THÔNG ÐIỆP ẢI NAM QUAN
Trần Gia Phụng
(Ðã trình bày trong cuộc hội luận tại Civic Center, thành phố Westminster, ngày Chủ Nhật 28-7-2002, do Uỷ Ban Phối Hợp Hành Ðộng Bảo Toàn Ðất Tổ California tổ chức.)

1.-   NAM QUAN GẮN LIỀN VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC

Ải Nam Quan là một điạ danh vang lừng chiến sử dân tộc, không lạ gì với bất cứ một người Việt Nam nào.  Tuy nhiên, cần chú ý là từ ngữ nầy mang hai ý nghĩa khác nhau: thứ nhất, ải Nam Quan là một cảnh quan thiên nhiên; và thứ nhì ải Nam Quan là công trình kiến trúc nhân tạo.
Theo định nghĩa, ải là chỗ đất hẹp và hiểm trở nằm ở giáp ranh giữa hai vùng núi, hay biên giới giữa hai nước, dùng làm đường thông thương qua lại.(1)  Những ngọn ải giữa hai vùng núi trong nước nổi tiếng như ải Chi Lăng (Lạng Sơn), ải Hoành Sơn (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình), ải Hải Vân (giữa Thừa Thiên và Quảng Nam).  Những ngọn ải giữa hai nước Việt Hoa như ải Bình Nhi (Cao Bằng), ải Nam Quan (Lạng Sơn).  Trong Chinh phụ ngâm khúc cuả bà Ðoàn Thị Ðiểm có câu: “Bóng cơ,ø tiếng trống xa xa,/ Sầu lên ngọn ải, oán ra cưả phòng.” (câu 15 và 16)
Như thế, trước hết chữ “ải Nam Quan” cần được hiểu là ngọn ải có đường đèo hẹp qua lại giữa Việt Nam và Trung Hoa ở vùng Nam Quan, tỉnh Lạng Sơn.  Vùng Nam Quan nguyên thuỷ tên là Pha Luỹ.  Tuy quân Trung Hoa đã qua lại ải nầy trước đó nhiều lần, các bộ chính sử bắt đầu đề cập đến ải Pha Luỹ khi chép việc Trương Phụ đem quân tấn công nước ta năm 1406 (bính tuất).  Theo bộ Cương mục, ải Pha Luỹ (Nam Quan) ở xã Ðồng Ðăng, huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn.(2)  Như vậy, ải Pha Luỹ, về sau gọi là Nam Quan, là cảnh quan thiên nhiên vùng đồi núi hiểm trở, có ngọn đèo qua lại giữa hai nước Việt Hoa phiá bắc Lạng Sơn.  Dưới đây là lời mô tả cuả các sách về cảnh quan thiên nhiên nầy:
Sách Phương Ðình dư điạ chí cuả Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), đề tựa năm 1865, viết “... hai bên tả hữu núi đá cao ngất, ở giữa mở một cưả quan...”.(3)  Sau đó, sách Ðại Nam nhất thống chí, bộ điạ lý chính thức cuả nhà Nguyễn hoàn thành năm 1882 viết “... phía đông là một  dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường...”(4)   Hai bên là hai dãy núi, ở giữa là lối đi qua ải; đó là con đường đèo chật hẹp, nếu chận ngay tại đường đèo nầy, nghĩa là chận ngay cửa ải, thì Bắc phương rất khó tiến quân.  
Ðể làm ranh giới giữa hai nước, trên đỉnh cuả ngọn ải hay đèo Pha Luỹ, người Trung Hoa xây dựng một cưả hay cổng lớn, và đặt tên là “Trấn Nam Quan” [cưả trấn giữ phương nam] hay “Ðại Nam Quan” [cưả lớn về phương nam].  Người Pháp gọi cưả nầy là “Porte de Chine” nghĩa là “Cưả Trung Hoa”.  Từ công trình kiến trúc cuả Trung Hoa mới có từ ngữõ Nam Quan, và từ đó người Việt quen gọi là ải Nam Quan thay vì gọi ải Pha Luỹ như trước kia.  
Ðối diện ngay với công trình kiến trúc cuả Trung Hoa là những công trình kiến trúc cuả Việt Nam. “Khoảng đời Lê Cảnh Hưng, [5] đốc trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Ðang sửa lại “Ngưỡng đức đài”, lập bia ghi việc đại lược nói: “Nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, quan ải trước ở đâu không rõ, là vì diên cách thế nào không ghi đủ.  Gần đây, lấy địa giới châu Văn Uyên trấn Lạng Sơn làm cửa quan, cửa quan có “Ngưỡng đức đài” không rõ dựng từ năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh nhà Minh.”  Văn bia ấy nay vẫn còn.”(6)
Sau ý nghĩa thứ nhất là cảnh quan thiên nhiên, ải Nam Quan mang ý nghĩa thứ nhì là các công trình kiến trúc nhân tạo cuả Trung Hoa và cuả Việt Nam.  Nói như thế để xác định một điều: Khi nói đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã làm mất ải Nam Quan, tức là không phải chỉ làm mất công trình kiến trúc cuả Việt Nam tại đèo Pha Luỹ mà sau nầy gọi là ải Nam Quan, mà làm mất luôn đoạn đường đèo chiến lược quan trọng nầy.  Công trình kiến trúc là di tích lịch sử và văn hóa rất quý báu, nhưng đoạn đường đèo chiến lược để bảo vệ đất nước cũng quan trọng không kém.
Lịch sử nước ta là lịch sử mở nước và giữ nước.  Khi nói đến giữ nước, bảo vệ nền độc lập trước thế kỷ 19, có nghĩa là nói đến lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa, vì Trung Hoa là ngoại bang chính thường xuyên đe doạ nền độc lập cuả nước ta từ khi tổ tiên lập quốc.
Trên đường bộ, quân Trung Hoa tiến vào nước ta bằng hai con đường chính: 
1)  Thứ nhất, từ Tư Minh, Bằng Tường (Quảng Châu, Trung Hoa), theo thung lũng các sông nhỏ như Bằng Giang, Kỳ Cùng, vào Lạng Sơn, xuống thung lũng sông Thương, đến Bắc Ninh, tiến qua Thăng Long.    
2)  Thứ nhì, từ Vân Nam (Trung Hoa), qua Lào Cai, theo thung lũng sông Hồng, xuống Thăng Long.  
Trong hai con đường nầy, đường thung lũng sông Thương thuận tiện hơn, và Lạng Sơn nằm chắn ngay trên con đường nầy.  Ngày nay, đường bộ từ Lạng Sơn đến Hà Nội dài gần 160 cây số, trong khi   khoảng cách giữa Lào Cai và Hà Nội gần 300 cây số, nghĩa là dài gần gấp hai đường từ Lạng Sơn đi Hà Nội.
Quân Trung Hoa muốn tiến vào Lạng Sơn phải qua ải Nam Quan.  Ðây là một vị trí điạ lý quan trọng và bén nhạy trong việc phòng thủ đất nước.  Ải Nam Quan bị bắc phương uy hiếp là lời báo động đất nước bị lâm nguy, nên có thể nói ải Nam Quan gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm cuả dân tộc, thăng trầm theo bước thăng trầm cuả đất nước.  
Tiếng nói đầu tiên cuả Nam Quan cho biết khi nước Việt Nam hùng mạnh thì nhà các cầm quyền Trung Hoa không dám xâm lăng.  Họ chờ đợi thời cơ đất nước chúng ta suy vi, nhân tâm ly tán, lòng người chia rẽ, họ liền tấn công.  Khi người Việt đoàn kết trở lại, khởi nghĩa đánh đuổi ngoại xâm, chắc chắn chúng ta đẩy được họ về phiá bên kia ải Nam Quan.  Ngày nay, dưới sự cai trị cuả CSVN, Việt Nam yếu kém và chia rẽ nên ải Nam Quan mới lọt vào tay CSTH.

