VỤ ÁN LÊ CHÍ QUANG

LS. Nguyễn Hữu Thống


Lê Chí Quang bị truy tố và kết án 4 năm tù và 3 năm quản chếø về tội tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chiếu điều 88 Hình Luật. Chỉ vì anh đã viết mấy bài bình luận chống chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc đòi bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống đàn áp tham nhũng đòi tự do công lý, và chống độc quyền độc đảng đòi đa nguyên đa đảng.

KẺ SĨ DẤN THÂN.

Năm 1990 Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế công bố lời kêu gọi của Cao Trào Nhân Bản đòi dân tộc tự quyết cho người dân được quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia, và tự do lựa chọn các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.

Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế đã bị truy tố về tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, và đã bị kết án 20 năm tù và 5 năm quản chế ngày 29- 11- 1991.

11 năm sau, ngày 8-11-2002, Luật Gia Lê Chí Quang đã bị tuyên phạt 4 năm tù và 3 năm quản chế về tội tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Sở dĩ anh bị truy tố vì đã viết một số tài liệu đòi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, chống độc tài độc đảng để thiết lập đa nguyên đa đảng.

Công bố lời kêu gọi và phổ biến những bài viết không cấu thành tội hình sự, mà chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu quan điểm là những quyền đã được tất cả các hiến pháp trên thế giới bảo vệ, kể cả Hiến Pháp Việt Nam 1992. Ðây chỉ là cuộc vận động dân chủ trong vòng công khai, ôn hòa, hợp pháp, và bất bạo động. Mặc dầu vậy nhà cầm quyền Hà Nội đã thẳng tay đàn áp những người dân chủ. Họ vẫn chủ trương duy trì chế độ độc tài toàn trị, mặc dầu họ không ngớt quảng bá nhà nước pháp quyền. Từ 1986 khi họ đưa ra chính sách đổi mới cho đến nay đã 16 năm, vậy mà không hề thấy đổi mới. Và kinh nghiệm lịch sử cho biết chế độ Cộng Sản không thể sửa chữa được. Nó phải bị giải thể.

Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế và Luật Gia Lê Chí Quang là những trí thức còn giữ được lý tưởng truyền thống của dân tộc “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”.Dầu có sự khác biệt về tuổi tác, giáo dục và môi trường sinh hoạt, họ vẫn nuôi dưỡng tinh thần dấn thân bất khuất của kẻ sĩ. Nhờ tinh thần đó mà từ bao thiên niên kỷ nay, dân tộc ta vẫn giữ được cá tính và chủ quyền quốc gia và đã không bị Ðế Quốc Bắc Phương đồng hóa hay thôn tính. Nếu không có tinh thần bất khuất này, và nếu đẳng cấp sĩ phu chịu thần phục cường quyền để được vinh thân phì gia, thì ngày nay Việt Nam không còn là Việt Nam nữa, mà có lẽ đã biến thành một quận huyện của Trung Quốc hay một tỉnh như Quảng Nam, nối tiếp 2 tỉnh Quảng Ðông và Quảng Tây.

TRUNG TÂM CỦA VŨ TRỤ.

Ðầu thập niên 1990 trong các vụ án Nguyễn Ðan Quế, Ðoàn Viết Hoạt, Ðoàn Thanh Liêm, Lý Tống và Trần Mạnh Quỳnh, theo lời yêu cầu của các bị cáo và thân nhân, Hội Luật Gia Việt Nam tại Cali đã đề cử các Luật Sư Nguyễn Trọng Nho, Ðoàn Văn Tiên, và cá nhân tôi về Saigon biện hộ cho các bị cáo. Tuy nhiên nhà cầm quyền Hà Nội đã bác bỏ đề nghị này. Trong vụ Nguyễn Ðan Quế, một số nghị sĩ Hoa Kỳ cũng muốn tình nguyện đến Saigon tham dự phiên tòa, nhưng nhà cầm quyền Hà Nội đã không cho phép.

