Từ đau thương và chết chóc, chúng
ta đứng lên đấu tranh với niềm hy vọng
và tin tưởng rằng rồi đây Đất
Nước sẽ nở hoa, Quê Hương sẽ thanh
bình và Dân Tộc sẽ an lạc.
Ngày nay vấn đề sinh tử của đồng
bào trong nước là làm sao giải thể được
chế độ Cộng Sản và xây dựng được
chế độ Dân Chủ. Mọi người đồng
ý rằng muốn đưa Cách Mạng Dân Chủ
đến thành công phải có sự đấu
tranh kiên cường của đồng bào trong nước
và sự yểm trợ tích cực của đồng
bào hải ngoại.
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân
tộc chống đế quốc và chuyên chế,
chưa thấy một quốc gia nào lại có cơ
may như Việt Nam ngày nay. Đó là sự hậu
thuẫn của khối đông đảo người
Việt hải ngoại, hai triệu người như
một, đồng lòng hướng về quê hương,
mong cho dân tộc và đất nước tiến
lên.
Chưa nói về sức mạnh tài chánh, đủ
khả năng tiếp viện mỗi năm dăm ba tỷ
mỹ kim cho quốc nội khi đất nước có
tự do. Chưa nói về sức mạnh phát triển,
với hàng trăm ngàn chuyên viên kỹ thuật
gia thượng thặng, đủ mọi ngành, mọi
nghề, sẵn sàng trở về kiến thiết quốc
gia khi đất nước có dân chủ. Chỉ
nói về mặt nhân tâm, với hàng triệu
tấm lòng, ngày đêm hướng về quê
hương yêu dấu, mong cho đồng bào được
hạnh phúc, cho dân tộc được tự do
thì đó cũng là một sức mạnh tinh
thần vô giá. Một khi được vận dụng,
sức mạnh này sẽ tạo thành động
lực để thúc đẩy cuộc vận động
lịch sử của người Việt trong nước
đứng lên đòi quyền sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Ngày nay bằng tham nhũng và lạm quyền, với
một chính sách kinh tế lạc hậu, phe lãnh
đạo Cộng Sản đã đưa dân tộc
đến lầm than đói khổ, lợi tức bình
quân mỗi đầu người tại Việt Nam
chưa được một mỹ kim một ngày. Trong
khi đó tại Phi Luật Tân là 3 mỹ kim, tại
Thái Lan là 6 mỹ kim, tại Mã Lai là 10 mỹ
kim, tại Đại Hàn là 25 mỹ kim, tại Đài
Loan là 40 mỹ kim và tại Tân Gia Ba là 85 mỹ
kim. Đặc biệt là tại Congo, một cựu
thuộc địa của Pháp tại Phi Châu, lợi
tức bình quân mỗi đầu người cũng
gấp đôi Việt Nam. Theo Bách Khoa Toàn Thư
Britannica năm 2001, lợi tức bình quân mỗi
đầu người tại Việt Nam là $350 mỹ
kim một năm, so với $680 mỹ kim tại Congo.
Hơn nữa vì không có sự kiểm soát
và chế tài, phe lãnh đạo CS đã sang
đoạt tất cả tài sản quốc gia để
làm giàu bất chính và đã trở thành
những triệu phú và tỉ phú. Trong khi đó
người dân vô sản vẫn hoàn là vô
sản và không có một đồng xu dính
túi. Do sự chênh lệch giàu nghèo quá đáng,
lợi tức thực sự của người dân
trung bình tại nông thôn chỉ được
1/2 mỹ kim hay 1/4 mỹ kim một ngày. Ngày nay tại
nhiều địa phương, người nông dân
Miền Bắc phải lao động 4 ngày mới được
1 mỹ kim, nghĩa là mỗi ngày chỉ được
25 xu hay 1 quarter.
Chúng ta hãy lấy đồng quarter ra ngắm nhìn để thông cảm với thân phận của đồng bào trong nước. Trong đồng quarter có ghi chữ liberty, nghĩa là tự do, giải phóng. Và chúng ta hãy tự nhủ rằng chúng ta sẽ góp phần vào việc giải phóng đồng bào khỏi sự nghèo đói túng thiếu, khỏi sự thất học ngu dốt, khỏi sự sợ hãi đàn áp, khỏi nạn chuyên chế, khỏi nạn CS.
Cách đây 70 năm, Phạm Quỳnh đã cảnh
giác chúng ta về nạn dịch hạch CS.
Ngày nay, với kinh nghiệm bản thân, chúng ta
biết rằng CS còn nguy hại hơn dịch hạch.
Cộng Sản là bệnh ung thư. Mà ung thư thì
không thể trị liệu được. Ung thư
chỉ có thể cắt bỏ đi. CS cũng vậy.
Chế độ CS không thể sửa chữa được.
Nó phải bị giải thể!
I. CỘNG SẢN ĐÃ GIẢI THỂ RỒI.
Tuy nhiên một số người lại nhận định
rằng, ngày nay chế độ CS đã giải
thể rồi, và đảng CS chỉ còn là một
đảng Mafia, hay băng đảng. Do đó chúng
ta chỉ cần chống tham nhũng chứ không cần
đấu tranh giải thể CS nữa. Nhận định
như vậy là chủ quan và không hiểu rõ
bản chất CS.
Trên thực tế, bằng tham nhũng và lạm
quyền, phe lãnh đạo CS đã tập trung và
sang đoạt tất cả các tài sản quốc
gia để thủ lợi riêng và làm giàu
bất chánh. Theo các tài liệu đáng tin cậy,
thì hiện nay có trên 30 cán bộ CS cao cấp
đã tích lũy những tài sản khổng lồ
hàng chục triệu và hàng trăm triệu mỹ
kim.
Vì không có sự kiểm soát và chế
tài của quốc dân, của đối lập,
của báo chí, của tòa án và quốc hội,
những kẻ tham nhũng bất lương này đã
không bị truy tố, không bị kết án và
không bị tịch thu tài sản. Đồng bào
vô cùng phẫn uất về sự bao che này. Họ
công khai miệt thị phe lãnh đạo CS, và
đã tố cáo đích danh con thằng Kiệt,
con thằng Khải, cháu thằng Đỗ Mười
v...v... Mới đây cựu Tổng Bí Thư Đỗ
Mười, với đồng lương chết đói,
đã dám tặng dữ một lần một triệu
mỹ kim. Hành vi này cho biết ông ta đã
tích lũy được hàng chục triệu mỹ
kim.
Đầu năm ngoái khi có bằng chứng cho biết
phe lãnh đạo CS đã phản bội tổ quốc
bằng cách nhượng đất biên giới và
bán nước Biển Đông cho Trung Quốc, một
số sĩ phu và bô lão tại Hà Nội đã
trình Thất Trảm Sớ, đòi trảm quyết
7 kẻ quyền thần: Mười, Anh. Kiệt, Phiêu,
Lương, Khải, Mạnh. Điều đáng lưu
ý là trong khi Mafia chỉ là một đảng cướp
thường thì Đảng CS ngày này là một
đảng cướp đã cướp được
chính quyền.