2.-   NAM QUAN, CHỨNG TÍCH CUẢ  MƯU ÐỒ CỘNG SẢN BẤT CHÍNH

Vào thời Pháp thuộc, dầu người Việt Nam mất chủ quyền chính trị, ải Nam Quan vẫn thuộc về tổ quốc Việt Nam.  Những người đầu tiên làm cho ải Nam Quan “trôi” dần vào lãnh thổ Trung Hoa chính là Hồ Chí Minh và đảng CSVN.
Ngày 19-12-1946, Hồ Chí Minh ra lệnh tấn công bất ngờ quân đội Pháp tại Hà Nội và mở cuộc kháng chiến chống Pháp trên toàn quốc.  Chiến tranh Việt Pháp 1946-1954 có thể chia làm hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất 1946-1949 và giai đoạn thứ nhì 1950-1954.  Khi cuộc chiến khởi đi ngày 19-12-1946, nhiều người Việt Nam yêu nước lên đường tham gia kháng chiến.  Sau đó, Mặt trận Việt Minh để lộ bộ mặt cộng sản độc tài, nhiều người đã bỏ chiến khu, hồi cư sinh sống và hoạt động dưới chính thể Quốc gia do ông Bảo Ðại lãnh đạo, mới được hình thành sau hiệp định Elysée ngày 8-3-1949.  
Trong khi đó, tại Trung Hoa, đảng Cộng Sản thành công, chiếm toàn thể lục điạ và tuyên bố thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) ngày 10-10-1949.  Ðây là một sự kiện chính trị quốc tế ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến Việt Nam.
Ngay từ khi thành lập năm 1930, đảng CSVN đã được CSTH giúp đỡ.  Lúc đầu, CSTH giúp đỡ tiền bạc, vũ khí, quân nhu, huấn luyện.  Ðến khi Mao Trạch Ðông làm chủ Trung Hoa, CSTH còn tiến thêm một bước nữa, giúp làm hậu cứ cho CSVN trốn tránh khi bị săn đuổi trong giai đoạn du kích chiến.  Dọc theo biên giới giữa hai nước, ngay bên trong lãnh thổ Việt Nam, CSVN lập những an toàn khu để ẩn núp.  Ðể cho những an toàn khu nầy thật sự an toàn, CSVN cắm cờ CHNDTH.  Quân đội Quốc gia và quân đội Pháp không thể xâm nhập, vì e ngại trực tiếp khiêu chiến với CHNDTH.  
Như thế, bằng thế lực chính trị quốc tế, và do sự yêu cầu cuả Hồ Chí Minh và Việt Minh, CHNDTH đã đặt được một chân trên những vị trí chiến lược quan trọng nằm bên trong lãnh thổ Việt Nam.  Về sau nầy, trong cuộc chiến 1954-1975, việc nầy lại tái diễn dưới một hình thức khác.
Sau năm 1954, CSBV cương quyết tiến hành chiến tranh xâm chiếm Việt Nam Cộng Hoà.  Quyết tâm nầy thể hiện rõ nét nhất qua hai sự kiện sau đây:
-  Năm 1957, Hà Nội quyết liệt phản đối đề nghị cuả Liên Xô đưa hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt.(7)  
-  Ngày 13-5-1959, Uỷ ban Trung ương đảng Lao Ðộng (tức đảng CS) ra nghị quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm miền Nam bằng vũ lực) và đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa. (Nghị quyết đăng trên Nhân Dân ngày 14-5-1959)  Nghị quyết trên đây được lập lại trong Ðại hội 3 đảng Lao Ðộng, từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960.(8)  
Vì chủ trương như thế, Bắc Việt rất cần viện trợ quân sự cũng như kinh tế cuả Liên Xô và CSTH.  Riêng hàng hoá từ Liên Xô qua Việt Nam không thể vận chuyển bằng hàng không vì quá đắt, cũng không thể vận chuyển bằng hàng hải vì bờ biển phiá đông Liên Xô thường bị đóng băng và tàu bè chạy trên biển dễ bị phiá Hoa Kỳ phát hiện.  Chỉ có con đường thuận lợi duy nhất là bằng xe lưả trên đường bộ qua Trung Hoa, đến Việt Nam.   
Trong sách Les frontières du Vietnam: Histoire des frontières de la péninsule indochinoise [Biên giới Việt Nam: Lịch sử các biên giới bán đảo Ðông Dương] cuả các tác giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Văn hoá Bán đảo Ðông Dương ở Paris, Nxb. L'Harmattan, Paris, 1989, có bài cuả ông Antoine Dauphin nhan đề “La frontière sino-vietnamien de 1895-1896 à nos jours” [Biên giới Hoa Việt từ 1895-1896 đến ngày nay].  Trong bài nầy, mục “La frontière des années 50 à nos jours” [Biên giới từ những năm 50 đến ngày nay], ở trang 112, có đoạn viết:
“Từ công cuộc xây dựng, bằng viện trợ Trung Hoa [cộng sản], những công trình “hữu nghị” trên lãnh thổ Việt Nam, phiá Trung Hoa đã, theo lời cuả Hà Nội ngày nay [1989], lợi dụng các công trình nầy để đẩy thêm biên giới xa hơn nưã xuống phiá nam.  Ví dụ, từ khi tái thiết đường xe lưả từ Yên Viên tới Ðồng Ðăng, điểm tiếp hợp giữa hai đường xe lưả Trung Hoa và Việt Nam được dời đến 300 thước vào bên trong lãnh thổ Việt Nam; người Trung Hoa tuyên bố rằng điểm tiếp hợp đó đánh dấu biên giới[giữa hai nước].(9)
Như thế, theo tài liệu nầy, khi lập đường xe lửa vào cuối thập niên thập niên 50, đầu thập niên 60, nhà cầm quyền CSTH đã chiếm vùng đất quá ải Nam Quan thêm 300 thước, hay nói cách khác ải Nam Quan đã nằm sâu thêm khoảng 300 thước trong nội điạ Trung Hoa.
Trên Việt Báo Online, California, ngày 6-2-2002 có đăng bài cuả một trí thức trong nước là ông Lý Công Luận.  Theo ông Luận, trước 1969, khi Hồ Chí Minh còn sống, để dễ tiếp tế Bắc Việt, đảng CSTH và đảng CSVN đồng ý cùng thiết lập đường xe lưả giao nhau ở biên giới Nam Quan để chuyển hàng viện trợ cuả Liên Xô và CHNDTH.  Vì kỹ thuật kém, Bắc Việt không làm kịp, nên sau khi xong phần mình, CSTH đề nghị giúp làm tiếp đường sắt sâu vào lãnh thổ Việt Nam.  CSVN đồng ý.  Ðường sắt cuả Trung Hoa có đường ray là 1,2m, trong khi đường sắt cuả Việt Nam chỉ có 0,9m.  Sau chiến tranh Việt Hoa năm 1979, CSTH cho rằng biên giới cuả TH chạy dài đến hết đường sắt TH, tức sâu vào nội điạ Việt Nam khoảng 400 thước.
Cả hai tài liệu, một do người ngoại quốc viết năm 1989, một do một đảng viên kỳ cựu ở trong nước viết năm 2002, đều xác nhận Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã nhượng bộ cho CSTH lấn thêm đất khi lập điạ điểm chuyển hàng viện trợ.  Cộng chung với vùng đất mà Pháp đã nhượng bộ khi phân định biên giới năm 1887 (150m), thì biên giới mới cách ải Nam Quan 450 thước (150m + 300m), tức non nưả cây số.  Không ai được biết vùng đất nầy chiều dài bao nhiêu để biết số diện tích đất thực sự đã mất.
Nếu điạ điểm chuyển hàng bằng đường xe lưả nằm trên phần đất Việt Nam thì sợ Hoa Kỳ dùng máy bay oanh tạc.  Ðể tránh bị máy bay Hoa Kỳ tấn công, có thể CSVN lúc đó thoả thuận với CSTH rằng điạ điểm chuyển hàng, tuy nằm ở phiá nam ải Nam Quan 300 thước, trong phần đất Việt Nam, nhưng cắm cờ CSTH, để Hoa Kỳ lầm rằng đây là phần đất cuả Trung Hoa mà không đánh phá.  Hoa Kỳ không muốn khiêu khích Trung Hoa nhảy vào vòng chiến như đã xảy ra ở Triều Tiên.  
Chính tình trạng mập mờ nầy, cộng thêm sự khác biệt về chiều rộng bề ngang đường sắt là căn bản để sau nầy CSTH lý luận rằng biên giới cuả họ đến tận cuối đường sắt cuả họ, tức là ngay tại điạ điểm tiếp hợp nằm trong lãnh thổ Việt Nam đã nói ở trên.
Như thế, do mưu đồ bất chính cầu viện ngoại bang để xâm lăng miền Nam, Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã âm thầm nhượng thêm đất vùng Nam Quan cho CSTH.  Vết chân cuả CSTH càng ngày càng lún sâu vào nội điạ Việt Nam, và dần dần lún sâu hơn nữa sau năm 1975.