Cũng vì vậy, trong vụ án Lê Chí Quang, Hội Luật Gia Việt Nam tại Cali không cử luật sư về biện hộ cho bị cáo, vì biết rằng nhà cầm quyền Hà Nội sẽ không chấp thuận.

Hiện nay có 4 luật sư quốc tế tình nguyện đứng ra bênh vực cho Lê Chí Quang, là các Luật Sư Arthur Liu tại Hoa Kỳ, Emmanuel Dewees tại Pháp, Wolfgang Tuecks tại Ðức và Ian Spry tại Úc. Tuy nhiên nhà cầm quyền Hà Nội đã không đồng ý cho các luật sư nói trên đến Việt Nam biện hộ cho Lê Chí Quang. Dầu sao sự quan tâm của các luật sư quốc tế chứng tỏ rằng dư luận thế giới đã thông cảm với chính nghĩa tự do dân chủ tại Việt Nam. Theo nhà văn Elie Wiesel, người đoạt giải Nobel Hòa Bình năm 1986, nhân quyền ngày nay là một vấn đề quốc tế:

“Khi nhân phẩm bị đe dọa, nhân quyền bị chà đạp, biên thùy quốc gia không còn quan trọng nữa. Nơi nào con người bị đàn áp vì lý do tôn giáo, chính trị, hay chủng tộc, nơi đó lập tức trở thành trung tâm của vũ trụ”.

Tại Việt Nam ngày nay, Ðảng CS đã vi phạm thô bạo những quyền con người về chính trị, tôn giáo, và sắc tộc. Do đó Việt Nam đã trở thành trung tâm của vũ trụ. Và những người yêu chuộng tự do dân chủ khắp nơi trên thế giới đều hướng về Việt Nam để đòi phục hồi nhân phẩm và bảo vệ nhân quyền.


TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHẾ ÐỘ

Trong 20 năm, từ 1976 đến 1996, nhiều người dân chủ đối kháng đã bị bắt giữ hay truy tố về tội tuyên truyền chống chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.

Từø 1976 đến 1978, một số tù nhân chính trị đã bị bắt giữ về tội tuyên truyền chống chế độ như Bác sĩ Nguyễn Ðan Quế và Giáo Sư Ðoàn Viết Hoạt đòi dân tộc tự quyết, Luật Sư Trần Danh San đòi tự do dân quyền khi ông tuyên đọc bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của người Việt Nam tại khuôn viên nhà thờ Ðức Bà Saigon, Linh Mục Nguyễn Văn Lý đòi tự do tôn giáo v... v...Các tù nhân lương tâm này không bị truy tố ra tòa nhưng đã bị giam giữ tại trại cải tạo từ 10 đến 12 năm. Họ chỉ được phóng thích năm 1988 sau khi có chính sách đổi mới tại Liên Xô năm 1985 và tại Việt Nam năm 1986.

Năm 1988, 3 người con trai của cố Luật Sư Trần Văn Tuyên là Trần Vọng Quốc, Trần Tử Thanh và Trần Tử Huyền đã bị truy tố về tội tuyên truyền chống chế độ và đã bị kết án 12 năm tù , 5 năm tù và 3 năm quản chế. Từ thời Việt Nam Cộng Hòa, Luật Sư Trần Văn Tuyên đã thành lập Hội Nhân Quyền Việt Nam, một thành viên của Hiệp Hội Nhân Quyền Quốc Tế.Luật Sư Trần Văn Tuyên đã bị bắt giam năm 1975 và đã tuẫn nghĩa tại trại cải tạo Hà Tây năm 1976.