Cũng vì vậy, họ có chính phủ tay sai
để thực thi đường lối chính sách
của Đảng, và đã sử dụng ngân
sách quốc gia vào việc nuôi dưỡng các
cán bộ đảng viên. Họ còn có quốc
hội bù nhìn để hợp thức hóa những
nghị quyết của Đảng, và đã ghi Điều
4 Hiến Pháp giành độc quyền lãnh đạo
cho Đảng CS. Họ còn có tòa án công
cụ để một mặt bao che những hành vi
tham nhũng của những kẻ bất lương phạm
pháp, mặt khác lại bắt giam độc đoán
những phần tử lương thiện đã dám
đứng lên tố cáo bạo quyền, đòi
tự do, công lý, dân chủ và nhân quyền.
Hơn nữa, sau khi cướp được chính
quyền, Đảng CS đã thiết lập một
chế độ độc tài toàn trị.
Do đó, ngày nào Đảng CS còn giữ độc
quyền lãnh đạo, vi phạm quyền dân tộc
tự quyết, quyền tham gia chính quyền và quyền
tự do tuyển cư,û thì chúng ta còn phải
đấu tranh để giải thể CS.
Ngày nào họ còn giữ độc quyền tư
tưởng để phổ biến tại các trường
công lập chủ thuyết Mác-Lê phản dân
tộc và phản nhân loại, thì chúng ta còn
phải đấu tranh để giải thể CS.
Ngày nào họ còn chủ trương tiêu diệt
tôn giáo trong chủ thuyết và đàn áp
tôn giáo trong chính sách, thì chúng ta còn
phải đấu tranh để giải thể CS.
Ngày nào họ còn giữ độc quyền thông
tin, độc quyền báo chí và không cho tư
nhân ra báo, thì chúng ta còn phải đấu
tranh để giải thể CS.
Và ngày nào họ còn vi phạm quyền tựïï
do hội họp, tự do lập hội và tự do
lập đảng, thì chúng ta còn phải đấu
tranh để giải thể CS.
Ngày nay Đảng CS là một con rắn hai đầu,
đầu kinh tế Mafia với tham nhũng bóc lột,
và đầu chính trị độc tài với
đàn áp khủng bố. Nạn nhân trực tiếp
của chế độ lại là những người
đã tích cực góp phần xây dựng chế
độ, như các cựu chiến binh, thương
phế binh, gia đình liệt sĩ v...v...
Do đó muốn cho dân tộc và đất nước
tiến lên, chúng ta phải kết hợp đấu
tranh giải thể CS, bằng cách chém đứt
2 đầu con rắn.
II. CỘNG SẢN KHÔNG THỂ GIẢI THỂ ĐƯỢC.
Bên cạnh dư luận cho rằng CS đã tự
giải thể và Đảng CS đã biến thành
một đảng Mafia hay băng đảng, còn có
quan niệm cho rằng CS không thể nào giải thể
được.
Đây là một quan niệm bi quan và phản biện chứng. Vì chỉ trên bình diện tôn giáo đạo lý, những nguyên lý chủ thuyết mới có giá trị tuyệt đối là những chân lý vĩnh cửu, như đức từ bi của Nhà Phật, đức bác ái của Chúa Kitô, hay đức nhân nghĩa của Khổng Phu Tử. Trên bình diện dân sinh xã hội, các nguyên lý chủ thuyết chỉ có giá trị tương đối theo thời gian và không gian. Về mặt kinh tế chính trị, các chế độ được thiết lập để quy định những tương quan giữa người dân và quốc gia.
Do đó nó phải thay đổi theo trình độ
ý thức của người dân, điều kiện
kinh tế chính trị của quốc gia và trào
lưu tiến hóa của lịch sử.
Trong lịch sử nhân loại cổ kim, những chế
độ tàn bạo nhất như của Kiệt Trụ,
Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Hitler,
Stalin, Mao Trạch Đông v...v... đã lần lượt
tiêu vong với thời gian.
Cũng vì vậy tại Âu Châu, chỉ trong vòng
hai năm (từ 1989 đến 1991), 22 quốc gia đã
lần lượt giải thể CS: 7 nước thuộc
Bức Màn Sắt Đông Âu là Ba Lan, Hung Gia
Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, Albanie,
Bulgarie, Roumanie, và 15 nước thuộc Liên Bang Sô
Viết.
Hậu quả dây chuyền của sự giải thể
CS Âu Châu là sự tiêu vong của một số
chế độ CS Á Phi như tại Angola, Mozambique,
Ethiopie, A Phú Hãn, Mông Cổ, Cao Miên v...v...
Dầu sao chúng ta ý thức rằng tại Việt
Nam giải thể Cộng Sản và xây dựng dân
chủ là cuộc đấu tranh trường kỳ
và cam go. Đây là một việc thiên nan vạn
nan, một cuộc lấp biển vá trời.
Trong cuộc chiến đấu này chúng ta phải
tìm hiểu những nhược điểm của đối
phương để khai thác, và những võ khí
của đối phương để hóa giải.
Những nhược điểm của CS là: độc
tài, tham nhũng, bất công, bất lực, thường
xuyên vi phạm nhân quyền và trắng trợn
vi phạm nhân quyền.
Hai võ khí chiến lược của CS là: tuyên
truyền dối trá và đàn áp khủng bố.
III. HAI VÕ KHÍ CHIẾN LƯỢC CỦA CỘNG SẢN
Tuyên truyền dối trá và đàn áp khủng
bố là hai võ khí chiến lược của
CS để cướp chính quyền và củng cố
chính quyền. Đây là một cặp song cổ
kiếm phải sử dụng đồng thời, mất
một là mất tất cả. Nếu chỉ có
tuyên truyền đối trá, mà không có
đàn áp khủng bố, thì CS sẽ tiêu vong.
Trái lại nếu chỉ có đàn áp khủng
bố, mà không thể tuyên truyền dối trá
được nữa, thì CS cũng sẽ bị giải
thể.
Lịch sử đã chứng minh điều đó.
Tại Đông Đức và Lỗ Ma Ni năm 1989,
bộ máy công an kìm kẹp cũng rất hung dữ.
Nó có sự dã man của mật vụ Gestapo thời
Hitler, và sự tàn ác của mật vụ KGB thời
Stalin. Vậy mà khi người dân đã biết
rõ mặt thật của CS và đã đứng
lên đòi Dân Tộc Tự Quyết, thì võ
khí đàn áp không còn hiệu nghiệm nữa.
Tại Liên Xô cũng vậy. Để chống
lại âm mưu đảo chánh ngày
19-8-1991 của phe CS cực đoan, nhân dân đã
đứng lên đòi giải thể CS. Quân đội
xuất phát từ nhân dân, đã đứng
về phía dân. Và công an mật vụ phải
bó tay, không dám bắn vào đoàn người
biểu tình.