3.-   NAM QUAN, NẠN NHÂN CUẢ CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN NƯỚC LỚN

Khi cưỡng chiếm được miền Nam năm 1975, cộng sản Hà Nội không còn theo chính sách ngoại giao đu dây thăng bằng giữa Liên Xô và CHNDTH, mà ngã hẳn về phía Liên Xô.  Ngày 27-6-1978, tại Bucharest, thủ đô Romania, CHXHCNVN gia nhập khối COMECON (Council for Mutual Economic Assistance tức Hội đồng Tương trợ Kinh tế).(10)  Trong cuộc họp cuả khối nầy tại thủ đô Mông Cổ là Oulan Bator từ 27-9 đến 1-10-1978, các nước trong khối COMECON hứa hẹn sẽ giúp CHXHCNVN thực hiện những kế hoạch kinh tế và kỹ nghệ mà CHNDTH bỏ dở.(12)  Ngày 3-11-1978, Lê Duẩn (1907-1986, bí thư thứ nhất đảng Lao Ðộng từ 1960 đến 1975, tổng bí thư đảng CS từ 1976-1986) sang Liên Xô và ký với Leonid Brezhnev (1906-1982, bí thư thứ  nhất đảng CSLX 1964-1966, tổng bí thư 1966-1982) , Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ tương và Phòng thủ giữa hai nước.(11a)
Dựa vào hậu thuẫn cuả Liên Xô, cộng sản Việt Nam xua quân xâm lăng Cambodia, chiếm thủ đô Phnom Penh ngày 7-1-1979.  Việc làm nầy của CSVN nhắm các mục đích sau đây: 
1)  Thứ nhất là CSVN muốn bành trướng ảnh hưởng qua Cambodia để mưu làm bá chủ Ðông Dương, và kiếm đường đánh xuống Thái Lan.
                2)  Thứ nhì giúp Liên Xô chận đứng ảnh hưởng cuả CSTH tại Ðông Dương và tại Ðông Nam Á.  Liên Xô và CHNDTH đều là hai nước cộng sản nhưng cuộc bang giao giữa hai nước căng thẳng từ khi Khrushchev lên cầm quyền ở Liên Xô sau cái chết cuả Stalin năm 1953.  Hai nước đã từng đánh nhau năm 1969 tại vùng biên giới giữa hai nước ở Ussuri và từ đó hai nước thường xuyên bất đồng với nhau nếu không muốn nói là kình địch nhau.
                3)  Thứ ba là CSVN tung các sư đoàn miền Nam qua đánh Cambodia.  Các sư đoàn nầy gồm những thanh niên mới tuyển “nghĩa vụ quân sự” ở miền Nam sau 1975.  Tung thanh niên miền Nam qua Cambodia vừa để làm tiêu hao tiềm lực miền Nam, vừa khiến cho dân chúng miền Nam phải lo chuyện chiến tranh, mà bớt chống đối chính sách thất nhân tâm của Hà Nội.
Trong lúc CHXHCNVN bước vào cuộc phiêu lưu quân sự ở Cambodia, thì CHNDTH đạt được hai thắng lợi ngoại giao quan trọng: 
1) Ngày 12-8-1978, CHNDTH cùng Nhật Bản ký kết Hiệp ước Hoà bình Hữu nghị Hoa Nhật giá trị trong mười năm và sẽ tái tục.  Hiệp ước nầy đã điều hoà thế thăng bằng chiến lược khu vực Ðông Bắc Á giữa tứ cường Mỹ, Nhật, Nga, Hoa.(11b) 
2)  Hoa Kỳ chính thức bình thường hoá bang giao với CHNDTH kể từ 1-1-1979, sau đó Ðặng Tiểu Bình được đón tiếp nồng nhiệt khi ông viếng thăm Hoa Kỳ từ 28-1 đến 4-2-1979.(11b)  
Tạm ổn với hai cường quốc Mỹ, Nhật, và viện cớ Việt Nam xâm lăng Cambodia, CHNDTH quyết định trả đũa và “dạy” cho Việt Nam một bài học.  Bài học nầy không phải thuần tuý vì vấn đề Cambodia.  Bài học nầy còn liên hệ đến ba việc: 
1) Thứ nhất, Cambodia là cưả ngõ để CHNDTH tiến xuống Ðông Nam Á.  Khi Việt Nam xâm chiếm Cambodia, có nghĩa là Việt Nam chận đứng con đường bành trướng cuả CHNDTH xuống vùng vịnh Thái Lan để gây ảnh hưởng đến các nước tại đây.  
2) Thứ nhì, khi bỏ CHNDTH, chạy theo Liên Xô và ký kết hiệp ước 1978, tập đoàn lãnh đạo CS Hà Nội đã mặc nhiên bỏ luôn những cam kết ngầm với CSTH trong lúc nhận những viện trợ to lớn của Trung Hoa để tiến hành hai cuộc chiến 1946-1954 và 1954-1975, mà con số nầy lên đến 20 tỷ Mỹ kim. 
3) Thứ ba, tuy bề ngoài Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước Ðông Nam Á tỏ ra chống lại việc Trung Hoa tấn công Việt Nam, nhưng họ cũng ngấm ngầm đồng tình với Trung Hoa chận đứng tham vọng quá lớn cuả CSVN sau khi CSVN chiếm được toàn cõi Việt Nam năm 1975.
Ngày 17-2-1979, CHNDTH đưa trên 200.000 quân tấn công CHXHCNVN ở sáu tỉnh biên giới.  Có nơi quân CHNDTH tiến sâu vào nội địa Việt Nam 40 cây số.  Sau khi phá nát vùng nầy, quân Trung Hoa rút về ngày 5-3-1979.  
Cuộc chiến 17 ngày đã để lại hậu quả trầm trọng cho Việt Nam: 13.000 đến 15.000 tử thương, 6.000 tù binh, 1 sư đoàn bị tiêu huỷ hoàn toàn, 3 sư đoàn có 50% bị loại khỏi vòng chiến, một số lớn đường xe lưả, cầu cống, hầm mỏ, cơ xưởng và nhà máy điện bị phá huỷ.(11c)
Ðiều đáng nói là trong khi đánh nhau, quân CHNDTH đã phá huỷ những cột mốc biên giới có từ thời Pháp thuộc, rồi dựng lại những cột mốc biên giới mới.  Trong khi dựng lại, quân đội CSTH đã dời nhiều cột mốc biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.  
Sau chiến tranh, quân đội CSTH vẫn chiếm giữ một số địa điểm hiểm trở chiến lược trong nội địa Việt Nam.  Nói cách khác, quân đội CSTH đã nới rộng biên giới Trung Hoa về phía nam, cũng có nghĩa là Việt Nam mất đi một số đất đai đáng kể và chắc chắn từ đây mất luôn ải Nam Quan. Vì vậy, tại tỉnh Lạng Sơn, trụ sở mới của hải quan (quan thuế) biên giới của Việt Nam phải dời về phía nam “Hữu Nghị Quan” (ải Nam Quan) khoảng hơn nửa cây số.  Nói cách khác, ải Nam Quan một lần nữa là nạn nhân cuả chính sách bá quyền nước lớn.

