư trú và đi lại, tự do văn hóa, tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tựĩ do báo chí, tự do lập hội và lập đảng, tự do tuyển cử v...v...
Kết quả là sau 50 năm cướp chính quyền, Ðảng CS đã biến Việt Nam thành một trong những nước phản dân chủ nhất thế giới, kém cả Cao Miên. Vì tại quốc gia này cũng có 3 chính đảng: Ðảng Nhân Dân của Hunsen, Ðảng Bảo Hoàng của Ranarridh và Ðảng Quốc Gia của Rainsy. Và trong cuộc tuyển cử mới đây, Ðảng Nhân Dân của Hunsen chỉ được 43% số phiếu, trong khi hai Ðảng Bảo Hoàng và Ðảng Quốc Gia đã chia nhau hơn 50% số phiếu.
Bằng ngụy chủ nghĩa dân chủ xã hội, Ðảng CS đã phản bội đồng bào trong mục tiêu tự do dân chủ.
3. Về mục tiêu mưu cầu hạnh phúc. 
Ðảng CS hứa hẹn sẽ thực thi cải cách ruộng đất để chia ruộng cho
người cày, và đem lại công bằng xã hội cho người dân. Thật ra đây chỉ là một cuộc đấu tranh giai cấp để tiêu diệt tư sản và tiểu tư sản.
Từ 1952, trong 5 đợt đấu tố cải cách ruộng đất, Ðảng CS đã sát hại hai trăm ngàn trí thức và nông dân tiểu tư sản được đôn lên hàng địa chủ. Chỉ cần có 2 hecta ruộng mà không tự tay canh tác, cũng bị đấu tố, tịch thâu ruộng đất và nhà cửa. Năm 1956, họ chia cho bần cố nông mỗi người chừng 2 sào ruộng (mỗi sào là 360m2). Ðể rồi 2 năm sau, năm 1958, họ lại trở mặt thâu hồi lại tất cả ruộng đất đã phát cho bần cố nông trong chính sách tập sản hóa ruộng đất hay hợp tác hóa nông nghiệp. Theo chủ thuyết, Ðảng CS không công nhận quyền tư hữu và không chủ trương chia ruộng cho tư nhân. Do đó ‘người cày có ruộng’ là một khẩu hiệu tuyên truyền dối trá trắng trợn nhất của Ðảng CS.
Tới Thế Chiến Thứ Hai, Việt Nam là một quốc gia giàu thịnh nhất Ðông Nam Á và được mệnh danh là ‘bao lơn của Thái Bình Dương’, Saigon là ỀHòn Ngọc của Viễn ÐôngỂ. Vậy mà ngày nay sau hơn 50 năm CS cướp chính quyền, Việt Nam trở thành một trong 10 nước nghèo đói nhất thế giới. Lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam không được một mỹ kim một ngày. Trong khi đó tại Phi Luật Tân là 3 mỹ kim, tại Thái Lan là 6 mỹ kim, tại Mã Lai là 10 mỹ kim, tại Ðại Hàn là 25 mỹ kim, tại Ðài Loan là 40 mỹ kim, và tại Tân Gia Ba là 85 mỹ kim. Ðặc biệt là tại Congo, một cựu thuộc địa của Pháp tại Phi Châu, lợi tức bình quân mỗi đầu người cũng gấp đôi Việt Nam.
Bằng tham nhũng và lạm quyền, phe lãnh đạo CS đã sang đoạt tất cả các tài sản quốc gia để làm giàu bất chính và đã trở thành những triệu phú và tỉ phú. Trong khi đó, người vô sản vẫn hoàn là vô sản, không có một đồng xu dính túi. Vì có sự chênh lệch giàu nghèo quá đáng, nên lợi tức thực sự của người nông dân trung bình Miền Bắc ngày nay chỉ được chừng 1/2 mỹ kim hay 1/4 mỹ kim một ngày. 
Với chính sách ngụy công bằng xã hội, ngụy cải cách ruộng đất và chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa lạc hậu, Ðảng CS đã phản bội đồng bào trong mục tiêu mưu cầu hạnh phúc.