Trong kỷ nguyên thông tin, tuyên truyền dối
trá đã mất hiệu nghiệm. Và ngày nay,
đàn áp khủng bố là võ khí chiến
lược của Cộng Sản để củng cố
chính quyền.
5 bậc thang đàn áp khủng bố là: thủ
tiêu cá nhân, tàn sát tập thể, học
tập cải tạo, luật pháp tòa án và
quản chế hành chánh.
1) Thủ tiêu cá nhân.
Mặc dầu không ngừng kêu gọi đoàn
kết quốc gia, Đảng CS đã thủ tiêu
những người quốc gia yêu nước có
uy tín và hậu thuẫn vì họ là những
đối thủ nguy hiểm của CS trên đường
cướp chính quyền. Sau khi cướp được
chính quyền năm 1945, Cộng Sản đã thủ
tiêu: Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần văn
Thạch, v...v... (trong nhóm Tân Tả Phái); Phạm
Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo,
Nguyễn Văn Sâm, Hồ Văn Ngà v...v... (trong các
nhóm Lập Hiến); Đức Giáo Chủ Huỳnh
Phú Sổ (Hòa Hảo); Trương Tử Anh (Đại
Việt), Lý Đông Á (Duy Dân); Khái Hưng,
Nhượng Tống (Quốc Dân Đảng) v...v...
2) Tàn sát tập thể.
Đồng thời với thủ tiêu cá nhân,
Đảng CS còn tàn sát tập thể.
Tàn sát tập thể vì lý do tôn giáo,
như việc sát hại các tín đồ Cao Đài
và Hòa Hảo trong Chiến Tranh Đông Dương;
tàn sát tập thể vì lý do đảng phái
như việc sát hại các cán binh Quốc Dân
Đảng, Đồng Minh Hội, Đại Việt,
Duy Dân v...v... từ thập niên 1940; tàn sát
tập thể vì lý do giai cấp, như việc sát
hại 200 ngàn nông dân tiểu tư sản được
đôn lên hàng địa chủ trong 5 đợt
đấu tố cải cách ruộng đất trong
thập niên 1950; tàn sát tập thể vì lý
do chính kiến, như việc sát hại 4 ngàn
người quốc gia tại Huế trong dịp Tết
Mậu Thân. Vụ tàn sát tập thể Tết
Mậu Thân của Đảng CS Việt Nam năm 1968
đã mở đường cho vụ tàn sát tập
thể 2 triệu người Cam Bốt của Đảng
CS Khmer từ 1975.
3) Học tập cải tạo.
Võ khí đàn áp khủng bố thứ ba là
học tập cải tạo. Mặc dầu không ngừng
hô hào hòa giải và hòa hợp dân tộc,
từ 1975 Đảng CS đã bắt giam hằng trăm
ngàn trí thức văn nghệ sĩ và quân
cán chánh Việt Nam Cộng Hòa tại các trại
tập trung, người thì 5, 7 năm, người thì
15, 17 năm. Đây là những trại lao động
khổ sai hay lao động cưỡng bách để
đọa đày thân xác và hủy diệt
ý chí của tù cải tạo.
4) Luật pháp tòa án.
Võ khí đàn áp khủng bố thứ tư
là luật pháp tòa án. Thay vì để ban
phát công lý cho người dân, và bảo
vệ con người về sinh mạng, tự do, danh dự
và tài sản, tòa án và luật pháp đã
được sử dụng như những công cụ
đàn áp khủng bố để bắt giam độc
đoán những người đấu tranh ôn hòa
cho tự do, công lý, dân chủ và nhân quyền.
Từ sau 1975 họ đã truy tố:
a) Về tội phản nghịch hay âm mưu lật
đổ chính quyền nhân dân, và đã
kết án Luật Sư Nguyễn Khắc Chính tù
chung thân năm 1976, các Thượng Tọa Thích
Tuệ Sĩ và Thích Trí Siêu 20 năm tù
năm 1988, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế 20 năm
tù năm 1991, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt
15 năm tù năm 1993, và Giáo Sư Nguyễn Đình
Huy 15 năm tù năm 1995.
b) Về tội tuyên truyền chống chế độ,
và đã kết án 3 người con của cố
Luật Sư Trần Văn Tuyên là Trần Vọng
Quốc, Trần Tử Thanh và Trần Tử Huyền
12 năm tù, 5 năm tù và 3 năm tù năm
1988. Ngoài ra họ còn tuyên phạt Luật Sư
Đoàn Thanh Liêm 12 năm tù năm 1992. Năm 1996
Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu và Nguyễn Kiến
Giang đã bị kết án 2 năm tù, 1 năm
tù và 15 tháng tù treo về tội tiết lộ
bí mật Nhà Nước, thay vì tội tuyên
truyền chống chế độ, dầu rằng họ
đã phủ định chế độ và tuyên
bố chia tay ý thức hệ Cộng Sản.
c) Về tội phá hoại chính sách đoàn
kết giữa tôn giáo và chính quyền, và
đã kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý
13 năm tù năm 2001 (cộng thêm 2 năm tù về
tội vi phạm quyết định quản chế hành
chánh). Năm 1995 Hòa Thượng Thích Quảng
Độ cũng bị kết án 5 năm tù về
tội này, chỉ vì Ngài đã tổ chức
cứu trợ các nạn nhân lũ lụt tại
đồng bằng sông Cửu Long nhân danh Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Cũng
trong năm này Hoàng Minh Chính đã bị kết
án 1 năm tù về tội phá hoại chính
sách đoàn kết giữa nhân dân và chính
quyền.
5) Quản chế hành chánh
Võ khí đàn áp khủng bố thứ năm
là quản chế hành chánh. Từ sau vụ án
Lê Hồng Hà (1996), trong 5 năm (đến 2001) không
thấy có vụ án chính trị nào. Vì từ
1997 Đảng Cộng Sản đã ban hành quy chế
quản chế hành chánh để bắt giữ
phòng ngừa, quản thúc tại gia những người
đối kháng, cấm họ không được
hành nghề, không được di chuyển, không
được tiếp xúc với quần chúng, không
được trả lời phỏng vấn và không
được tham gia chính quyền. Bằng chính
sách này Đảng Cộng Sản đã biến
đất nước thành một nhà tù lớn,
trong đó nhà nước không phải nuôi
ăn các tù nhân.
Sau vụ Đại Khủng Bố ngày 11- 9-2001, khi
Hoa Kỳ và đồng minh còn đang bối rối,
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lợi dụng
thời cơ, leo thang khủng bố, từ bậc 5 (quản
chế hành chánh) lên bậc 4 (luật pháp tòa
án). Qua tháng sau, tháng 10 năm 2001, họ đã
truy tố và kết án Linh Mục Nguyễn Văn
Lý 15 năm tù chỉ vì Ngài đã tố
cáo Đảng Cộng Sản vi phạm tự do tôn
giáo.