4.-  NAM QUAN TRƯỚC THAM VỌNG BÀNH TRƯỚNG KIỂU MỚI

Chiến tranh biên giới Việt Cambodia và Việt Hoa năm 1979 đều bị quốc tế lên tiếng phản đối.  Ðiều nầy cho thấy trong bang giao quốc tế, từ đây các cuộc tiến quân xâm lược đều bị lên án.  Những tổ chức quốc tế, nhất là Liên Hiệp Quốc, không còn để cho nước nầy xâm lăng nước khác một cách dễ dàng.
Do đó, sau cuộc chiến năm 1979, CHNDTH thay đổi chiến thuật bành trướng tuy vẫn duy trì chủ trương bành trướng.  Sự thay đổi nầy chẳng những CHNDTH ứng dụng riêng với Việt Nam, mà với toàn thể khu vực chung quanh Trung Hoa như Mông Cổ, Tây Tạng, Miến Ðiện và Ðài Loan.  Sư thay đổi chiến thuật nầy thấy rõ nhất trong việc CHNDTH viện trợ vừa kinh tế vừa quân sự cho chính phủ quân phiệt Miến Ðiện từ năm 1988, và trong việc để cho Hồng Kông tự do theo đường lối kinh tế tư bản sau khi Hồng Kông chính thức trở về với Trung Hoa năm 1997.
Riêng đối với Việt Nam, CHNDTH không còn xua quân ồ ạt như trước, mà thay vào đó bằng phương thức “tàm thực”, như con tằm từ từ ăn lá dâu.  Trong phương thức mới nầy, CSTH vận dụng sức mạnh tổng thể, vừa quân sự, vừa nhân mãn, vừa chính trị (ngoại giao), vừa kinh tế.  Sức mạnh tổng thể nầy được ứng dụng bằng hai cách: tại điạ phương vùng biên giới và trên chính trường Việt Nam nói chung.
Tại điạ phương vùng biên giới, CSTH cho người tràn đến những khu vực chiến lược đang tranh chấp, nhất là tại ải Nam Quan, tổ chức sinh sống theo từng nhóm nhỏ, dần dần đòi hỏi thành lập chính quyền người Hoa, dùng sức mạnh quân sự để tấn công và bảo vệ vùng họ chiếm đóng, đồng thời đổ các loại hàng hóa tiêu dùng vào lủng đoạn thị trường Việt Nam. (Vừa qua, Việt Báo Online ngày 16-7-2002, khi đưa tin Việt Nam, có loan báo rằng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam dự tính sẽ huỷ bỏ đường xe lửa Ðồng Ðăng ở Lạng Sơn vì nạn buôn lậu hàng hóa qua biên giới diễn ra hỗn loạn.) (12)  
Dọc theo biên giới Việt Hoa là điạ bàn các cư dân điạ phương sinh sống.  Trong quá khứ, những bộ tộc nầy thường nghiêng về Việt Nam hay Trung Hoa tuỳ theo chánh sách cuả quan lại điạ phương.   Bên nào nâng đỡ họ thì họ theo.  Tuy hiệp ước Pháp Hoa năm 1887 định rõ biên giới giữa hai nước, nhưnh các bộ tộc vẫn qua lại làm ăn buôn bán với nhau.  Nay CHNDTH ve vãn các bộ tộc nầy và đưa người tràn qua sống lẫn lộn với họ.  
Trong khi đó,  chính sách cuả nhà nước CHXHCNVN đối với dân chúng thổ cư, các sắc tộc điạ phương vùng núi non biên điạ, không được hợp lý, thiếu nâng đỡ, nếu không muốn nói là bất công, khiến họ bỏ về phiá Trung Hoa.  Có nhiều người còn bỏ đất, bỏ làng trốn vào cao nguyên Nam Trung Phần lập nghiệp.  Do đó, dọc biên giới Việt Hoa, người Trung Hoa tiến qua sinh sống và khai thác dễ dàng mà không gặp phản ứng cuả người điạ phương.
Về phương diện ngoại giao và chính trị, nhân cơ hội đảng CSVN yếu thế về đối nội cũng nhưng đối ngoại, nhất là những tranh chấp quyền lực nội bộ, đảng CSTH mua chuộc và đe doạ ban lãnh đạo, vỗ về và áp lực CSVN đi vào quỹ đạo chính trị cuả CSTH.  CSTH còn dùng đến những biện pháp kinh tế tài chính rất tinh vi, vừa để bành trướng, đồng thời vừa để kiểm soát thị trường Việt Nam.  Nhà nước CSTH cho vay không hoàn lại, hoặc cho vay nhẹ lãi để Việt Nam thực hiện các kế hoạch kinh tế.  Tư bản cuả CSTH xâm nhập và đầu tư vào thị trường Việt Nam, mua và làm chủ các công ty quan trọng...
Sau 1975, đang là “đồng chí” với nhau, CHXHCNVN bỏ chạy theo Liên Xô hy vọng vỗ nợ (xù nợ) CHNDTH, bị “dạy” cho một bài học nhớ đời, mà vẫn nhẫn nhục quay lại cầu thân năm 1990, thì phải xuống nước, nhượng bộ.  Tổng bí thư đảng CSVN là Nguyễn Văn Linh (giữ chức từ 1986-1991), cùng các ông Phạm Văn Ðồng (1906-2000), Ðỗ Mười, bí mật sang CHNDTH thương thuyết vào tháng 9-1990.  Sau đó ông Ðỗ Mười (giữ chức từ 1991-1998), mới lên thay ông Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư, cùng ông Võ Văn Kiệt, thủ tướng CSVN, sang Bắc Kinh ngày 5-11-1991 chính thức tái lập bang giao giữa hai nước.(13)  
Bên cạnh những diễn tiến tình hình bên ngoài, nội bộ cuả đảng CSVN cũng phức tạp không kém.  Các phe phái tranh chấp nhau để giành lấy điạ vị lãnh đạo đảng CSVN.  Ðảng CSVN trải qua những cơn sóng gió ngấm ngầm, mà cụ thể nhất là ông Lê Khả Phiêu chỉ làm tổng bí thư được 3 năm (1998-2001) và Ðại hội 9 đảng CSVN (năm 2001) được dời lui nhiều lần vì nội bộ chưa sắp đặt xong.  
CHNDTH liền tung ra sức ép mạnh mẽ và buộc ban lãnh đạo của đảng CSVN phải nhượng ải Nam Quan thì CSTH mới tiếp tục ủng hộ, và nhờ đó CSVN mới có thể duy trì địa vị cũng như quyền lực.  