Từ sau 1989 với phong trào giải thể CS tại Ðông Âu và Liên Xô, nhà cầm quyền Hà Nội đã bắt giữ trở lại những tù nhân chính trị đã được phóng thích. Họ đã truy tố và kết án Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế 20 năm tù năm 1991ø, Giáo Sư Ðoàn Viết Hoạt 15 năm tù năm 1993 và Giáo Sư Nguyễn Ðình Huy 15 năm tù năm 1995 về tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, mặc dầu các bị cáo không có một tấc sắt trong tay. Ðồng thời Luật Sư Ðoàn Thanh Liêm cũng bị truy tố và kết án 12 năm tù về tội tuyên truyền chống chế độ năm 1992, khi ông đòi thiết lập chế độ Dân Chủ Pháp Trị thay thế chế độ độc tài đảng trị.

Trong thời gian này Hội Ân Xá Quốc Tế khiếu tố chính phủ Hà Nội đã bắt giam độc đoán Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế và Giáo Sư Ðoàn Viết Hoạt.Trong tờ tự biện hộ, chính phủ Hà Nội cho rằng các bị cáo không phải là tù nhân chính trị và cũng không bị bắt giam trái phép.

Theo lời yêu cầu của Hội Ân Xá Quốc Tế, Hội Luật Gia Việt Nam tại Cali đã làm biện minh trạng phúc đáp để chứng minh rằng các bị cáo là những tù nhân chính trị, và đã bị bắt giam độc đoán.

Ngày 30-4-1993 Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết lên án nhà cầm quyền Hà Nội đã bắt giam độc đoán (arbitrary arrest and detention) hai tù nhân lương tâm Việt Nam là Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế và Giáo Sư Ðoàn Viết Hoạt.

Năm 1995 Hoàng Minh Chính đã bị truy tố và kết án 1 năm tù về tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia. Ông đã từng bị trù dập trong nhiều năm về tội xét lại chống đảng khi ông chủ trương phủ định chế độ vô sản chuyên chính. Ngày nay phe lãnh đạo CS còn đe dọa “sẽ hy sinh Hoàng Minh Chính để cứu chế độ”.

Năm 1996 Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu và Nguyễn Kiến Giang bị bắt giữ vì đã viết bài phủ định chế độ Cộng Sản và giã từ ý thức hệ Mác Xít, Lê Hồng Hà còn đòi thay thế chủ nghĩa CS bằng chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội. Tuy nhiên họ không bị truy tố về tội tuyên truyền chống chế độ (mặc dầu họ đã phê phán và phủ định chế độ), mà chỉ bị truy tố về tội “tiết lộ bí mật nhà nước” (tài liệu được coi là bí mật của nhà nước chỉ là bản phúc trình của Võ Văn Kiệt, một ủy viên trung ương Ðảng CS). Lê Hồng Hà bị tòa tuyên phạt 2 năm tù, Hà Sĩ Phu 1 năm tù và Nguyễn Kiến Giang 1 năm tù treo.

Tuyên truyền chống chế độ là một tội trạng giả tạo. Vì tuyên truyền chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm đã được bảo vệ bởi Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự và Chính Trị, cũng như bởi Hiến Pháp Việt Nam. Giữa thế kỷ 19, khi Các Mác công bố bản Tuyên Ngôân Ðảng CS kêu gọi vô sản toàn thế giới đứng lên dùng võ trang lật đổ chế độ tư bản, ông ta cũng không bị tòa án Luân Ðôn truy tố về tội tuyên truyền chống chế độ tư bản chủ nghĩa. Và từ hơn 15O năm nay nhân loại văn minh cũng không truy tố các môn đệ của Mác về tội này.

TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHÀ NƯỚC.

Sau cuộc Cách Mạng Dân Chủ năm 1989, nhân dân Ðông Âu và toàn thể nhân loại văn minh đã vứt bỏ chế độ mệnh danh là Xã Hội Chủ Nghĩa vào thùng rác lịch sử. Vì sau 70 năm chứng nghiệm nó đã tỏ ra phản nhân tính, phản dân tộc và phản nhân loại.

Năm 1999 Ðảng CS Việt Nam đã giảo hoạt thay đổi tội danh, từ tuyên truyền chống chế độ (Ðiều 82 cũ) thành tuyên truyền chống nhà nước (Ðiều 88 mới).