Qua năm 2002, khi Hoa Kỳ và đồng minh vẫn
còn bối rối về chiến tranh chống khủng
bố, chiến tranh Iraq, một lần nữa, Đảng
Cộng Sản lại lợi dụng thời cơ để
bắt giam những nhà trí thức trẻ trong nhóm
Dân Chủ như Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc
Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình v...v...
Thời gian này phong trào đối kháng bộc
phát mạnh mẽ do những hành vi phản quốc
của phe lãnh đạo Cộng Sản trong việc
lén lút ký kết các hiệp ước nhượng
đất biên giới và bán nước Biển
Đông cho Trung Quốc. Tháng 11-2002, bất chấp
dư luận quốc tế và quốc nội, họ
đã kết án Lê Chí Quang 4 năm tù về
tội tuyên truyền chống nhà nước chỉ
vì anh đã lên tiếng tố cáo chủ nghĩa
bá quyền Trung Quốc.
Qua tháng sau, tháng 12-2002, họ lại tuyên phạt
Nguyễn khắc Toàn 12 năm tù về tội gián
điệp. Tháng 6-2003, họ lại tuyên phạt
Phạm Hồng Sơn 13 năm tù cũng về tội
gián điệp. Sau này, dưới áp lực quốc
tế, họ đã giảm hình phạt xuống
5 năm tù, nhưng vẫn giữ nguyên tội danh
gián điệp.
Tháng 9 vừa qua, họ đã cải tội danh
gián điệp thành tội lợi dụng quyền
tự do dân chủ, và đã kết án Nguyễn
Vũ Việt, Nguyễn Trực Cường, và Nguyễn
Thị Hoa 5 năm, 4 năm và 3 năm tù. Tháng
11 vừa qua, dưới áp lực quốc tế, họ
đã giảm hình phạt xuống 2 năm 8 tháng
tù cho Nguyễn Vũ Việt và Nguyễn Trực
Cường, và 4 tháng 8 ngày tù cho Nguyễn
Thị Hoa. Trong tháng đó, họ đã kết
án Trần Dũng Tiến 10 tháng tù cũng về
tội này.
Tháng 12 vừa qua họ lại kết án Nguyễn
Vũ Bình 7 năm tù về tội gián điệp.
Kinh nghiệm cho biết trong giai đoạn cao trào, Đảng
Cộng Sản đã sử dụng võ khí chiến
lược số 1 của họ là tuyên truyền
dối trá và giả nhân giả nghĩa, với
các mục tiêu độc lập, thống nhất,
tự do, hạnh phúc, công bằng xã hội, người
cày có ruộng, đoàn kết quốc gia, hòa
giải và hòa hợp dân tộc.
Tuy nhiên khi họ sử dụng võ khí chiến
lược số 2 là đàn áp khủng bố
với thủ tiêu tàn sát, giam giữ độc
đoán, quản thúc tại gia, kết án oan uổng
những công dân lương thiện có lòng
với đất nước, thì đó là lúc
họ bước vào giai đoạn thoái trào.
IV. MẶT TRẬN LUẬT PHÁP TÒA ÁN
Ngày nay, với trình độ ý thức của
quần chúng, với điều kiện kinh tế xã
hội của quốc gia, với trào lưu tiến
hóa của nhân loại, đặc biệt với
sự thiết lập Tòa Án Hình Sự Quốc
Tế, Đảng Cộng Sản Việt Nam không còn
dám sử dụng 3 võ khí đàn áp khủng
bố cực đoan là thủ tiêu cá nhân,
tàn sát tập thể và học tập cải
tạo. Vì đó là những tội chống nhân
loại bị trừng phạt bởi Tòa Án Hình
Sự Quốc Tế. Và ngày nay luật pháp tòa
án là võ khí chiến lược của Cộng
Sản để đàn áp đối lập và
củng cố chính quyền.
Tuy nhiên Luật Pháp Tòa Án lại chính là
khâu yếu nhất của Nhà Nước Cộng
Sản. Vì luật pháp Cộng Sản là luật
rừng xanh (jungle law), và tòa án Cộng Sản
là tòa án của loài đại thử (kangaroo
court). Người Cộng Sản không nói cùng
một ngôn ngữ pháp lý như chúng ta, họ
không thừa nhận có các tù nhân lương
tâm, tù nhân chính trị. Do đó nhiều
người cho rằng nói chuyện luật pháp với
Cộng Sản thì thà nói với đầu gối
còn hơn! Chúng ta không thể chia sẻ quan điểm
này.
Nói chuyện với đầu gối chỉ là
một thái độ triết học. Về mặt
đấu tranh chính trị chúng ta phải nỗ
lực đấu lý đấu pháp để giành
ưu thắng trên mặt trận luật pháp tòa
án. Có ưu thắng trên mặt trận này
chúng ta sẽ làm hưng khởi các mặt trận
khác trong 10 mặt đấu tranh giải thể Cộng
Sản và xây dựng Dân Chủ. Đó là
SÁCH LƯỢC THẬP DIỆN MAI PHỤC.
Sở dĩ chúng ta có ưu thắng vì chúng
ta có chính nghĩa, tự do dân chủ, có hậu
thuẫn quần chúng và hậu thuẫn quốc tế.
Ngày nay nhân loại văn minh không quen biết
về 4 võ khí đàn áp khủng bố của
Cộng Sản là thủ tiêu cá nhân, tàn
sát tập thể, học tập cải tạo và
quản chế hành chánh. Họ chỉ quen thuộc
với luật pháp tòa án. Và trong phạm vi
này họ có những qui luật tổ chức, những
truyền thống sinh hoạt và những mục tiêu
tôn chỉ.
Đối với nhân loại văn minh, ban hành
luật pháp để làm gì, nếu không phải
để bảo vệ sinh mạng, tự do, danh dự
và tài sản cho người dân? Thiết lập
tòa án để làm gì, nếu không phải
để thực thi công bằng và ban phát công
lý cho tất cả mọi người? Tại Việt
Nam ngày nay, luật pháp tòa án đã sa đọa
thành một công cụ đàn áp khủng bố
để bắt giam độc đoán những công
dân lương thiện có lòng với đất
nước và có dũng cảm đứng lên
phản kháng bạo quyền đòi tự do, công
lý, dân chủ và nhân quyền.
Do đó mỗi khi có những vụ bắt giam độc
đoán các tù nhân lương tâm, cộng
đồng nhân loại đã lên tiếng và
can thiệp.
Khi nhận Giải Nobel Hòa Bình năm 1986, nhà
văn Elie Wiesel đã cam kết như sau:
Tôi thề sẽ không bao giờ im tiếng nếu
ở đâu và khi nào con người còn bị
đau khổ và đày đọa. Chúng ta phải
nhập cuộc. Trung lập chỉ có lợi cho kẻ
đàn áp. Im lặng là khuyến khích kẻ
áp bức. Do đó chúng ta phải can thiệp.
Khi đời sống con người bị đe dọa,
phẩm giá con người bị chà đạp, các
biên thùy quốc gia không còn quan trọng nữa.