5.-   NAM QUAN TRẢ NỢ CHO CSVN

Ải Nam Quan đã được người Việt gìn giữ cho đến cuối thế kỷ 20, thì bị đảng CSVN cắt nhượng cho CSTH.   Như mọi người đều biết, Hồ Chí Minh và một số thuộc hạ du nhập hệ thống đảng trị cộng sản chuyên chế vào Việt Nam, rồi nhờ sự giúp đỡ viện trợ to lớn và toàn diện cuả khối Ðệ tam Quốc tế, nhất là Liên Xô và Trung Hoa, nên đã thành công trong việc cướp chính quyền từ năm 1945 đến năm 1975.  Vay càng nhiều thì nợ càng lớn.  Việc trả nợ diễn ra bằng nhiều cách.  
Cách thứ nhất: xương máu dân tộc:  Ðảng Lao Ðộng tức đảng CSVN đã dùng xương máu cuả đồng bào Việt Nam để trả nợ cho Nga Hoa.  Sau năm 1954, muốn chận đứng làn sóng cộng sản ở Ðông Dương, Hoa Kỳ ra sức giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa.  Vừa vì tham vọng quyền lực, vừa để giúp khối cộng sản quốc tế bằng cách cầm chân Hoa Kỳ ở Việt Nam, CSVN cố tình khiêu khích Hoa Kỳ đưa quân vào Việt Nam.  Chiến tranh Việt Nam làm cho nội bộ Hoa Kỳ chia rẽ và suy yếu, và nhất là làm giảm uy tín Hoa Kỳ trên thế giới, để Liên Xô và Trung Hoa rảnh tay bành trướng ở các khu vực khác, nhất là ở Phi Châu.  Mưu đồ nầy có phần nào thành công.  
Trong khi Hoa Kỳ lúng túng ở Việt Nam trong thời gian vụ Mậu Thân tháng 2-1968 thì quân đội Liên Xô tiến vào Tiệp Khắc tháng 8-1968.  Tiếp đó, Liên Xô gây ảnh hưởng ở Trung đông, Phi Châu, thành lập các nhà cầm quyền thân cộng ở Angola, Mozambique, Ethiopia, Nam Yemen và các thuộc điạ cũ cuả Bồ Ðào Nha.  Năm 1975, ba nước Ðông Dương lọt vào tay cộng sản cũng là giai đoạn thành công nhất cuả nền ngoại giao Liên Xô trên khắp thế giới.  Cao điểm cuả giai đoạn nầy là việc Liên Xô đưa quân chiếm Afghanistan năm 1979.
Chính Lê Duẩn, bí thư thứ nhất đảng CS (năm 1976 đổi là tổng bí thư), đã nói: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.”(14) Trong bài thơ “Chống tham ô lãng phí” đăng trên Giai phẩm mùa Thu, tập II, tháng 10-1956 xuất bản ở Hà Nội, thi sĩ Phùng Quán đã từng lên tiếng tố cáo rằng những nhà lãnh đạo đảng Lao Ðộng (tức đảng CS) là "Những con người tiêu máu của dân / Như tiêu giấy bạc giả!" (15)  Trong cuộc chiến 1956-1975, tổng số người Việt Nam ở cả hai phiá bị chết lên đến khoảng 3 triệu người.
Cách thứ nhì:  hàng hóa kinh tế:  Trả nợ bằng xương máu dân tộc chưa đủ, thì CSVN trả nợ bằng nguyên vật liệu và hàng hoá.  Báo chí Việt Nam ngày 21-3-2001 loan tin rằng trong chuyến viếng thăm Việt Nam của tổng thống Nga là Vladimir Putin vào ngày 28-2-2001, Việt Nam cộng sản và Liên Bang Nga (hậu thân của Liên Xô) đã ký thỏa thuận để cho Việt Nam cộng sản tiếp tục trả nợ cho chính phủ Nga bằng hàng hóa và bằng dịch vụ.  Hàng hóa phải hội đủ điều kiện phẩm chất do Nga đưa ra.(16)  Theo tin Việt Báo Online ngày 11-7-2002, thì vào ngày 9-7-2002, tại thủ đô Moscow, đại diện chính phủ Nga và đại diện nhà cầm quyền CSVN đã ký thỏa thuận về việc Việt Nam tiếp tục trả nợ cho Nga.
Về phía CHNDTH, trong một cuộc họp báo tại Bắc Kinh ngày 30-7-1979, một viên chức ngoại giao CHNDTH cho biết từ 1954 đến 1971, 300.000 binh sĩ CHNDTH đã chiến đấu bên cạnh binh sĩ Bắc Việt, trong đó hàng ngàn người đã tử trận và hàng chục ngàn người đã bị thương.  Ông ta còn xác định số lượng vũ khí CHNDTH viện trợ cho cộng sản Việt Nam từ 1950 đến 1977 lên đến 2.000.000 súng hạng nhẹ, 27.000 đại pháo, 270 triệu băng đạn, 18 triệu đạn đại pháo, 179 máy bay và 145 chiến hạm.(17).  Một tài liệu khác cho thấy “năm 1962 Trung Quốc đã giúp riêng cho nhân dân miền Nam [Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam] chín vạn khẩu súng trường và súng máy để phát triển chiến tranh du kích, về sau cuộc đấu ranh cuả nhân dân miền Nam càng phát triển thì số lượng viện trợ cuả Trung Quốc lại càng ngày càng nhiều hơn”.(18) 
  Số nợ nầy đang được cộng sản Hà Nội trả lại dần dần cho Trung Hoa bằng tiền thuế do dân Việt đóng góp, và đáng trách hơn nữa là bằng đất đai do tổ tiên để lại.  
Cách thứ ba: cấn đất tổ tiên:  Trả nợ bằng hàng hóa cũng không hết, thì CSVN dùng đất đai cuả tổ tiên cấn nợ.  Liên Xô cần căn cứ quân sự ở Ðông Nam Á, nên sau hiệp ước Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ tương và Phòng thủ ký ngày 3-11-1978 giữa Lê Duẩn và Leonid Brezhnev, hải quân Liên Xô bắt đầu tiến vào hải cảng Cam Ranh ngày 28-3-1979.(19a)  Ngoài Cam Ranh, Liên Xô còn được quyền dùng hải cảng Ðà Nẵng.(19b)  Cho đến tháng 5-2002, quân đội Nga mới rút lui khỏi Cam Ranh.
Về phiá CHNDTH, theo tiết lộ của ông Vũ Khoan, Bộ trưởng Bộ Thương mại Hà Nội, trong bài viết “Mốc mới trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc”, đăng trên tạp chí Cộng Sản, số Tết Canh Thìn (2000) thì ngay từ 1949, đã có “một số lần ... trao đổi y kiến, đàm phán về vấn đề biên giới.”(20)  
Cuối cùng, sau khi khối Liên Xô sụp đổ, để cầu thân trở lại và để bám giữ quyền lực đảng phái, CSVN phải nhượng bộ CSTH.  Ðảng CSVN và nhà cầm quyền CSVN có gì trong tay để nhượng bộ, ngoài một vấn đề mà từ lâu nay tất cả những nhà cầm quyền Trung Hoa, chứ không riêng gì CSTH, luôn luôn nhắm đến, đó là việc lấn biên, giành đất, giành biển. 
Ngày 30-12-1999, tại Hà Nội, bộ trưởng Ngoại giao CHXHCNVN là Nguyễn Mạnh Cầm và bộ trưởng Ngoại giao CHNDTH là Ðường Gia Truyền (Tang Jianxuan) cùng ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc.  Hiệp ước nầy được quốc hội Bắc Kinh thông qua ngày 29-4-2000 và quốc hội Hà Nội thông qua 9-6-2000.  Ðặc biệt là khi thông qua hiệp ước biên giới nầy, chỉ một số ít lãnh đạo cao cấp trong quốc hội Hà Nội mới đọc được nội dung hiệp ước, còn đại đa số dân biểu không biết gì cả, chỉ thông qua theo lệnh của đảng CSVN.(21)  Nội dung hiệp ước nầy chưa được tiết lộ ra ngoài.
Sau đó, ngày 25-12-2000, tại Bắc Kinh, đại diện hai nước Việt Nam và Trung Hoa (chưa tiết lộ danh tánh) đã ký Hiệp ước phân định lãnh hải, phân chia quyền lợi trên vịnh Bắc Việt, dưới sự chứng kiến của chủ tịch CHXHCNVN là Trần Ðức Lương và chủ tịch CHNDTH là Giang Trạch Dân (Jiang Zemin).  Hiệp ước nầy chưa được đưa ra quốc hội hai nước để thông qua.(Không bàn đến trong bài nầy)
Cả hai hiệp ước nầy rất bí mật, nhưng trước Ðại hội 9 đảng CSVN (từ 19 đến 22-4-2001), ông Ðỗ Việt Sơn, một đảng viên CS lão thành (54 tuổi đảng, 78 tuổi đời), ở số 26/14-125 đường Tô Hiệu, Hải Phòng, đã gởi thư vào tháng 2-2001 công khai đặt vấn đề Việt Nam nhượng bộ quá nhiều cho Trung Quốc trong hai hiệp ước trên, và yêu cầu Quốc hội và Ðại hội 9 đảng CSVN công khai thảo luận vấn đề nầy.  Có thể ông Ðỗ Việt Sơn biết được tin nầy qua những người đi cắm cột mốc để thực thi hiệp ước.  Từ đó người ta mới biết đến hiệp ước và nổ ra phong trào phản đối việc ký kết hiệp ước nầy.
Trước những dư luận càng ngày càng công kích mạnh mẽ, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội kiếm cách biện minh.  Ðảng CSVN đã giao cho ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn đàm phán CSVN về vấn đề biên giới với CSTH, viết bài biện minh.  Tuy đã bào chữa quanh co, cuối cùng CSVN phải công khai thú nhận vùng đất đã làm mất ải Nam Quan.(22)  Ðiều nầy còn có nghĩa là đoạn đường đèo chiến lược Nam Quan, tiền đồn ngăn chặn những cuộc tiến quân cuả Bắc phương cũng đã mất.  
Thời đại ngày nay là thời đại nguyên tử, vũ khí chiến tranh tối tân, hiện đại.  Tuy nhiên, trong những cuộc đụng độ địa phương, và nhất là trong trận địa chiến, địa hình chiến sự vẫn giữ một vai trò quan trọng trong cách bố trí chiến đấu.  Những nhà chuyên môn về quân sự hiện đại cho rằng chỉ cần bố trí một ít quân với trọng pháo yểm trợ ngay tại khúc đèo ải Nam Quan, là có thể gây trở ngại đáng kể các cuộc tiến quân cuả cường địch bắc phương.  Cần chú ý, dường bộ từ tỉnh lỵ Lạng Sơn về tới Hà Nội dài dưới 160 km.  Với phương tiện giao thông đường bộ ngày nay, vượt qua đoạn đường nầy chỉ cần vài giờ đồng hồ.  Nếu chuyển quân với trang bị đầy đủ cũng chẳng tốn nhiều thời gian.  Do đó, vị trí chiến lược ải Nam Quan vô cùng quan trọng cho sự phòng thủ Hà Nội.  Nay nhà cầm quyền Trung Hoa chiếm được đoạn đèo huyết mạch thông thương bắc nam tại vùng nầy, nghĩa là đã loại bỏ được chướng ngại đầu tiên khi xâm nhập nước ta, mà tổ tiên họ đã phải tốn bao nhiêu xương máu mà không chiếm được. 