Trong khi chế độ đặt nặng vấn đề lý thuyết chủ nghĩa thì nhà nước có tính cụ thể. Nhà nước bao gồm các cơ cấu của nhà nước và nhân viên của nhà nước. Cơ cấu nhà nước gồm có các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp tại trung ương và các cơ quan hành chánh tại địa phương. Nhân viên nhà nước bao gồm từ chủ tịch nước, các đại biểu quốc hội, các viên chức của chính phủ, của tòa án, và của các ủy ban nhân dân địa phương. Ngay cả một anh công an khu vực cũng có tư cách là nhân viên công lực hay nhân viên nhà nước. Phê bình và chỉ trích những viên chức này có thể bị truy tố về tội tuyên truyền chống nhà nước. Bằng sự giải thích rộng rãi hình luật, Ðiều 88 đã giành quyền bất khả xâm phạm cho tất cả các cơ quan và nhân viên công quyền, kể cả những công an khu vực. Từ nay không ai được quyền phê phán chỉ trích các nhân viên nhà nước, mặc dầu họ đã phản bội tổ quốc bằng cách nhượng đất bán nước cho ngoại bang, hay thuộc thành phần độc tài, tham nhũng và bất lực, đã dùng biển thủ công quỹ, hối mại quyền thế, sưu cao thuế nặng để thẳng tay vơ vét cho đầy túi tham, mặc đồng bào trong cảnh lầm than đói khổ.

Cũng như tội tuyên truyền chống chế độ, tuyên truyền chống nhà nước là một tội trạng quái đản, không tìm thấy trong lịch sử luật pháp loài người. Quy định tội này, Ðảng CS đã đưa Việt Nam ra khỏi cộng đồng nhân loại văn minh. Trong khi đó tòa án đã được dùng làm công cụ để đàn áp và khủng bố các công dân lương thiện có lòng với đất nước. Ðây không còn là tòa án của loài người với sứ mạng ban phát công lý, mà là tòa án của loài cầm thú, của loài đại thử (kangaroo court).

Cách nhau 11 năm, trong 2 phiên xử kín diễn ra chớp nhoáng trong 3 tiếng đồng hồ ngày thứ sáu cuối tuần, các bị cáo không được biện hộ bởi các luật sư do họ lựa chọn, và cũng không được quyền tự biện hộ, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế và Luật Gia Lê Chí Quang đã bị kết án 20 năm và 4 năm tù, cộng thêm 5 năm và 3 năm quản chế sau khi mãn thụ hình. Ðây là những bản án tiền chế đã được quyết định trước khi tòa khai mạc.

LEO THANG KHỦNG BỐ.

Từ thập niên 1970 nhà cầm quyền Hà Nội đã áp dụng các biện pháp quản chế hành chánh để quản thúc tại gia một số nhân vật bị coi là nguy hiểm cho chế độ, như các Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Ðộ, Linh Mục Chân Tín, ông Nguyễn Hộ v...v...

Năm 1997 nhà nước định chế hóa và ban hành Quy Chế Quản Chế Hành Chánh trong Nghị Ðịnh 31-CP ngày 14-4-1997. Trong thời gian này, họ đã quản thúc rất nhiều trí thức văn nghệ sĩ và các nhà lãnh đạo tôn giáo, mục đích để bắt giữ phòng ngừa các phần tử đối kháng, cô lập và bao vây kinh tế, cấm họ không được phát biểu ý kiến, điện thoại, điện tín hay trả lời phỏng vấn.

Sự quản chế hành chánh như vậy đã vi phạm những nhân quyền thiết yếu như tự do cư trú và đi lại, tự do phát biểu, tự do hội họp và lập hội, đặc biệt là quyền được làm ăn sinh sống của người dân. Không được quyền làm việc, quyền lựa chọn nơi cư trú, quyền đi lại, quyền ăn nói, và quyền tiếp xúc bạn bè, thân phận con người thật không bằng tên nô lệ!