Nơi nào con người bị hành hạ vì lý
do tôn giáo, chính trị hay chủng tộc, nơi
đó lập tức trở thành trung tâm của
vũ trụ. Những nạn nhân này chỉ đòi
hỏi một điều, là họ biết rằng
họ không bị cô đơn, không bị quên
lãng. Và khi họ không còn quyền được
nói nữ, chúng ta sẽ nói thay cho họ...
Câu mở đầu trong Tuyên Ngôn Quốc Tế
Nhân Quyền nêu lên 5 mục tiêu của Liên
Hiệp Quốc là Nhân Phẩm, Bình Đẳng,
Tự Do, Công Lý và Hòa Bình:
Việc thừa nhận nhân phẩm bẩm sinh và
những quyền bình đẳng bất khả chuyển
nhượng của tất cả những phần tử
trong đại gia đình nhân loại là nền
tảng của tự do, công lý và hòa bình
thế giới.
Trong 5 mục tiêu này, 4 mục tiêu đầu tiên
được coi là tôn chỉ của Luật Pháp
và Tòa Án:
1) Tôn trọng nhân phẩm của bị can trong giai
đoạn điều tra sơ vấn tại công an
cũng như trong giai đoạn thụ hình sau khi có
án tòa.
2) Tôn trọng quyền bình đẳng trước
pháp luật của bị can.
3) Tôn trọng quyền tự do thân thể và
an ninh thân thể của người dân.
4) Thực thi công bằng và ban phát công lý
cho tất cả mọi người
Muốn cầm cân công lý, tòa án phải
độc lập, không lệ thuộc vào đảng
hay chính phủ. Phải thượng tôn luật pháp,
tôn trọng các mục tiêu tôn chỉ và
các truyền thống sinh hoạt của tòa án.
Luật pháp phải quy định minh bạch những
yếu tố cấu thành tội trạng, không quá
bao quát và không mơ hồ. Đặc biệt
không được vi phạm hiến pháp quốc
gia hay công ước quốc tế.
Thẩm phán phải xét xử theo lương tâm
và pháp luật. Phải giải thích hình luật
chặt chẽ, và không xuyên tạc. Phải tôn
trọng những quyền biện hộ của bị can,
như quyền được suy đoán là vô
tội. Chiếu nguyên tắc sự nghi vấn có
lợi cho bị can tòa án phải theo phương
châm: Thà tha lầm 10 người còn hơn
phạt oan một bị cáo.
Tháng sáu vừa qua, tòa án đã phạt
Phạm Hồng Sơn 13 năm tù về tội gián
điệp, chỉ vì anh đã phổ biến trên
internet cuốn sách Thế nào là Dân Chủ
?, dịch từ một tài liệu trên mạng
lưới thông tin của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.
Đấy là một sỉ nhục cho quốc gia và
một xúc phạm đến lương tri nhân loại.
Lẽ tất nhiên cộng đồng nhân loại đã lên tiếng và can thiệp. Phản ứng quốc tế vô cùng mạnh mẽ, không kém sự phản kháng vụ đàn áp nhà lãnh đạo dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi. Các chính phủ như Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi, các quốc hội kể cả Quốc Hội Âu Châu, và các hiệp hội nhân quyền trên thế giới như Hội Ân Xá Quốc Tế, Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Quan Sát Nhân Quyền Á Châu, Hội Ký Giả Không Biên Giới, Hội Bảo Vệ Ký Giả v...v... đã đồng thanh lên án nhà cầm quyền Hà Nội trong việc dùng luật pháp tòa án để đàn áp đối lập.
Bộ mặt nhà nước pháp quyền giả
hiệu của Cộng Sản đã bị lột mặt
nạ. Chế độ độc tài đảng trị
đã hiện nguyên hình là một chế độ
bạo tànï. Và Cộng Sản đã mất
chính nghĩa, mất hậu thuẫn quần chúng
và hậu thuẫn quốc tế. Chế độ này
là một chế độ man rợ, với những
kẻ xét xử vô lương tâm và những
điều luật phi lý, phi pháp và phi nghĩa.
Trước đó 6 tháng, tháng 12-2002, Nguyễn
Khắc Toàn cũng đã bị kết án 12 năm
tù về tội gián điệp, chỉ vì anh
đã phổ biến trên Internet những tin tức
về phong trào khiếu kiện, mít tinh và biểu
tình tại Hà Nội của nông dân hai miền
Nam Bắc đứng lên đòi lại đất
đai đã bị tước đoạt.
Tháng 12, 2003 Nguyễn Vũ Bình cũng bị kết
án 7 năm tù vèà tôäi gián điệp,
chỉ vì anh đòi thành lâäp Đảng
Tự Do Dân Chủ đối lâäp, và dã
thông tri cho Quốc Hội Hoa Kỳ bản điều
trần về những vi phạm nhân quyền tại
Việt Nam.
Ngoài ra nhà cầm quyền Hà Nội còn bắt
giữ và lập hồ sơ truy tố, cũng về
tội gián điệp, một số chiến sĩ
dân chủ khác như Phạm Quế Dương,
Trần Khuê, Nguyễn Đan Quế v...v...
V. THẬP DIỆN MAI PHỤC.
Vì không được quyền tranh luận trước
tòa chúng tôi đã đệ trình quốc
dân bản Thất Điều Trần để biện
minh cho các bị can trong các vụ án gián điệp
lạm phát nói trên mệnh danh là Dịch Gián
Điệp.
Trong phần kết luận chúng tôi nhận định
rằng ngày nay Cộng Sản sợ 7 điều (Cộng
Sản Hữu Thất Cụ). 7 điều Cộng Sản
sợ chính là 7 mặt trận đấu tranh của
chúng ta để giải thể Cộng Sản và
xây dựng Dân Chủ.
1) Cộng Sản sợ internet, sợ tin tức, sợ
ý kiến: Chúng ta phát động mặt trận
truyền thông.
2) Cộng Sản sợ dư luận quốc tế, sợ
mất chính nghĩa, sợ mất viện trợ đầu
tư: Chúng ta phát động mặt trận quốc
tế vận.
3) Cộng Sản sợ đối lập chính trị.
Chúng ta phát động phong trào tổ chức
và kết hợp các lực lượng dân chủ
ở trong nước và hải ngoại, đồng
thời phối hợp đấu tranh giữa trong và
ngoài.
4) Cộng Sản sợ sự thật. Họ sợ sự
thật lịch sử vì họ không có công
giành độc lập và không có công thống
nhất đất nước. Vì Việt Nam đã
được độc lập và thống nhất
từ 1949 chiếu Hiệp Định Élysée ngày
8-3-1949. Ngoài ra họ còn phản bội đồng
bào trong các mục tiêu tự do dân chủ và
mưu cầu hạnh phúc; Cộng Sản sợ sự
thật xã hội, vì chế độ của họ
vừa độc tài tham nhũng vừa bất công
bất lực: Chúng ta phát động mặt trận
truyền bá sự thật, phục hồi sự thật
lịch sử tại quốc tế và quốc nội,
để giành chính nghĩa tự do dân chủ
và hậu thuẫn quần chúng.