6.-   NAM QUAN, BẰNG CHỨNG CSVN CẤU KẾT SINH TỬ VỚI NGOẠI BANG

Ðiểm đặc biệt trong sự kiện Nam Quan là sự cấu kết chặt chẻ giữa tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN và đảng CSTH.  Ðảng CSVN dựa vào CSTH để tồn tại.  CSTH là một đảng phái đầy tham vọng bá quyền, dùng CSVN làm công cụ để bành trướng.  Thử nhìn lại lịch sử để thấy rõ điều nầy:
1)  Thứ nhất, trong cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ nhất từ 1946 đến 1954, nếu Mao Trạch Ðông không thành công ở Trung Hoa năm 1949 và nếu không có sự viện trợ to lớn cuả CHNDTH, thì chắc chắn đảng CSVN không thể thành công ở Việt Nam năm 1954.  
2)  Thứ nhì, khi Cộng Sản Bắc Việt phát động chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa năm 1956, nếu 300.000 CSTH không tiến qua bảo vệ miền Bắc, và nếu CHNDTH không làm hậu cứ tiếp liệu chiến trường cho CSVN, thì CSVN không thể cưỡng chiếm miền Nam.  
3) Thứ ba, vào năm 1991, khối Liên Xô và Ðông Âu hoàn toàn sụp đổ.  CSVN sợ sẽ sụp đổ theo, nên quay qua cầu cứu CSTH.  Chính nhờ vào CSTH, CSVN mới đứng vững cho đến ngày nay.  
Nói cách khác, mọi thành công cuả CSVN phần lớn đều do CSTH giúp đỡ.  Do đó, quan hệ giữa CSVN và CSTH không phải là quan hệ “môi hở răng lạnh” như Hồ Chí Minh và Mao Trạch Ðông đã nói, mà là sự cấu kết sinh tử .  Nếu không có CSTH, chắc chắn CSVN không thành công và tồn tại cho đến ngày nay.
Chiêu bài “giải phóng dân tộc” đã được CSVN sử dụng trong chiến tranh 1946-1954, rồi tái sử dụng trong cuộc xâm lăng miền Nam từ 1956 đến 1975.  Ðảng CSVN luôn luôn tuyên truyền giành lấy chính nghĩa, luôn luôn tự hào rằng họ là lực lượng dân tộc tiến bộ yêu nước, và kết tội tất cả những thành phần đối lập từ năm 1945 cho đến nay là Việt gian, phản quốc, tay sai ngoại bang, ngụy quyền, ngụy quân ...  Nay nhà cầm quyền cộng sản CHXHCNVN nhượng đất và nhượng biển, là bằng chứng cụ thể không thể biện minh và không thể chối cãi được tội lỗi phản quốc, phản dân hại nước, mãi quốc cầu vinh của đảng CSVN và nhà cầm quyền CHXHCNVN, vì bất cứ ai có tinh thần dân tộc đều không bao giờ chấp nhận việc tự ý nhượng đất cuả tổ tiên cho ngoại bang.  Ðây là tội lỗi lớn nhất trong lịch sử Việt Nam do tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN thực hiện, lớn hơn tất cả tội lỗi của những tên tuổi đã bị lịch sử lên án phản quốc như Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... 
Vì mối liên hệ sinh tử, đảng CSVN tự ý nhượng cho CSTH, không tham khảo ý kiến cuả Quốc hội, dù là Quốc hội bù nhìn hiện nay ở Hà Nội, và cũng không thông qua một cuộc trưng cầu dân ý.  Lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam là di sản do tổ tiên để lại cho toàn dân Việt Nam, và là tài sản chung của toàn dân Việt Nam, có tính cách thiêng liêng, không ai có quyền phân nhượng cho ngoại bang.
Ðây là bằng chứng cụ thể nhất chế độ hiện nay ở Hà Nội không tôn trọng dân quyền, và một lần nữa chứng tỏ đảng CSVN cai trị đất nước một cách độc tài, độc đoán, xem thường pháp luật.  Ðiều 4 hiến pháp Hà Nội năm 1992 cho phép đảng CSVN đứng trên pháp luật.  Họ xem đất nước là cuả riêng họ.  Việc tranh chấp đất đai, biên giới, biển cả giữa hai nước có thể kéo dài cả hàng chục năm, hay cả hàng trăm năm mà không dễ giải quyết.  Tình trạng bất động (status quo) thường được các nước giữ nguyên trong các cuộc tranh chấp đất đai biên giới, mà nóng bỏng nhất trong tháng 7 nầy là hai nước Tây Ban Nha (Spain) và Morocco đang tranh cãi về một hòn đảo nằm trong vùng biển giữa hai nước. Ðàng nầy nhóm lãnh đạo CSVN hiện nay ký kết hiệp ước nhượng đất nhượng biển một cách nhanh chóng chỉ vì quyền lợi sống còn riêng tư cuả nhóm lãnh đạo cộng sản mà thôi.  
Sự cấu kết sinh tử nầy là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử Việt Nam.  Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có một nhà cầm quyền nào rước ngoại bang về tận thủ đô cuả mình để xin hiến đất như CSVN đã mời CSTH về tận Hà Nội để ký kết hiệp ước trao ải Nam Quan cho Bắc phương.  
Nhà cầm quyền CHXHCNVN hiện nay do đảng CSVN thành lập và điều khiển.  CSVN dựa vào thế lực ngoại bang để chiếm chính quyền.  CSVN đã vi phạm hiệp ước Genève (20-7-1954) và hiệp ước Paris (27-1-1973), cưỡng chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.  CSVN bày ra Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và sử dụng tổ chức nầy tổ chức những cuộc bầu cử thiếu tự do dân chủ, nên nhà cầm quyền CHXHCNVN không thể là đại diện hợp pháp của toàn dân Việt Nam.
CSTH đã cưỡng chiếm đất đai cuả dân tộc Việt Nam bằng phương pháp bành trướng kiểu mới.  Muốn chống kế hoạch “tàm thực” cuả CSTH, người Việt Nam chỉ còn cách duy nhất là phải theo phương lược mà Ðức Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn (1226-1300) đã chỉ ra cách đây hơn 700 năm.  Khi Ngài sắp từ trần năm 1300, vua Trần Anh Tông (trị vì 1293-1313) đến thăm và hỏi rằng: “Thượng phụ [chỉ Ðức Trần Hưng Ðạo] một mai khuất núi, phỏng có quân bắc lại sang thì làm thế nào?” Ngài trả lời rằng: “Ðại để, kẻ kia cậy có tràng [trường] trận, mà ta thì cậy có đoản binh; lấy đoản chống nhau với tràng, phép dùng binh thường vẫn phải  thế.  Còn như khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió như lưả, thế ấy lại dễ chống.  Nếu nó dùng cách ăn dần dà, như tằm ăn lá, thong thả mà không ham cuả dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị, thì ta nên kén dùng người giỏi, liệu xem quyền biến, ví như đánh cờ, phải tuỳ cơ mà ứng biến, dùng binh phải đồng lòng như cha con một nhà, thì mới có thể đánh được.  Cách ấy, cốt phải tự lúc bình thì khoan sức cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả.”(23) [người viết in đậm.]  
Chỉ có theo phương lược nầy mới có thể chống lại chiến thuật xâm lăng vừa quân sự, chính trị và kinh tế cuả CSTH. 

7.-   NAM QUAN VÀ HÀO KHÍ DÂN TỘC 

Trên biên giới Việt Hoa từ tây sang đông, có rất nhiều cưả ải qua lại giữa hai nước Việt Hoa.  Riêng ải Nam Quan chẳng những giữ một vị trí quan trọng trong điạ lý, trong lịch sử, trong bang giao quốc tế, trong văn học, và đặc biệt cả trong tâm khảm cuả người Việt.  Bất cứ người Việt nào cũng đều thuộc nằm lòng câu nói “đất nước Việt Nam trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”.  Ải Nam Quan tượng trưng tinh thần tự chủ, truyền thống bất khuất, và ải Nam Quan là biểu hiện cuả tính tự hào dân tộc cuả một nước Việt Nam độc lập.  
Một thực tế không thể chối cãi là ngày nay ải Nam Quan đã bị cắt ra khỏi bản đồ tổ quốc.  Về mặt tinh thần, việc mất mát nầy là một thiệt thòi to lớn cho dân tộc, và gây một chấn động tâm lý mạnh mẽ nặng nề nơi người Việt ở Việt Nam cũng như ở khắp thế giới.  Mọi người Việt Nam đều cảm thấy tự ái dân tộc vị va chạm nặng nề, và đều cảm thấy uất hận, nhục nhã trước việc làm cuả lãnh đạo đảng CSVN.
Ngay chính những người lãnh đạo đảng CSVN cũng tự cảm thấy nhục, nên họ không dám công bố nội dung hiệp ước đã ký để nhượng ải Nam Quan, cũng không dám tiết lộ danh tánh người đã ký vào văn bản nầy.  Sở dĩ chúng ta biết được ông Nguyễn Mạnh Cầm đã hạ bút ghi vào bản án tử hình Nam Quan, cũng như những hình ảnh cuả buổi lễ ký kết đưa lên interrnet, là do sự tiết lộ một cách vui mừng cuả phiá CSTH.
Nỗi uất hận và nhục nhã về việc làm mất ải Nam Quan đã khiến cho tinh thần dân chúng Việt Nam xuống thấp, và hầu như làm tiêu hao hào khí dân tộc.  Ðây là một điểm quan trọng cần chú ý.  Bất cứ quốc gia nào trên thế giới đều có niềm tự ái riêng và tự hào riêng.  Niềm tự ái và tự hào đó giúp cho mỗi dân tộc tự tin và tự phấn đấu để đưa đất nước cuả mình mỗi ngày mỗi lớn mạnh và phát triển tốt đẹp hơn.
Riêng trong trường hợp Việt Nam, niềm tự ái và tự hào dân tộc còn hết sức quan trọng vì qua bao thăng trầm cuả lịch sử, niềm tự ái và tự hào dân tộc đã nuôi dưỡng người Việt Nam trường kỳ chiến đấu và phấn đấu, vừa để mở nước, vừa xây dựng đất nước, và bảo vệ đất nước.  Chỉ với câu thơ đầy hào khí, Lý Thường Kiệt đã kêu gọi quân dân chận đứng cuộc xâm lăng cuả quân Tống vào đầu năm 1077: “Nam đế sơn hà nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” (Hoàng Xuân Hãn dịch: Sông núi nước Nam vua Nam coi/Rành rành phân định ở sách trời/Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/Bay sẽ tan tành chết sạch toi.)
Niềm tự hào dân tộc và lòng yêu nước đã đưa người Việt Nam đến bến bờ vinh quang, là nước duy nhất trên thế giới đã đẩy lui ba cuộc xâm lăng cuả quân Mông Cổ vào thế kỷ 13, cũng là nước duy nhất chận đứng âm mưu tiến xuống Ðông Nam Á cuả nhà Minh vào thế kỷ 15, trong khi nhà Minh có một hạm đội mạnh mẽ do Trịnh Hòa chỉ huy, đã từng đến tận phiá đông Phi Châu.  Cũng niềm tự hào dân tộc đã dẫn dắt hoàng đế Quang Trung cùng toàn dân toàn quân đánh bại một cách chớp nhoáng quân xâm lược Mãn Thanh vào năm 1789.
Sau chiến tranh Việt Nam năm 1975, người Hoa Kỳ không mất một tấc đất nào, mà cái gọi là “hội chứng Việt Nam” cũng làm cho người Hoa Kỳ khó chịu một thời gian cho đến khi họ nhận chân được sự thật cuả cuộc chiến và nhất là bộ mặt thật cuả chế độ Hà Nội, thì dư luận Hoa Kỳ mới lắng dịu trở lại.  Người Việt Nam luôn luôn tự hào về truyền thống bất khuất cuả mình.  Từ sau năm 1975, trong khi các nước chung quanh tiến bộ vượt bậc thì nước Việt Nam lại tụt hậu dưới sự cai trị cuả đảng CSVN.  Ðiều nầy đã làm cho nhiều người Việt Nam cảm thấy đau buồn.  Nay sự kiện ải Nam Quan như một cái tát nẩy lửa khiến ai cũng cảm thấy uất hận, nhục nhã, và nhức nhối trong tận đáy lòng.  Nếu người Việt Nam không tự mình tranh đấu để khắc phục niềm tự hào dân tộc, thì nỗi nhục ngập đầu nầy sẽ dìm dân tộc Việt Nam xuống tận cùng hố thẳm mà khó có ngày vượt lên trở lại được, vì một dân tộc không biết tự ái, một dân tộc không biết tự hào là một dân tộc thiếu sinh khí, sẽ đi đến chỗ diệt vong.
Do đó, bất cứ người Việt Nam nào, hay bất cứ một đảng phái Việt Nam nào, muốn chứng tỏ mình thực sự là người Việt Nam, tự hào về nguồn gốc cuả mình, đều phải tranh đấu đòi lại ải Nam Quan, nhắm xoá đi nỗi hận và nhất là nỗi nhục Nam Quan.  