Với chính sách quản chế hành chánh Ðảng Cộng Sản đã biến đất nước thành một nhà tù lớn, trong đó nhà nước không phải nuôi ăn các tù nhân.

Mặc dầu vậy, phong trào đấu tranh cho tự do dân quyền vẫn ngày một phát triển. Nó đạt tới cao điểm năm 2001 khi có bằng chứng cho biết phe lãnh đạo CS đã nhượng đất bán nước cho Trung Quốc.

Sau ngày 11 tháng 9, 2001 khi Hoa Kỳ và các đồng minh còn đang bối rối vì cuộc đại khủng bố tại Nữu Ước, nhà cầm quyền Hà Nội đã lợi dụng thời cơ để leo thang đàn áp. Ngày 19-10-2001, họ đã truy tố và kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý 15 năm tù về tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, và vi phạm quyết định quản chế hành chánh. Sau khi tòa tuyên án, báo chí Hoa Kỳ không đăng tin này. Vì vậy Hội Luật Gia Việt Nam tại Cali đã gởi văn thư cho các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ để phúc trình về vụ án cha Lý, đồng thời yêu cầu Thượng Nghị Viện biểu quyết chấp thuận Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam, dự luật này đã được Hạ Nghị Viện thông qua.

Từ đó đến nay đã hơn 1 năm, và Hoa Kỳ vẫn còn bối rối về cuộc chiến tranh chống khủng bố, chống Iraq, chiến tranh Trung Ðông, vụ gây hấn của Bắc Hàn, cùng sự suy thoái kinh tế và cuộc tuyển cử từng phần.

Một lần nữa, lợi dụng thời cơ, nhà cầm quyền Hà Nội đã bắt giữ và truy tố 4 nhà trí thức trẻ tuổi trong Nhóm Dân Chủ là Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Khắc Toàn. Bất chấp dư luận quốc tế và quốc nội, Ðảng CS đã leo thang khủng bố, từ quản chế hành chánh lên đến việc dùng tòa án luật pháp để bắt giam độc đoán những người đấu tranh cho dân chủ. Như ta đã biết, 5 bậc thang đàn áp khủng bố của CS là: 1) thủ tiêu cá nhân 2) tàn sát tập thể 3) học tập cải tạo 4) tòa án luật pháp và 5) quản chế hành chành.

DẤU HIỆU SUY THOÁI.

Tuy nhiên kinh nghiệm cho biết việc gia tăng khủng bố không phải là dấu hiệu của một cao trào. Nó chỉ là biện pháp bất đắc dĩ, chẳng đặng đừng. Nó cho biết hiện nay càng ngày càng có nhiều người đối kháng và sức đối kháng này đã thực sự đe dọa sự tồn vong của chế độ. Khi truy tố ra tòa một thanh niên trí thức tâm huyết như Lê Chí Quang vì anh đã can đảm nói lên sự phẫn uất của người dân trước nạn lấn đất chiếm nước của Trung Quốc, nạn tham nhũng thối nát của nhà cầm quyền, nạn độc tài hà khắc của chế độ công an trị, nhà cầm quyền Hà Nội đã mất hết chính nghĩa và hậu thuẫn quần chúng, mất hết cảm tình của quốc tế, và đã để lộ bộ mặt giả nhân giả nghĩa , phản bội tổ quốc, phản bội đồng bào.

Trong vụ đại khủng bố Tết Mậu Thân 1968, sau khi đại bại trong cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa, như những con thú bị thương say máu, CS đã sát hại 5000 người quốc gia tại Huế, những thường dân vô tội không có một tấc sắt trong tay. Ðó không phải là dấu hiệu của sức mạnh, mà là dấu hiệu của sự dã man, vô nhân đạo, một thái độ chó điên cắn càn. Ðó hiển nhiên là những hành động cuồng loạn, suy yếu của kẻ thất trận và bại vong.