5) Cộng Sản sợ tự do như tự do tư tưởng,
tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do hội
họp, tự do lập hội, tự do lập đảng,
tự do tuyển cử v...v... chúng ta phát động
mặt trận đấu tranh đòi tôn trọng
và thực thi những quyền tự do căn bản
của người dân được ghi trong hiến
pháp quốc gia và các công ước quốc
tế.
6) Cộng Sản sợ dân chủ. Tháng 8 vừa
qua, họ đã kết án Phạm Hồng Sơn
5 năm tù chỉ vì anh đã phổ biến những
kiến thức dân chủ của nhân loại văn
minh: Chúng ta phát động mặt trận truyền
bá dân chủ, phổ biến ý thức dân
chủ, và những kỹ thuật pháp lý tiến
tới việc thiết lập một chế độ
dân chủ pháp trị, dân chủ đại nghị,
dân chủ đa đảng.
7) Cộng Sản sợ nhân quyền: Chúng ta phát
động mặt trận truyền bá nhân quyền,
đấu tranh đòi thực thi nhân quyền và
phản kháng những vi phạm nhân quyền.
Ngoài 7 mặt trận nói trên, chúng ta còn
phát động 3 mặt trận: mặt trận tự
do tôn giáo, mặt trận bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ và mặt trận luật pháp tòa
án.
8) Mặt trận tự do tôn giáo đấu tranh
đòi phóng thích các tù nhân tôn giáo
đã bị giam giữ hay quản thúc độc
đoán, đòi lại quyền sinh hoạt tự
trị cho các giáo hội, và đòi lại
các cơ sở tài sản của giáo hội để
hoằng dương đạo pháp về văn hóa
giáo dục và từ thiện nhân đạo.
9) Mặt trận bảo vệ chủ quyền lãnh
thổ tố cáo phe lãnh đạo Cộng Sản
phản bội Tổ Quốc bằng cách nhượng
đất biên giới và bán nước Biển
Đông cho Trung Quốc; phủ nhận các Hiệp
Ước Biên Giới Việt Trung và Hiệp Ước
Vịnh Bắc Bộ; chống chủ nghĩa bá quyền
Trung Quốc, và đấu tranh bảo vệ chủ
quyền lãnh hải của Việt Nam tại các
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
10) Mặt trận luật pháp tòa án là trung
tâm phối hợp các mặt trận đấu tranh
để hóa giải võ khí đàn áp khủng
bố của Cộng Sản. Vì ngày nay luật pháp
tòa án chính là võ khí chiến lược
của Cộng Sản để đàn áp đối
lập và củng cố chính quyền.
Trong các vụ án gián điệp Phạm Hồng
Sơn, Nguyễn Khắc Toàn và Nguyễn Vũ Bình
có sự phối hợp giữa mặt trận luật
pháp tòa án với mặt trận quốc tế
vận và mặt trận truyền thông.
Trong phong trào phản kháng những vụï giam
giữ và quản thúc độc đoán các
nhà lãnh đạo tôn giáo như Linh Mục
Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Huyền
Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, cụ
Lê Quang Liêm v...v... có sự phối hợp giữa
mặt trận luật pháp tòa án và mặt
trận tự do tôn giáo.
Trong phong trào phản kháng vụ kết án Luật
Sư Lê Chí Quang, có sự phối hợp giữa
mặt trận luật pháp tòa án và mặt
trận bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chống
nhượng đất bán nước và chống
chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc.
VI. TRANG BỊ PHÁP LY.Ù
Muốn giành ưu thắng trên mặt trận luật
pháp tòa án, chúng ta - đặc biệt là
các bạn trẻ trong và ngoài nước - cần
trang bị những kiến thức pháp lý để
đấu lý đấu pháp với Cộng Sản.
Xin các bạn ghi nhớ rằng luật pháp tòa
án là khâu yếu nhất của Nhà Nước
Cộng Sản. Vì tòa án Cộng Sản chỉ
giải thích xuyên tạc luật pháp, và luật
pháp Cộng Sản chỉ quy định những tội
trạng giả tạo và cưỡng ép. Để
đơn giản hóa, chúng ta chỉ đơn cử
một thí dụ điển hình:
Hồi giữa thế kỷ 19 tại Luân Đôn,
Các Mác công bố bản Tuyên Ngôn Đảng
Cộng Sản, kêu gọi vô sản toàn thế
giới đứng lên dùng võ trang lật đổ
các chế độ tư bản.
Trong một chế độ độc tài đảng
trị như Việt Nam ngày nay, Các Mác có thể
bị truy tố về 6 tội đại hình sau đây:
1) Tội tuyên truyền chống chế độ tư
bản, và sẽ có thể bị kết án 12
năm tù như trường hợp Trần Vọng
Quốc hay Đoàn Thanh Liêm.
2) Tội tuyên truyền chống nhà nước,
và sẽ có thể bị kết án 4 năm tù
như trường hợp Lê Chí Quang.
3) Tội phá hoại chính sách đoàn kết
quốc gia do chủ trương chia rẽ giai cấp, đấu
tranh giai cấp nhằm tiêu diệt các giai cấp
phi vô sản, và có thể bị kết án
15 năm tù như trường hợp Linh Mục Nguyễn
Văn Lý.
4) Tội lợi dụng quyền tự do dân chủ,
và có thể bị kết án 32 tháng tù như
trường hợp Nguyễn Vũ Việt hay Nguyễn
Trực Cường.
5) Tội phản nghịch hay âm mưu lật đổ
chính quyền, và sẽ có thể bị kết
án 20 năm tù như trường hợp Nguyễn
Đan Quế.
6) Tội gián điệp, vì đã cung cấp
các tin tức tài liệu ra nước ngoài, để
nước này sử dụng chống lại Nhà
Nước, và sẽ có thể bị kết án
12 năm tù như trường hợp Nguyễn Khắc
Toàn.
Tuy nhiên trong chế độ dân chủ pháp trị,
Các Mác đã không bị truy tố và kết
án về 6 tội này. Vì đó chỉ là
những tội giả tạo hay cưỡng ép. Ngày
nay Đảng Cộng Sản Việt Nam đã viện
dẫn 6 tội này để bắt giam độc đoán
những người đấu tranh cho tự do tôn giáo
và tự do dân chủ.
1. Các tội tuyên truyền chống chế độ
và tuyên truyền chống nhà nước là
những tội bịa đặt, giả tạo không
thấy trong các bộ hình luật của các quốc
gia dân chủ trên thế giới. Tuyên truyền
không phải là một tội hình sự. Tuyên
truyền chỉ là việc hành sử quyền tự
do tư tưởng, tự do phát biểu quan điểm
được nhân loại văn minh thừa nhận
trong hiến pháp quốc gia và công ước quốc
tế. Cũng vì vậy Các Mác đã không
bị Tòa Án Luân Đôn truy tố và kết
án về 2 tội này.