Nói tóm lại, từ trên 50 năm nay, Ðảng CS đã dùng giả nhân giả nghĩa, ngụy trang và dối trá để giành lấy chính nghĩa và cướp lấy chính quyền. Võ khí chiến lược số 1 của họ là tuyên truyền dối trá:
Về mục tiêu giành độc lập, họ đã dùng ngụy chủ nghĩa dân tộc.
Về mục tiêu tự do dân chủ, họ đã dùng ngụy chủ nghĩa dân chủ xã hội.
Về mục tiêu mưu cầu hạnh phúc, họ đã dùng chính sách ngụy cải cách ruộng đất và ngụy công bằng xã hội.
Ðể chống lại sự tuyên chuyên dối trá của Ðảng CS, chúng ta phát động phong trào truyền bá sự thật để chứng minh rằng Ðảng CS đã không có công giành độc lập, và không có công thống nhất đất nước. Ngoài ra họ còn phản bội đồng bào trong các mục tiêu tự do hạnh phúc.
B. Ðàn Áp Khủng Bố 
Võ khí chiến lược số 2 của CS là đàn áp khủng bố. Ðây là một trong 
hai song cổ kiếm phải sử dụng đồng thời, mất một là mất tất cả.
Nếu không có tuyên truyền dối trá, nếu mọi người biết rõ mặt thật của CS thì không còn ai tha thiết bảo vệ chế độ nữa và CS sẽ tiêu vong. Trong trường hợp này, đàn áp khủng bố sẽ mất hiệu lực.
Lịch sử đã chứng minh điều đó: Tại Ðức và Lỗ Ma Ni năm 1989, bộ máy công an kìm kẹp cũng rất hung dữ. Nó có sự dã man của mật vụ Gestapo thời Hitler, và sự tàn ác của mật vụ KGB thời Staline. Vậy mà khi người dân đã biết rõ mặt thật của CS và đã đứng lên đòi Dân Tộc Tự Quyết, thì võ khí đàn áp không còn hiệu nghiệm nữa. 
Tại Liên Sô cũng vậy. Ðể chống lại mưu toan đảo chánh 19-8-1991 của phe CS cực đoan, nhân dân đã đứng lên đòi giải thể CS. Quân đội xuất phát từ nhân dân nên đã đứng về phía dân. Và công an mật vụ phải bó tay và không thể đàn áp đoàn người biểu tình được nữa.
5 bậc thang đàn áp khủng bố là: 
1) Thủ tiêu cá nhân:
Mặc dầu không ngừng kêu gọi đoàn kết quốc gia, Ðảng CS đã thủ tiêu những người quốc gia yêu nước có uy tín và hậu thuẫn vì họ là những đối thủ nguy hiểm của CS trên đường cướp chính quyền. Sau khi cướp được chính quyền năm 1945, họ đã thủ tiêu: Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần văn Thạch, v...v... (trong nhóm Tân Tả Phái); Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Văn Ngà v...v... (trong nhóm Lập Hiến); Ðức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ (Hòa Hảo); Trương Tử Anh(Ðại Việt), Lý Ðông Á (Duy Dân); Khái Hưng, Nhượng Tống (Quốc Dân Ðảng) v...v...
2) Tàn sát tập thể:
Ðồng thời với thủ tiêu cá nhân, Ðảng CS còn tàn sát tập thể.
Tàn sát tập thể vì lý do tôn giáo, như việc sát hại các giáo hữu Cao Ðài và Hòa Hảo trong Chiến Tranh Ðông Dương; tàn sát tập thể vì lý do đảng phái như việc sát hại các cán binh Quốc Dân Ðảng, Ðồng Minh Hội, Ðại Việt, Duy Dân v...v... từ thập niên 1940; tàn sát tập thể vì lý do giai cấp hay thành phần xã hội, như việc sát hại 200.000 nông dân và trí thức tiểu tư sản trong 5 đợt đấu tố cải cách ruộng đất trong thập niên 1950; tàn sát tập thể vì lý do chính kiến, như việc sát hại 5 ngàn người quốc gia tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân. Vụ tàn sát tập thể Tết Mậu Thân của Ðảng CS Việt Nam năm 1968 đã mở đường cho vụ tàn sát tập thể 2 triệu người Cam Bốt của Ðảng CS Khmer từ 1975.