8.-  NAM QUAN KÊU GỌI TỰ LỰC VÀ ÐOÀN KẾT CHỐNG TẬP ÐOÀN BÁN NƯỚC

Sau sự sụp đổ cuả Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, sự kiện ải Nam Quan năm 1999õ cho chúng ta thêm một thí dụ điển hình trong bang giao quốc tế:  Ðó là dù Quốc tế tư bản hay Quốc tế cộng sản, tất cả mọi quốc gia trên thế giới đều hành động vì quyền lợi cuả riêng mình.  Mọi sự viện trợ  đều có điều kiện đi kèm, và hoàn toàn không có vấn đề cho không, biếu không, hay giúp đỡ vô vị lợi.  Do đó, muốn tranh đấu đòi hỏi ải Nam Quan tái hồi tổ quốc, tranh đấu giải thể chế độ cộng sản tại Việt Nam, chúng ta cần chú ý đến khiá cạnh quan trọng nầy, để tránh bị lệ thuộc quá nhiều vào chính sách cuả ngoại bang, dù đó là những ngoại bang thân hữu như  Hoa Kỳ với Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975.
Về việc giải thể chế độ cộng sản tại Việt Nam, đã có nhiều chính trị gia đưa ra những giải pháp chính trị.  Riêng về mặt sử học, kinh nghiệm cho thấy rằng: 
1)  Thứ nhất, bất cứ một chế độ nào đi ngược với lòng dân đều bị sa thải, dù đó là chế độ hết sức tàn bạo như Quốc-xã ở Ðức, Phát-xít ở Ý, Cộng sản ở Liên Xô và Ðông Âu.
2)  Thứ nhì ,những chế độ càng đi ngược với lòng dân, thì những nhà lãnh đạo càng bám giữ lấy quyền hành, vì họ không có đường rút lui, và họ biết rằng nếu mất quyền, họ sẽ bị truy tố trước pháp luật, nên họ không bao giờ chịu nhượng bộ dễ dàng được.
Về phiá CHNDTH, sau khi chiếm ải Nam Quan, lủng đoạn nhà cầm quyền CSVN, CHNDTH đang muốn kiếm đường xuống Ðông Nam Á và tiến ra làm chủ Biển Ðông, mà ai cũng biết rất giàu tài nguyên dưới lòng đất.  CHNDTH không ồ ạt như nhà Nguyên hay nhà Minh, mà tiệm tiến bành trướng theo kiểu “tàm thực”, một chiến thuật xâm lăng kiểu mới tuy ít ồn ào nhưng rất nguy hiểm.  
Giấc mộng cuả CHNDTH ngày nay chẳng phải là ác mộng cuả riêng Việt Nam, mà là ác mộng cuả cả các nước Ðông Nam Á và thế giới.  Rồi đây, các nước Ðông Nam Á, và cả các nước Ðông Bắc Á như Nhật Bản, Cộng Hòa Triều Tiên (tức Nam Hàn), sẽ liên kết với Hoa Kỳ để chận đứng tham vọng cuả CHNDTH, như Âu Châu và Hoa Kỳ đã từng chận đứng tham vọng cuả Liên Xô ngày trước tại Ðông Âu. 
Từ giữa thập niên 70, Hoa Kỳ chẳng những rút ra quân khỏi Việt Nam mà còn ra khỏi Phi Luật Tân và một số căn cứ ở Thái Lan.  Lúc đó CSQT thắng thế ở nhiều nơi, nhất là ở Afghanistan.  Có ai dám tiên đoán hơn 15 năm sau, Hoa Kỳ đã thành công rực rỡ và Liên Xô cũng như các nước Ðông Âu hoàn toàn sụp đổ? 
 Trong tình hình thế giới đầy dao động như ngày hôm nay, ai có thể dám bảo đảm khoảng 15 năm sau sự kiện ải Nam Quan, CHNDTH và liên minh ma quỷ giữa CSVN và CSTH sẽ còn đứng vững?  Khi liên minh nầy không còn đứng vững, đó là cơ hội để giải quyết tất cả những khó khăn hiện thời cuả chúng ta.  
Tuy nhiên, người Việt Nam không thể ngồi chờ “sung rụng”, mà chúng ta phải kiên trì giữ vững ý chí tranh đấu cuả chúng ta.  Nhà Lê bị nhà Mạc đảo chánh lật đổ và rời khỏi Thăng Long năm 1527.  Năm 1593, con cháu vua Lê mới trở về Thăng Long, như thế phải mất 66 năm.  Năm 1775, Nguyễn Phúc Ánh mới 13 tuổi rời Phú Xuân vào Sài Côn, rồi chạy ra các đảo, qua Thái Lan tỵ nạn.  Năm 1802, tức 27 năm sau, ông trở về lên ngôi vua tại Phú Xuân.  Năm 1874, 6 tỉnh Nam Kỳ bị tách ra khỏi Việt Nam, cho đến năm 1949, nghĩa là 75 năm sau mới được quy hoàn trở lại.   
Tóm lại, chuyện ải Nam Quan đã mất là một tin buồn cho đất nước.  Người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước phải phản ứng một cách tích cực và mạnh mẽ, cùng nhau xây dựng thế liên minh chống lại chế độ độc tài trong nước.  Ðây là thông điệp quan trọng nhất mà sự kiện ải Nam Quan gởi đến đến toàn thể dân chúng Việt Nam, nhất là đồng bào ở hải ngoại.  Chỉ có sự đoàn kết là con đường đưa chúng ta trở về Việt Nam và đòi lại ải Nam Quan.  
Người Việt Nam ở ngoài cũng như ở trong nước hãy dẹp qua những khác biệt nhỏ nhặt, để cùng nhau huy động mọi tầng lớp dân chúng đoàn kết với nhau, đứng lên giải thể chế độ ngụy quyền cộng sản, giành lại tự do dân chủ.  Chỉ khi nào chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam bị giải thể và thay thế bằng một chính quyền tự do dân chủ, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, mới có thể tạo sức mạnh dân tộc tổng lực, đểå đấu tranh đòi lại ải Nam Quan.  
Hiện nay, chế độ cộng sản độc tài có thể tạm thời xô đẩy chúng ta xa rời tổ quốc, nhưng chắn chắn chế độ nầy không thể ngăn trở chúng ta tái hồi tổ quốc.  Chúng ta là những đoá hoa hướng dương luôn luôn hướng về ánh mặt trời rực rỡ cuả tổ quốc Việt Nam.  Luôn luôn hướng về Việt Nam, chắc chắn chúng ta sẽ tái hồi Việt Nam, giải thể chế độ cộng sản độc tài.  Khi đó, chúng ta sẽ thâu hồi ải Nam Quan trở về với tổ quốc thiêng liêng ngàn đời yêu quý.
TRẦN GIA PHỤNG
CHÚ  THÍCH:

1. *  J. F. M. Genibrel, Tự điển Việt Pháp - Dictionnaire Vietnamien-Français, Deuxième Édition, Saigon, Imprimerie de la Mission à Tân Ðịnh 1898, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, chụp in lại, tr. 3: “Ải: Endroit étroit, Défilé, Frontière.” và “Ải quan: Défilé des frontières, Frontière.”  
*   Lê Ngọc Trụ, Việt-ngữ chánh-tả tự-vị, Nxb. Thanh Tân, Sài Gòn, 1959, tr. 2: “Ải: chỗ đất hiểm, hẹp nhỏ; chỗ giáp hai ngọn núi hoặc hai nước.”
*   Hoàng Phê (chủ biên) và một số tác giả, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội 1988 tr. 19: “Ải: Chỗ qua lại hẹp và hiểm trở ở biên giới hoặc trên đường tiến vào một nước.”
2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch Nxb. Văn Sử Ðịa, Hà Nội 1957, tr. 741.
3. Nguyễn Văn Siêu, Phương Ðình dư điạ chí, bản dịch cuả Ngô Mạnh Nghinh, Nxb. Tự Do, Sài Gòn, 1960, tt. 268-269.  Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), tự Tốn Ban, hiệu Phương Ðình, người thôn Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, đỗ cử nhân trường thi Thăng Long năm 1825, đỗ phó bảng tại kinh đô Huế năm 1838, làm quan đến chức án sát, rồi cáo quan về quê dạy học.  Nguyễn Văn Siêu được vua Tự Ðức (trị vì 1847-1883) cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Hoa) năm 1849.  Sau khi đi sứ trở về, Nguyễn Văn Siêu ghi lại toàn cảnh Nam Quan và bài văn bia cuả đốc trấn Nguyễn Trọng Ðang trong sách Phương Ðình dư điạ chí (có sách viết là Phương Ðình điạ loại chí).  Phương Ðình dư điạ chí được đề tưạ vào năm 1865, gồm 5 quyển.  [Dịch giả Ngô Mạnh Nghinh, sinh năm 1893, đỗ cử nhân Nho học năm 1915, cùng khoa với hai em là Ngô Trọng Nhạ (sinh 1897) và Ngô Thúc Ðịch (sinh năm 1900).  Về sau, ông Ngô Mạnh Nghinh đã dạy Hán văn ở Ðại học Văn khoa Sài Gòn từ 1954 đến 1960.] 
4. Ðại Nam nhất thống chí, viết tắt ÐNNTC, Phạm Trọng Ðiềm dịch, Ðào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 1997, tập 4, tt. 384. Ðại Nam nhất thống chí có hai bộ: bộ thứ nhất soạn dưới thời vua Tự Ðức; bộ thứ nhì soạn dưới đời vua Duy Tân (trị vì 1907-1916).  Bộ thứ nhì được khắc in năm 1909, chỉ viết về các tỉnh Trung Kỳ nên thiếu sót, xin không nói đến ở đây.Bộ Ðại Nam Nhất thống chí thứ nhất do Quốc sử quán triều Nguyễn bắt đầu soạn năm 1865, và xong năm 1882, tức hoàn toàn dưới triều đại vua Tự Ðức, và bộ nầy được soạn sau bộ Phương Ðình dư điạ chí.  Bộ nầy có hai bản dịch:  Bản dịch cuả Văn Hoá Tùng Thư, thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục (Việt Nam Cộng Hoà), xuất bản ở Sài Gòn các năm 1964-1965.  Bản dịch khác cuả Viện Sử học Hà Nội vào đầu thập niên 70, mới được Nxb Thuận Hoá, Huế tái bản.
5. Cảnh Hưng: niên hiệu duy nhất của vua Lê Hiển Tông (trị vì 1740-1786).
6. ÐNNTC, sđd. tr. 385.
7. William J. Duiker, Ho Chi Minh, Nxb. Hyperion, New York, 2000, tr 500.
8. Chính Ðạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Nxb. Văn Hoá, Houston, 2000, tt. 152, 180.
9. Nguyên văn bằng Pháp ngữ: “Lors de la construction, par l'aide chinoise, d'ouvrages “d'amitié” en territoire vietnamien, la partie chinoise aurait, dit aujourd'hui Hanoi, profité de ces travaux pour repousser plus au sud la ligne frontière.  Ainsi par example, lors de la restauration de la voie ferrée de Yên-viên à Ðồng-đăng, le point de jonction de la voie chinoise et de la voie vietnamienne aurait été reporté  à 300 mètres à l'intérieur du territoire vietnamien; les Chinois déclarant que ce point de jonction marquait la frontière.”
10. COMECON: Council for Mutual Economic Assistance tức Hội đồng Tương trợ Kinh tế được thành lập năm 1949 tại Moscow, gồm Liên Xô và các nước cộng sản chư hầu.  Khối kinh tế nầy sụp đổ năm 1990 cùng với sự sụp đổ của các nước cộng sản Ðông Âu.
11. Bùi Xuân Quang, La troisième guerre d'Indochine 1975-1999: Sécurité et géopolitique en Asie du Sud-Est, Nxb. L'Harmattan, Paris, 2000, tr 308-309 (11a), 279-285 (11b), 429 (11c).
12. Ngoài ra, khi còn ở trong nước, người viết nghe kể người cộng sản Trung Hoa mua những sản phẩm đặc biệt: Ví dụ mua móng trâu.  Con trâu bị cắt móng thì làm sao kéo cày được?  Ví dụ thứ nhì: mua rắn và cổ võ phong trào ăn thịt rắn, uống máu rắn.  Rắn ăn chuột và bắt sâu bọ.  Diệt hết rắn thì chuột và sâu bọ hoành hành, phá hại mùa màng.  Ngoài ra, người ta đồn rằng người CSTH in các loại bạc giả để mua vàng cuả Việt Nam đem về nước.
13. Bùi Xuân Quang, sđd. tt. 772, 774.
14. Vũ Thư Hiên, Ðêm giữa ban ngày (hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422, phần chú thích.) 
15. Phùng Quán, “Chống tham ô lãng phí”, Giai phẩm mùa Thu, tập II, tháng 10-1956; đăng lại trong Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa, Sài Gòn, 1959, tr. 119.
16. Viet Báo Online, 22-3-2001,http://www.vietbao.com/tinvietnam/tin vietnam_1.html.
17. Jacques Massu, Jean-Julien Fonde, L'aventure Viêt-Minh, Nxb. Plon, Paris, 1980, tr. 293, phần chú thích.
18. Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, hồi ký viết lời tựa tại Bắc Kinh năm 1986, nhóm “Tìm hiểu lịch sử, Portland”, Oregon, xuất bản, 1991, tr. 389.
19. Bùi Xuân Quang, sđd. tt. 717 (21a), 353 (21b).
20. Bài của ông Vũ Khoan được ông Ngô Nhân Dụng trích dẫn trong bài bình luận “Mốc Mới”, nhật báo Người Việt Online, California, ngày 27-01-2002.
21. Nguyễn Thanh Giang trả lời phỏng vấn ngày 24-2-2002 của Ðài Phát thanh Little Sài Gòn, Orange County, California.  Người Việt Online, ngày 25-1-2002, mục “Tin Việt Nam”.
22. Trong tài liệu tuyên truyền được Hà Nội đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế (internet), viết dưới hình thức phỏng vấn, do Công Ty Phát Triển Phần Mềm (VASC-Orient) thực hiện ở Hà Nội ngày 28-1-2002, thứ trưởng Ngoại giao CSVN, ông Lê Công Phụng, trưởng đoàn Việt Nam trong cuộc thương thuyết biên giới Việt Hoa, đã viết: “Cho nên hiện nay chúng ta công nhận mục Nam Quan là cuả Trung Quốc, cách cột mốc số 0 trên 200 m.  Tính cột mốc số không về phía Nam là lãnh thổ của Việt Nam.  Từ cột mốc số 0 về phía bắc là cuả Trung quốc.”( Bài phỏng vấn ông Lê Công Phụng ngày 28-1-2002 cuả đại diện Công Ty Phát Triển Phần Mềm (VASC Orient) thực hiện ở Hà Nội được đưa lên internet theo địa chỉ vnn.vn/pls/news/VASC_Orient. Trong Diễn đàn Dân Chủ Forum, http://danchu.net, có đăng lại bài phỏng vấn nầy.)  Một điểm cần chú ý là ông Lê Công Phụng gọi là “cột mốc số 0” là cột nào?  Do ai dựng nên?  Ðó là cột cây số 0 nguyên thuỷ thời Pháp thuộc, hay cột cây số đã dời sau chiến tranh năm 1979?  Hay là cột cây số 0 mới được dựng sau năm 2000?  Việc ông Lê Công Phụng nói rằng CHXHCNVN chỉ lùi biên giới lại có 200 mét còn cần phải kiểm chứng tiếp, vì cho đến nay chưa ai biết cụ thể đầy đủ nội dung hiệp ước ngày 30-12-1999.  Nếu đúng chỉ có 200 mét như ông Lê Công Phụng tuyên bố, thì tốt nhất nhà cầm quyền CHXHCNVN nên công khai bản hiệp ước, và để cho dân chúng, phóng viên báo chí, quốc nội cũng như quốc tế, tự do lên thăm viếng biên giới, chụp hình, quay phim hiện trường, để kiểm chứng thực tế chứ cần gì phải giấu diếm?  Tại sao CSVN lo sợ đến nỗi nhà thơ Bùi Minh Quốc lên thăm biên giới về liền ra lệnh bắt giữ?
23. Ngô Sĩ Liên, Ðại Việt sử ký toàn thư, bản dịch cuả Nxb. Khoa học Xã hội Hà Nội, 1993, tập 2, tr. 79.