Trong cuộc cải cách ruộng đất đầu thập niên 1950, CS cũng đã đấu tố 200.000 nông dân tiểu tư sản trong 5 đợt cải cách ruộng đất. Nạn nhân là những trung tiểu nông chỉ có 1 hay 2 hecta ruộng. Những người này đã góp phần đáng kể vào công cuộc kháng chiến, kỳ vọng rằng rồi đây Ðảng CS sẽ đem lại cho họ công bằng xã hội, ấm no hạnh phúc, người cày có ruộng. Ðấu tố cải cách ruộng đất không thể nói là hành động của kẻ mạnh để củng cố chính nghĩa và niềm tin, mà là dấu hiệu của sự suy thoái. Từ nay người nông dân ý thức rằng họ đã bị cộng sản lường gạt và phản bội. Vì Ðảng CS không chủ trương đoàn kết quốc dân mà chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là cướp chính quyền. Họ không ngần ngại dùng đến những biện pháp tàn sát tập thể dã man, và nạn nhân lại là những trung tiểu nông cần cù và lương thiện.

Cho nên khi có sự gia tăng khủng bố thì đó là dấu hiệu của sự suy thoái, thất nhân tâm, mất chính nghĩa và mất hậu thuẫn quần chúng.

Muốn có một cái nhìn khách quan chúng ta phải đặt vấn đề trên bình diện chiến lược để tránh dao động tinh thần do những biến chuyển thời cuộc. Kinh nghiệm lịch sử cho biết chiến tranh Cộng Sản có những đặc tính riêng biệt của nó. Ðây không đơn thuần là những cuộc chiến tranh quân sự hay kinh tế. Yếu tố chính trị và tâm lý đã có ảnh hưởng quyết định.

Hoa Kỳ thất trận không phải vì Việt Cộng đông quân hơn hay có võ khí tối tân hơn, mà chỉ vì phong trào phản chiến của những kẻ nội thù khiến cho nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ bị lung lạc vì luận điệu tuyên truyền của đối phương, làm mất chính nghĩa, mất niềm tin, không còn ý chí đấu tranh và cuối cùng phải rút lui.

Cuộc Cách Mạng Dân Chủ tại Ðông Âu cũng vậy. CS không bị giải thể vì những cuộc tấn công từ bên ngoài mà chỉ vì người dân trong nước không ai thiết tha bảo vệ chế độ nữa. Vì chế độ này vừa chuyên chế vừa tham nhũng và bất lực. Ðó là trường hợp hiện nay khi nhà nước CS nhẫn tâm đàn áp những người công dân yêu nước, chỉ vì những người này dám đứng lên tố cáo những kẻ lãnh đạo bất xứng đã phản bội tổ quốc và phản bội đồng bào.

Cũng vì vậy mà từ 25 năm qua, mặc dầu mọi tuyên truyền dối trá và đàn áp khủng bố của CS, phong trào dân chủ tại Việt Nam đã bành trướng về lượng cũng như về phẩm:

1) Bành trướng về mặt địa lý và địa bàn hoạt động, phong trào đấu

tranh đòi dân chủ chính trị và công bằng xã hội đã mở rộng từ Saigon đến Xuân Lộc , Tây Nguyên, Ðà Lạt, Huế, Thái Bình và Hà Nội.Từ địa bàn nông thôn đến cao nguyên, từ các thị trấn đến thủ đô.

2) Mục tiêu tranh đấu cũng đã mở rộng từ phạm vi dân sinh xã hội

đòi lại ruộng đất nhà cửa, đến đòi tự do tinh thần, tự do tôn giáo, tự do chính trị, như tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do lập đảng v...v...

3) Các thành phần tham dư cuộc đấu tranh cũng đã mở rộng từ các

trí thức văn nghệ sĩ, các nhà lãnh đạo tôn giáo tại miền Nam đến các sắc dân thiểu số tại Tây Nguyên, các giới nông dân, cán bộ CS lão thành và thanh niên trí thức tại miền Bắc.