2. Tội phá hoại chính sách đoàn kết
quốc gia hay phá hoại chính sách quốc gia thống
nhất, viện dẫn để kết án Linh Mục
Nguyễn Văn Lý và Hòa Thượng Thích
Quảng Độ cũng là một tội bịa đặt,
giả tạo, không thấy trong các Bộ Hình
Luật của các quốc gia văn minh.
Trên bình diện chính trị, không thể và
không nên có một chính sách quốc gia thống
nhất hay duy nhất. Vì đó là dấu hiệu
của độc tài, độc tôn. Chiếu nguyên
tắc dân tộc tự quyết, quốc dân cần
có nhiều đường lối, nhiều chính
sách khác nhau, để cử tri có thể lựa
chọn một chính sách mà họ cho là tương
đối phù hợp nhất cho xã hội và bản
thân.
Trên bình diện tôn giáo cũng vậy. Không
thể và không nên có tôn giáo nhà nước,
vì tôn giáo độc tôn là vi phạm tự
do tôn giáo. Cũng không thể và không nên
chỉ có một giáo hội duy nhất đại
diện cho một tôn giáo như Phật Giáo hay
Ki Tô Giáo.
Đối với nhà cầm quyền, thiết lập
hay yểm trợ một tôn giáo (nhà nước)
hay một giáo hội (quốc doanh) là vi phạm nguyên
tắc Biệt Lập giữa Tôn Giáo và Nhà
Nước (Separation of Church and State), vi phạm nguyên
tắc Cấm Nhà Nước Thiết Lập Tôn
Giáo hay Giáo Hội (Establishment of Religion Clause), vi phạm
nguyên tắc Tự Trị Sinh Hoạt của các
giáo hội và vi phạm các quyền tự do hội
họp, tự do lập hội và tự do tôn giáo.
Khẩu hiệu Đạo Pháp, Dân Tộc, và
Xã Hội Chủ Nghĩa nói lên chính sách
can thiệp của Nhà Nước vào Tôn Giáo.
Mục đích để kiểm soát và lũng
đoạn tôn giáo, đồng thời tước
đoạt tư cách pháp nhân của các giáo
hội chân chính (không theo Xã Hội Chủ
Nghĩa), dầu rằng giáo hội này có truyền
thống sinh hoạt ngàn năm về truyền giáo
và hành đạo như Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất.
Trên bình diện chính trị, Đảng Cộng
Sản ngoài miệng hô hào đoàn kết giai
cấp (trong Điều 87 Hình Luật), nhưng trên
chủ thuyết đã chủ trương tiêu diệt
các giai cấp phi vô sản, và trên thực
tế đã phát động đấu tranh giai cấp
trong các Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất
và Cải Tạo Công Thương Nghiệp để
vô sản hóa giai cấp nông dân tiểu tư
sản và giai cấp tư sản thành thị.
Trên bình diện tôn giáo cũng vậy. Đảng
Cộng Sản ngoài mặt hô hào đoàn kết
tôn giáo (cũng trong Điều 87 Hình Luật),
nhưng trên chủ thuyết đã chủ trương
tiêu diệt tôn giáo, và trên thực tế
đã đàn áp tôn giáo, chia rẽ tôn
giáo bằng cách thiết lập các giáo hội
quốc doanh để tước đoạt tư cách
pháp nhân của các Giáo Hội Phật Giáo,
Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành v...v...
Ngoại trừ Giáo Hội Công Giáo thuộc hệ
thống Vatican, Đảng Cộng Sản chỉ thừa
nhận và đăng ký các giáo hội quốc
doanh (kể cả Hội Công Giáo Yêu Nước)
do họ thiết lập trong hệ thống Mặt Trận
Tổ Quốc, đặt dưới quyền chỉ đạo
của Ban Tôn Giáo Nhà Nước và Đảng
Cộng Sản.
Mặc dầu đã thừa nhận trong hiến pháp
quyền tự do tôn giáo, tự do lập hội
(hội dân sự và hội tôn giáo) và không
ngừng kêu gọi đoàn kết tôn giáo,
Đảng Cộng Sản đã vi phạm quyền
tự do lập hội, tự do tôn giáo, tự do
truyềøn giáo và hành đạo. Họ đã
cấm Linh Mục Nguyễn Văn Lý không được
cử hành thánh lễ. Ngoài ra họ còn kết
án Hòa Thượng Thích Quảng Độ chỉ
vì đã tổ chức cứu trợ các nạn
nhân lũ lụt.
Bất bình tắc minh, các nhà lãnh đạo
tôn giáo đã lên tiếng phản kháng.
Họ tố cáo nhà cầm quyền đàn áp
tôn giáo trong các bản điều trần gởi
Quốc Hội Hoa Kỳ, Quốc Hội Âu Châu và
các hiệp hội nhân quyền trên thế giới.
Để trả đũa, Đảng Cộng Sản
đã truy tố họ về tội phá hoại chính
sách đoàn kết quốc gia, đoàn kết
tôn giáo.
Đảng Cộng Sản là kẻ phá hoại đoàn
kết. Nhưng lại truy tố người khác về
tội phá hoại chính sách đoàn kết.
Chẳng khác nào kẻ đi ăn cướp lại
hô hoán bắt cướp, và kẻ sát nhân
lại hô hoán Tăng Sâm giết ngườùi!
3. Tội lợi dụng quyền tự do dân chủ
cũng là một tội bịa đặt, giả tạo.
Về mặt pháp lý, lợi dụng có nghĩa
là hưởng dụng, sử dụng hay hành sử.
Do đó, lợi dụng quyền tự do dân chủ
không phải là một tội hình sự. Đó
chỉ là việc hành sử hợp pháp những
quyền tự do dân chủ đã được
thừøa nhận bởi hiến pháp quốc gia và
công ước quốc tế:
a) Về mặt giáo dục, nếu có điều
kiện, sinh viên có thể lợi dụng quyền
tự do đi lại, tự do xuất ngoại và hồi
hương để xuất dương du học, trau
giồi các kiến thức khoa học kỹ thuật
để một mai trở về phụng sự quốc
gia.
b) Về mặt chính trị, cử tri có thể
lợi dụng quyền tự do bầu cử, dùng lá
phiếu để truất phế (trong vòng ôn hòa
và hợp pháp) các chính phủ độc tài,
tham nhũng, bất công hay bất lực.
c) Về mặt ngoại giao, tháng 3-1949, Tổng Thống
Pháp ký Hiệp Định Élysée trao trả
độc lập cho Việt Nam. Tháng 4-1949, đồng
bào Miền Nam đã lợi dụng quyền dân
tộc tự quyết để giải tán chế độ
Nam Kỳ Tự Trị, và sát nhập Nam Phần
vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập
và thống nhất.
Trong những trường hợp kể trên, lợi
dụng quyền tự do dân chủ chẳng những
là quyền lợi chính đáng, mà còn là
nghĩa vụ cao quý của công dân.