3) Học tập cải tạo: 
Cường độ đàn áp thứ ba là chính sách học tập cải tạo mà họ dịch là re-education. Danh từ này tự nó đã là một ngụy trang và dối trá. Vì các tù nhân chính trị không phạm tội hình sự nào nên không cần phải cải huấn. Họ bị làm lao động khổ sai để đọa đầy thân xác và hủy diệt ý chí. Mặc dầu không ngừng hô hào hòa giải và hòa hợp dân tộc, từ 1975 Ðảng CS đã bắt giam hằng trăm ngàn quân cán chánh và trí thức văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa tại các trại tập trung, người thì 5, 7 năm; người thì 15, 17 năm. Ðây là những trại lao động khổ sai hay lao động cưỡng bách (forced labor camp).
4) Tòa Án và Luật Pháp.- 
Cường độ đàn áp thứ tư là dùng Tòa Án và Luật Pháp để bắt 
giam độc đoán những người Dân Chủ đã dám đứng lên đòi tự do dân chủ và nhân quyền. Những người này bị truy tố và kết án về những tội giả tạo, như tuyên truyền chống chế độ, lạm dụng quyền dân chủ, phá hoại chính sách thống nhất quốc gia, hay âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân v...v... Chỉ có hai bị cáo là Nguyễn Ðan Quế và Nguyễn Văn Thuận là hai trí thức văn nghệ sĩ trói gà không chặt, không có một tấc sắt trong tay, nhưng đã bị truy tố về tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân. Và Nguyễn Ðan Quế đã bị kết án 20 năm tù. 
Những tù nhân lương tâm này chỉ đấu tranh ôn hòa, bất bạo động, đòi tự do, dân chủ và nhân quyền, nên đã tranh thủ được cảm tình và sự yểm trợ của quốc tế. Ngày 30-4-1993, Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc đã công bố phúc trình lên án sự bắt giữ Nguyễn Ðan Quế và Ðoàn Viết Hoạt là độc đoán.
Ngày nay phe Dân Chủ ở trong nước đã dùng chính sách lộng giả thành chân, lấy gậy ông đập lưng ông, để đòi thực thi những điều khoản nhân quyền trong hiến pháp và trong Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự và Chính Trị mà chính phủ Hà Nội đã ký kết tham gia. Ðây là một cuộc đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp và bất bạo động. Do đó khi truy tố những người đấu tranh ôn hòa, bất bạo động ra tòa aứn, Ðảng CS đã gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ của quốc tế. 
Năm 1986, khi nhận giải Hòa Bình Nobel, nhà văn Elie Wiesel đã cam kết: ỀTôi thề sẽ không bao giờ im tiếng nếu ở đâu và khi nào con người còn bị đàn áp và khủng bố. Chúng ta phải nhập cuộc. Trung lập chỉ có lợi cho kẻ đàn áp. Im lặng là khuyến khích kẻ khủng bố. Do đó chúng ta phải can thiệp. Khi nhân quyền bị chà đạp, nhân phẩm bị đe dọa, biên thùy quốc gia không quan trọng nữa. Nơi nào con người bị đàn áp vì lý do tôn giáo, chính trị hay chủng tộc, nơi đó lập tức trở thành trung tâm của vũ trụ.Ể 
5. Quản chế hành chánh. 
Trước áp lực quốc tế ngày một gia tăng, Ðảng CS đã phải chùn tay 
khủng bố, và xuống thang đàn áp. Họ đã dùng chính sách Quản Chế Hành Chánh để bắt giam phòng ngừa, quản thúc tại gia những người đối kháng không phạm tội hình sự, cấm họ không được hành nghề, không được di chuyển, không được tiếp xúc với quần chúng, không được trả lời phỏng vấn, không được tham gia hội đoàn và không được tham gia chính quyền. Trước áp lực quốc tế, Ðảng CS không còn dám truy tố và kết án, không thể tập trung cải tạo, và cũng không thể bắt cóc thủ tiêu được nữa. Do đó, buộc lòng họ phải dùng đến quản chế hành chánh là biện pháp yếu nhất trong 5 bậc thang đàn áp.