4) Phong trào đấu tranh ngày một đoàn ngũ hóa, từ các nhóm lẻ loi

của Nguyễn Ðan Quế, Ðoàn Viết Hoạt, Lê Hồng Hà đến việc đòi thành lập hội chống tham nhũng với Trần Khuê, Phạm Quế Dương, đòi thành lập Ðảng Tự Do Dân Chủ với Nguyễn Vũ Bình. Và mới đây là việc hình thành quy mô của Nhóm Dân Chủ với trên 20 hội viên công khai và hàng trăm người khác còn phải bảo mật.



TRIỂN VỌNG CỦA DÂN CHỦ.

Ngày nay có những bằng chứng hiển nhiên cho biết phe lãnh đạo Cộng Sản đã phản bội tổ quốc bằng cách nhượng đất bán nước cho ngoại bang và đã phản bội đồng bào trong các mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội. Mất hết chính nghĩa và hậu thuẫn quần chúng,

chưa bao giờ Ðảng Cộng Sản yếu như ngày hôm nay.

Sở dĩ Ðảng Cộng Sản suy yếu vì người dân đã hết sợ. Lê Chí Quang công khai tố cáo chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, Phạm Hồng Sơn công khai phổ biến những nguyên lý dân chủ pháp trị, Trần Khuê công khai đòi thành lập hội chống tham nhũng, và Nguyễn Vũ Bình còn mạnh dạn đòi thành lập Ðảng Tự Do Dân Chủ chống độc đảng và độc quyền lãnh đạo.

Trong khi đó phe lãnh đạo Cộng Sản lại lâm vào tâm trạng lo sợ thường xuyên: Họ sợ dư luận quốc tế, sợ dân chủ pháp trị, sợ kinh tế thị trường, sợ phong trào chống tham nhũng, chống nhượng đất bán nước, sợ báo chí, sợ truyền thông, sợ đồng chí, sợ đồng bào, nhất là sợ sự thật và sợ nhân quyền.

Trong kỷ nguyên thông tin sự tuyên truyền dối trá là võ khí chiến lược số 1 của Ðảng Cộng Sản, đã hết hiệu nghiệm.

Theo Nguyễn Chí Thiện:
Nếu nhân loại mọi người đều biết

Cộng Sản là gì tự nó sẽ tiêu đi

Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si

Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy diệt

Ðể hóa giải sự đàn áp khủng bố là võ khí chiến lược số 2 của Ðảng Cộng Sản, người dân trong nước đã phát động phong trào truyền bá dân quyền, đấu tranh đòi thực thi nhân quyền và phản kháng những vi phạm nhân quyền.

Có ý thức dân quyền, người dân sẽ khai thông DÂN TRÍ, chấn hưng DÂN KHÍ và khôi phục NIỀM TIN. Từ đó họ sẽ không còn sợ đàn áp và sẽ dấn thân vì Ðại Nghĩa.

Lê Chí Quang đã viện dẫn câu nói của Hàn Phi:

“Nước mất mà không biết là bất trí,

Biết mà không lo liệu là bất trung,

Lo liệu mà không liều chết là bất dũng”

Với tinh thần quả cảm, những kẻ sĩ trong hàng ngũ dân chủ được trang bị bằng 3 võ khí tinh thần Trí, Trung, Dũng, sẽ có đủ nghị lực và quyết tâm đấu tranh giải thể Cộng Sản và xây dựng Dân Chủ.

Sau 70 năm chứng nghiệm chế độ Cộng Sản đã tỏ ra phản nhân tính, phản dân tộc, và phản nhân loại.

Khuynh hướng tất yếu của lịch sử ngày nay là toàn cầu hóa, dân chủ hóa và thị trường hóa.

Do đó giải thể Cộng Sản và xây dựng Dân Chủ là đi đúng trào lưu tiến hóa của nhân loại, hợp lòng dân và phù hợp với quyền lợi quốc gia dân tộc.


CUỘC CÁCH MẠNG DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM
NHẤT ÐỊNH SẼ THÀNH CÔNG.

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

Ngày 8-11-2002