Vả lại, tại Việt Nam ngày nay, vì không
có dân chủ, nên không có cơ hội để
lợi dụng quyền dân chủ!
4. Tội âm mưu lật đổ chính quyền
nhân dân (hay tội phản nghịch) là một
tội cưỡng ép lố bịch. Muốn cấu
thành tội phản nghịch phải có yếu tố
khởi sư ïhành động võ trang. Trong khi
đó các bị can Nguyễn Đan Quế, Đoàn
Viết Hoạt, Nguyễn Đình Huy v...v... chỉ là
những thư sinh yếu đuối, trói gà không
chặt và không có một tấc sắt trong tay.
Họ chỉ kêu gọi nhà cầm quyền thực
thi quyền dân tộc tự quyết bằng cách
thay thế chế độ độc tài đảng
trị bằng chế độ dân chủ pháp trị.
Không ai có thểå lật đổ chính quyền
đơn thuần bằng những lời kêu gọi.
5. Tội gián điệp gán cho Nguyễn Khắc
Toàn, Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Vũ Bình
cũng là một tội cưỡng ép lố bịch.
Trong Bộ Hình Luật Việt Nam, tội gián điệp
được xếp vào chương các tội
xâm phạm an ninh quốc gia đặc biệt nguy hiểm
như tội phản quốc, mà hình phạt có
thể đến tử hình. Do đó muốn cấu
thành tội gián điệp phải có yếu
tố xâm phạm an ninh quốc gia, bằng cách cung
cấp những tin tức tài liệu liên quan đến
an ninh quốc gia (như bí mật quân sự, bí
mật quốc phòng) cho nước ngoài, để
nước này sử dụng chống lại quốc
gia, và gây nguy hại cho quốc gia.
Trong khi đó Nguyễn Khắc Toàn chỉ phổ
biến trên internet các tin tức về phong trào
khiếu kiện, mít tinh và biểu tình của
nông dân. Đây là một hoạt động
truyền thông, không phải là hành vi gián
điệp.
Phạm Hồng Sơn chỉ phổ biến trên internet
các ý kiến về dân chủ của nhân loại
văn minh. Đây là một hoạt động công
dân giáo dục, không phải là hành vi gián
điệp.
Nguyễn Vũ Bình chỉ phổ biến bản điều
trần cho Quốc Hội Hoa Kỳ về những vi phạm
nhân quyền ở Việt Nam. Đây chỉ là
việc hành sử quyền tự do phát biểu,
tự do thông tin được thừa nhận bởi
Hiến Pháp Quốc Gia và Công Ước Quốc
Tế.
Mặc dầu vậy Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn
Vũ Bình và Phạm Hồng Sơn đã bị
kết án 12 năm tù, 7 năm tù và 5 năm
tù về tội gián điệp.
Luật pháp Cộng Sản đúng là luật
rừng xanh của loài cầm thú. Và tòa án
Cộng Sản chỉ là tòa án trò hề của
loài đại thử.
ƯỚC VỌNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH
Trong sách lược Thập Diện Mai Phục chúng
ta chủ trương đấu tranh 10 mặt để
giải thể Cộng Sản và xây dựng Dân
Chủ. Trong sách lược này chúng ta không
đề cập đến diễn biến hòa bình.
Ngày nay Hoa Kỳ và đồng minh muốn phát
triển các tương quan ngoại giao, kinh tế và
văn hóa với Hà Nội để hy vọng thực
hiện lộ trình diễn biến hòa bình, cho
Việt Nam hội nhập vào cộng đồng các
quốc gia dân chủ trên thế giới.
Đó cũng là ước vọng của chúng
ta.
Mọi người kỳ vọng rằng, với sự
phát triển kinh tế thị trường, sự giao
lưu văn hóa và trao đổi tin tức ý
kiến, rồi đây dân trí sẽ mở mang,
đời sống kinh tế của người dân
sẽ thoát khỏi sự kiềm tỏa của nhà
nước, và ý thức dân chủ sẽ khai
thông kỷ nguyên hòa bình và tiến bộ.
Kinh nghiệm Đông Âu cho biết, nhờ có
trao đổi tin tức ý kiến, người dân
lần lần hiểu rõ bản chất của Cộng
Sản. Và khi họ đã biết rõ mặt thật
Cộng Sản, thì không còn ai tha thiết bảo
vệ chế độ nữa, và chế độ
đã tiêu vong. Tại Hung Gia Lợi và Bảo
Gia Lợi, chế độ Cộng Sản đã bị
giải thể bằng diễn biến hòa bình.
Điều đáng lưu ý là các nhà lãnh
đạo Cộng Sản Âu Châu thường có
tinh thần thể thao phục thiện. Sau những cuộc
tổng tuyển cử tự do, khi thấy người
dân không còn tín nhiệm chế độ nữa
thì họ đã lặng lẽ rút lui.
Việc này sẽ không xảy ra tại Việt Nam.
Vì những người lãnh đạo Cộng Sản
Việt Nam không suy nghĩ và hành động như
những người Cộng Sản Âu Châu. Họ
không bao giờ dám tổ chức tuyển cử tự
do để biết rõ nguyện vọng của người
dân. Thay vì có tinh thần thể thao phục thiện,
họ lại bất phục ngoan cố. Thay vì ngay thẳng
bộc trực, họ lại ngụy trang dối trá.
Thay vì công bằng trọng pháp, họ lại
bao che tham nhũng. Họ không phải là những
người yêu nước và không đặt
quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi
của phe đảng. Họ chỉ giả nhân giả
nghĩa, lợi dụng các ngân khoản viện trợ
để trang bị bộ máy công an nhằm đàn
áp đối lập và củng cố chính quyền.
Hơn nữa họ không bao giờ tôn trọng giao
lưu văn hóa và trao đổi tin tức ý
kiến với thế giới dân chủ. Họ chỉ
lợi dụng giao lưu văn hóa một chiều để
tuyên truyền dối trá, bóp méo sự thật,
nhằm tạo huyền thoại cho Hồ Chí Minh, và
gây uy tín cho Đảng Cộng Sản được
độc quyền lãnh đạo quốc gia.
Như vậy nếu có đổi mới thì cũng
chỉ là thay đổi về hình thức, chứ
không thay đổi về thực chất. Trong điều
kiện này, nếu chúng ta chỉ kỳ vọng vào
diễn biến hòa bình, mà không hy sinh tranh đấu,
thì đến năm 2045 - nghĩa là 100 năm sau
khi Cộng Sản cướp chính quyền - xã hội
của chúng ta cũng sẽ không bằng xã hội
Miền Nam năm 1975 thời Việt Nam Cộng Hòa.
Do đó phương châm hành động của
chúng ta vẫn là:
Hãy tự giúp mình rồi Trời sẽ giúp
ta.
Hãy hy sinh và chiến đấu rồi đồng
minh sẽ giúp ta.
Diễn biến hòa bình chỉ là một ước
vọng, không phải là sách lược.
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Trong Câu Lạc Bộ Văn hóa Việt Nam