Chưa bao giờ CS yếu như ngày hôm nay.
Sở dĩ Ðảng CS bị suy yếu vì người dân đã hết sợ: Lê Chí Quang công khai tố cáo chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc. Phạm Hồng Sơn công khai phổ biến những nguyên lý dân chủ pháp trị. Trần Khuê công khai đòi thành lập hội chống tham nhũng. Và Nguyễn Vũ Bình còn mạnh mẽ đòi thành lập chính đảng Tự Do Dân Chủ, chống độc đảng và độc quyền lãnh đạo. Trước kia, với những phê phán và yêu sách này, những người đối kháng sẽ bị truy tố kết án, tập trung cải tạo hay thủ tiêu bắt cóc. Nhưng ngày nay, với trào lưu tiến hóa, với ý thức quần chúng và với áp lực quốc tế, Ðảụng CS chỉ mở cuộc điều tra và trước sau rồi cũng sẽ phải phóng thích. 
Trong khi người dân đã hết sợ, thì phe lãnh đạo CS lại lâm vào tâm trạng lo sợ thường xuyên: Họ sợ dư luận quốc tế, sợ dân chủ pháp trị, sợ kinh tế thị trường, sợ phong trào chống tham nhũng, chống nhượng đất bán nước, sợ báo chí, sợ đồng bào, sợ đồng chí, nhất là sợ Sự Thật và sợ Dân Quyền.
Do đó để hóa giải sự tuyên truyền dối trá là võ khí chiến lược số 1 
của Ðảng CS, chúng ta phát động phong trào Truyền Bá Sự Thật để phục hồi sự thật lịch sử.
Ðể vô hiệu hóa sự đàn áp khủng bố là võ khí chiến lược số 2 của Ðảng CS, chúng ta phát động phong trào Truyền Bá Dân Quyền, đấu tranh đòi thực thi nhân quyền, và phản kháng những vi phạm nhân quyền.
Trong quốc sách truyền bá dân quyền, chúng ta phổ biến các kiến thức dân quyền để người dân hiểu rõ quyền của công dân và nghĩa vụ của quốc gia. Vì giữa người dân và quốc gia, có những nghĩa vụ hỗ tương phát sinh từ một khế ước xã hội. Theo khế ước này, người dân phải đóng thuế để nuôi dưỡng quốc gia, phải đi lính để bảo vệ bờ cõi của quốc gia. Ngược lại quốc gia cũng có nghĩa vụ phải bảo đảm cho người dân những dân quyền căn bản như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Có ý thức dân quyền, người dân sẽ khai thông Dân Trí, chấn hưng Dân Khí và khôi phục Niềm Tin. Từ đó họ sẽ có quyết tâm để dấn thân đấu tranh giải thể CS.
Theo Nguyễn Chí Thiện:
Nếu nhân loại, mọi người đều biết
Cộng Sản là gì, tự nó sẽ tiêu đi,
Thứ sinh thành từ ấu trĩ, ngu si,
Sự Hiểu Biết sẽ là Mồ Hủy Diệt.
Hiểu biết về Sự Thật Lịch Sử, hiểu biết về bản chất CS, hiểu biết về dân quyền, và đấu tranh đòi tự do dân quyền là những đường hướng chiến lược để giải thể CS.
Sau 70 năm chứng nghiệm, chế độ CS đã tỏ ra phản nhân tính, phản dân tộc và phản nhân loại.
Trong kỷ nguyên tin học, khuynh hướng tất yếu là sự toàn cầu hóa, dân chủ hóa và thị trường hóa.
Do đó giải thể CS là đi đúng trào lưu tiến hóa của nhân loại, hợp lòng dân và phù hợp với quyền lợi quốc gia dân tộc. 
Cuộc Cách Mạng Dân Chủ Tại Việt Nam
Nhất Ðịnh Sẽ Thành Công.
Nguyễn Hữu Thống
20-7-2002